CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU. Hệ thống khái niệm có liên quan. Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu. Quan điểm của Đảng và Nhà nước, các quy định về pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Mô tả mẫu nghiên cứu .31 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu. Thực trạng nhận thức của sinh viên Học viện Báo chí - Tuyên truyền về quấy rối tình dục trên không gian mạng trong giai đoạn hiện nay. 36 CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Hình thức tuyên truyền .62 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .75 BẢNG ĐÁNH GIÁ .113 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Bảng thống kê về tuổi sinh viên tham gia trả lời phỏng vấn………33 Bảng 2.2: Bảng khảo sát về giới tính sinh viên tham gia trả lời phỏng vấn….3: Bảng khảo sát về khối ngành của sinh viên tham gia trả lời phỏng vấn…………………………………………………………………………….1: Sinh viên đánh giá tần suất thấy những bài viết có chứa hành vi quấy rối tình dục trên không gian mạng.3: Tương quan giữa năm học với việc nhận diện đúng hành vi quấy rối tình dục trên không gian mạng ……………………………………………….6: Sinh viên đánh giá tần suất thấy những bài viết có chứa hành vi quấy rối tình dục trên không gian mạng.Tương quan giữa khối ngành với việc nhận biết đúng hành vi quấy rối tình dục trên không gian mạng ….8: Đánh giá mức độ hiệu quả của các hình thức tuyên truyền về vấn đề quấy rối tình dục trên không gian mạng………………………………………64 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2. Sinh viên định nghĩa về hành vi quấy rối tình dục trên không gian mạng ……………………………………………………………………….5: Nhận thức của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền về định nghĩa quấy rối tình dục trên không gian mạng ……………………….6: Nhận định của sinh viên Học viện Báo chí - Tuyên truyền về nguyên nhân dẫn đến quấy rối tình dục trên không gian mạng ……….7: Sinh viên Học viện Báo chí - Tuyên truyền đánh giá về mức độ nghiêm trọng của quấy rối tình dục trên không gian mạng………….8: Nhận định của sinh viên Học viện Báo chí - Tuyên truyền về ảnh hưởng của quấy rối tình dục trên không gian mạng tới nạn nhân……….9: Nhận thức về ảnh hưởng của quấy rối tình dục trên không gian mạng tới xã hội của sinh viên Học viện Báo chí - Tuyên truyền…………….10: Ý kiến của sinh viên Học viện Báo chí - Tuyên truyền về giải pháp phòng tránh quấy rối tình dục trên không gian mạng………………….2: Tỉ lệ sinh viên K38-K41 trả lời đúng định nghĩa quấy rối tình dục trên không gian mạng…………………………………………………………51 Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ sinh viên K38-K41 trả lời đúng 6/6 câu hỏi nhận diện hành vi quấy rối tình dục trên không gian mạng………………………………………53 Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ sinh viên K38-K41 trả lời đúng từ 2/3 và 3/3 câu hỏi về mức xử phạt hành vi quấy rối tình dục…………………………………………….7: Sinh viên trả lời đúng về định nghĩa quấy rối tình dục trên không gian mạng……………………………………………………………………. Tính cấp thiết Trong cuộc sống hiện nay, Internet đã trở nên quá quen thuộc và trở thành một phần quan trọng đối với con người. Ở thời điểm hiện tại, hầu như ai cũng sở hữu ít nhất một thiết bị thông minh có thể kết nối Internet.
Nhờ đó con người có thể dễ dàng trò chuyện, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, cảm xúc của mình tới mọi người thông qua các diễn đàn, blog cá nhân, mạng xã hội,. Sự phát triển quá nhanh và mạnh mẽ của các nền tảng kỹ thuật số, mạng xã hội đã làm phát sinh một số vấn đề tiêu cực, điển hình là quấy rối tình dục trên không gian mạng. Quấy rối tình dục qua không gian mạng là hành vi quấy rối tình dục thông qua việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số. Nó có thể diễn ra trên phương tiện mạng xã hội, nền tảng nhắn tin, nền tảng chơi game và điện thoại di động.
Những hành vi quấy rối tình dục này gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe tinh thần của nạn nhân, khiến nạn nhân gia tăng cảm xúc tiêu cực, lo lắng bất an và có thể dẫn đến trầm cảm, thậm chí tự tử. Điều khiến quấy rối tình dục với qua mạng trở nên khác biệt với quấy rối tình dục trực diện là đôi khi bạn sẽ không biết đối tượng đang quấy rối là ai bởi họ có thể tự ẩn danh trên không gian mạng. Bất cứ ai dù là nữ giới hay nam giới đều có thể trở thành nạn nhân hoặc thủ phạm quấy rối tình dục. Trong những năm gần đây, không chỉ trên thế giới mà tại Việt Nam, quấy rối tình dục qua không gian mạng đã trở thành mối quan tâm của nhiều tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu.
Tổ chức Plan International đấu tranh vì quyền lợi của trẻ em gái đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 14.000 thiếu nữ và phụ nữ trẻ độ tuổi từ 15-25 tuổi tại 22 quốc gia, trong đó có Brazil, Ấn Độ, Nigeria, Tây Ban Nha, Thái Lan, Mỹ. Kết quả khảo sát cho thấy cứ 5 thiếu nữ và phụ nữ trẻ thì có 1 người từ bỏ hoặc ngừng sử dụng một nền tảng truyền thông xã hội sau khi bị quấy rối, trong đó một số người cho biết bị quấy rối từ khi mới 8 tuổi. 1 Theo khảo sát, các vụ tấn công phổ biến nhất là trên Facebook với 39% thiếu nữ được hỏi cho biết đã bị quấy rối, tiếp đến là Instagram (23%), WhatsApp (14%), Snapchat (10%), Twitter (9%) và TikTok (6%). Gần 50% thiếu nữ cho biết họ bị đe dọa bạo lực thể chất hoặc tình dục.
Tình trạng quấy rối tình dục qua không gian mạng có sự khác nhau về mức độ, tính chất, cách thức biểu hiện cũng như nhận thức khác nhau khi đánh giá giữa các nhóm xã hội. Số liệu thống kê của Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy tình trạng quấy rối tình dục trên không gian mạng có xu hướng gia tăng, nguy hiểm hơn và ngày càng biểu hiện tinh vi, phức tạp hơn. Khảo sát của tiến sĩ Hoàng Tuấn Ngọc, Đại học Sư phạm TP HCM, với học sinh trung học cơ sở cho thấy có 7 nhóm vấn đề lớn mà học sinh gặp phải, đứng đầu là xâm hại trên môi trường mạng. Hơn 30% số học sinh cho biết đã và đang gặp phải tình trạng này.
Theo báo cáo của Đường dây nóng Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111, từ tháng 5 đến tháng 8/2021, trung bình mỗi tháng tiếp nhận khoảng 600 ca xâm hại và bạo lực, tăng gần 1,5 lần so với 3 tháng đầu năm. Năm 2020, số cuộc gọi tư vấn chuyên sâu ở nội dung xâm hại, bạo lực chiếm hơn 47%, tăng 7,2% so với năm 2019. Các nạn nhân hiếm khi chia sẻ về việc bị quấy rối tình dục và né tránh vấn đề. Những con số nêu trên cho thấy hành vi quấy rối tình dục qua mạng đang dần trở nên phổ biến và để lại những hậu quả mà nó gây ra không kém so với quấy rối tình dục trực diện.
Với tư cách là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, sinh viên là đối tượng nhạy bén, tiếp thu một cách nhanh chóng các tư tưởng tiến bộ và có khả năng tạo ra sức lan tỏa lớn. Hơn nữa, khi sinh viên chiếm số lượng đông đảo trong kết cấu dân số thì làm tốt việc định hướng nhận thức sinh viên quấy rối tình dục qua mạng càng phải được chú trọng. Đặc biệt, với đối tượng sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền - những người sau này sẽ công tác tại các cơ quan báo chí, truyền thông thì việc nhận thức về quấy rối tình dục qua mạng càng trở nên quan trọng và hết sức cần thiết. 2 Nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối với vấn đề này nhằm nâng cao vai trò của sinh viên trong việc đẩy lùi hành vi quấy rối tình dục qua mạng, thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo hướng công bằng, dân chủ, văn minh như Đảng Cộng sản Việt Nam xác định.
Với ý nghĩa đó, nhóm chúng tôi lựa chọn vấn đề "Nhận thức của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền về quấy rối tình dục trên không gian mạng trong giai đoạn hiện nay" làm đề tài bài tập lớn kết thúc học phần Công chúng báo chí - truyền thông của mình. Tổng thuật tài liệu 2.1 Lý thuyết Có rất nhiều những tài liệu, sách đã đề cập rõ ràng về những khái niệm xoay quanh chủ đề: “Nhận thức về hành vi quấy rối tình dục trên không gian mạng” mà nhóm đang tiến hành nghiên cứu: - Trong cuốn sách chuyên khảo “Công chúng báo chí”, TS Lê Thu Hà đã đưa ra khái niệm về công chúng báo chí: “ Công chúng báo chí là đối tượng mà báo chí (bao gồm báo in, phát thành, truyền hình, báo mạng điện tử, báo chí di động) hướng vào để tác động, nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình. Đồng thời, công chúng còn tương tác trở lại, tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm – phát tán thông tin, giám sát, quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra khái niệm khái quát nhất về nhu cầu: “ Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. - Với một cái nhìn toàn diện và cụ thể về khái niệm nhu cầu, TS. Phạm Thị Thanh Tịnh trong cuốn “Công chúng báo chí” cũng đã đề cập đến khái niệm nhu cầu trên nhiều góc độ, quan điểm khác nhau: “Nhu cầu là những 3 đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của từng nhóm xã hội khác nhau hay của toàn bộ xã hội muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển” ; “Nhu cầu là sự cần đến hay sự thiếu một cái gì đó cần thiết tột tập đoàn xã hội, của toàn bộ xã hội” [11; Tr. - Theo Wikipedia - Bách khoa toàn thư mở: Nhận thức (tiếng Anh: cognition) là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui trình như là tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ.