đặt vấn đề nhận thức nghề nghiệp trong mối quan hệ với định hướng, lựa chọn nghề hay hứng thú nghề nghiệp của người học 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong hơn 3 thập niên trở lại đây, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu thực tiễn giới thiệu về thế giới nghề nghiệp, những yêu cầu của nghề nghiệp với sự phù hợp tâm lý cá nhân, làm cơ sở cho mỗi người lựa chọn, quyết định trước khi bước vào học một nghề nào đó như: “Phụ nữ và nghề nghiệp” (1978); “Nghề em yêu thích” (1985) của Phạm Tất Dong; “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên” (2005) của Nguyễn Hữu Dũng; “Tuổi trẻ và nghề nghiệp” (2007)- Tủ sách hướng nghiệp nhất nghệ tinh của Nhà xuất bản Kim Đồng do Nguyễn Thắng Vu, Phạm Quang Vinh chủ biên. Khi nền kinh tế mở cửa cho nhiều thành phần kinh tế tham gia, thanh niên có nhiều cơ hội để chọn cho mình một nghề nghiệp ổn định và phù hợp. Lúc này xuất hiện nhiều nghiên cứu về vấn đề nghề nghiệp. Nhận thức nghề nghiệp và hoạt động chọn nghề cho học sinh là một trong những hướng nghiên cứu được nhiều tác giả nghiên cứu Tiêu biểu là Giáo sư Nguyễn Quang Uẩn, trong các nghiên cứu về vấn đề nghề nghiệp ông đã nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố nhận thức nghề nghiệp, từ đó hình thành xu hướng nghề nghiệp, nảy sinh những tình cảm yêu- ghét với các ngành nghề.
Ông cho rằng, nhận thức về nghề của người học còn yếu, hứng thú nghề nghiệp hình thành muộn chưa tập trung và rõ nét. Trong những nghiên cứu này tác giả cũng đã chỉ ra một số nguyên nhân có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình nhận thức nghề của học sinh Cũng theo hướng nghiên cứu này, khi đề cập đến đặc điểm nhận thức nghề nghiệp lựa chọn của học sinh, tác giả Phan Tố Oanh (1986) trong “Nhận thức nghề và dự định chọn nghề của học sinh PTTH”, luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội đã đưa ra những đặc trưng cơ bản trong nhận thức về nghề của học sinh là : “Những hiểu biết của các học sinh về nghề chỉ dừng lại ở những hiểu biết bên ngoài, không bản chất của nghề, phần lớn học sinh chưa có hiểu biết sâu sắc về những đặc trưng của nghề và quan trọng hơn cả là học sinh chưa biết cách so sánh, đối chiếu để tìm ra sự phù hợp giữa những đặc điểm bản thân với yêu cầu của nghề nghiệp” Tác giả Lê Khắc Thìn (1996) trong nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng lựa chọn nghề nghề của học sinh lớp 12 và công tác hướng nghiệp ở trường PTTH” đã đưa ra nhận xét: “Nhận thức về nghề của học sinh mới chỉ dừng lại ở biểu hiện bề ngoài của nghề, chưa đi tìm hiểu những đặc trưng của nghề. Sự hiểu biết của các em mang tính chất cảm tính…” 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Anh (2006) “Xu hướng nghề nghiệp của sinh viên ngành văn hóa thông tin trong quá trình đào tạo tại các trường cao đẳng, đại học ở Thành Phố Hồ Chí Minh”, viện KHGD, Hà Nội là một trong những nghiên cứu hiếm hoi tiếp cận dưới góc độ của người đã lựa chọn nghề. Tác giả cho rằng: “Ngay cả sinh viên, những người đã lựa chọn nghề nghiệp nhưng nhận thức của họ về nghề lựa chọn vẫn chưa đầy đủ.
Sự định hướng giá trị nghề còn lệch lạc, sự phù hợp về phẩm chất tâm lý với nghề chưa cao” Nói về những thông tin cung cấp cho học sinh, thanh niên về các loại nghề trong xã hội, Tủ sách hướng nghiệp nhất nghệ tinh của Nhà xuất bản Kim Đồng có nhiều loại sách giới thiệu về các nghành nghề khác nhau. Trong đó cuốn “Nghề bộ đội” giới thiệu cho người đọc về những đặc thù, chức năng, yêu cầu, nhiệm vụ và những giá trị xã hội của nghề bộ đội. Bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp cho người đọc hiểu rõ từng chức năng nhiệm vụ cụ thể của các lực lượng quân, binh chủng khác nhau trong đó có Bộ đội Biên phòng. Trong lĩnh vực quân đội, trong những năm vừa qua có nhiều đề tài khoa học, công trình nghiên cứu ở các cấp khác nhau nghiên cứu về lĩnh vực quân đội nói chung, nghề nghiệp quân sự nói riêng.
Nhưng các nghiên cứu bao giờ cũng gắn với một chuyên ngành đào tạo nhất định, với một loại hình cán bộ nhất định, như: “Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam ” (1999) do PGS, TS Đinh Xuân Dũng làm chủ nhiệm; “Định hướng giá trị nhân cách đội ngũ sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam” (2002) do PGS, TS Lại Ngọc Hải làm chủ nhiệm; báo cáo khoa học “định hướng giá trị nghề nghiệp cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội – bậc đại học ở học viện hậu cần hiện nay” (2008) do Th.s, đại tá Nguyễn Thanh Phong, Học Viên Hậu cần chủ biên Dễ dàng nhận thấy vấn đề nghề nghiệp nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, tuy nhiên các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam thường tập trung vào một số vấn đề quen thuộc như xu hướng, hứng thú, động cơ, định hướng giá trị nghề của học sinh. Trong khi đó những nghiên cứu về nhận thức của sinh viên được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề ít được đề cập một cách đầy đủ, sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy qua đề tài này, chúng tôi muốn khảo sát thực trạng nhận thức về nghề nghiệp của học viên đang học tại Học viện Biên phòng, để từ đó đề xuất 1 số giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về nghề sĩ quan Biên phòng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cơ sở lý luận nhận thức về nghề sĩ quan biên phòng 1.
Một số khái niêm cơ bản 1.1 Khái niệm nhận thức a, Định nghĩa nhận thức Nhận thức là một trong những vấn đề lý luận cơ bản của những ngành khoa học nghiên cứu về con người trong đó có triết học và tâm lý học. Theo từ điển tiếng Việt-1992: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó” [21, tr.689] Theo quan điểm của tâm lý học Mác - xít thì nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người bên cạnh tình cảm và hoạt động. Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Một đời sống tâm lý được coi là cân bằng khi có sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm và hoạt động.
Quá thiên về lý trí sẽ trở thành con người khô khan, thiếu đi sức mạnh thúc đẩy của động cơ tình cảm, còn nếu quá thiên về tình cảm dễ không sáng suốt, dễ xa rời quy luật khách quan, hành động tự phát theo những cảm xúc chủ quan duy ý chí. Vì vậy hành động cũng phải dựa trên nhận thức quy luật khách quan, nếu không là hành động theo ý chí mù quáng.Platonốp - nhà tâm lý học Xô Viết định nghĩa : Nhận thức là quá trình thu nhận tri thức chân thực trong thế giới khách quan, trong qúa trình hoạt động thực tiễn xã hội. Như vậy nhờ hoạt động nhận thức, con người không chỉ phản ánh được hiện thực xung quanh mà còn nhận thức bản thân mình nữa, không chỉ phản ánh cái bên ngoài mà còn phản ánh cả cái bản chất bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã qua và cái sẽ tới các quy luật phát triển của hiện thực nữa. Lê Nin đã tổng kết quy luật của hoạt động nhận thức nói chung như sau : “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan” Tâm lý học xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người.
Nhận thức có mối quan hệ với thái độ và hành vi. Trong đó nhận thức là cơ sở của thái độ và hành vi. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người. Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức- phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình” [46, tr.88] Tóm lại từ các quan điểm nhận thức như trên chúng ta có thể tổng kết lại như sau : “Nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thật về thế giới khách quan trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là quá trình tâm lý phản ánh sự vật, hiện tượng xung quanh và bản thân con người, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động” Như vậy chúng ta nhận thấy: Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan do đó nếu con người có nhận thức tốt tức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan đúng đắn, đầy đủ.
Nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ. Tức là khi con người nhận thức tốt sẽ làm nảy sinh, định hướng, điều khiển tình cảm, thái độ và giúp con người tỏ thái độ phù hợp. Nhận thức có mối quan hệ với hành động. Nhận thức tốt sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt.
b, Các giai đoạn của quá trình nhận thức Trong việc nhận thức thế giới con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp. Nhận thức bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau và sản phẩm của mỗi giai đoạn là khác nhau. Ta có thể chia hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn : nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính bao gồm 2 quá trình cảm giác và tri giác.
Nhận thức lý tính gồm có quá trình tư duy và tưởng tượng. Giữa cảm tính và lý tính có cấp độ trung gian, đó là trí nhớ Nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính mức độ nhận thức đầu tiên của con người.