chương 1. Chương 2: cơ sở lý thuyết được sử dụng trong đề tài: các khái niệm về CSR, nhận thức và một số lý thuyết về kinh tế. Bên cạnh đó, tổng hợp các nghiên cứu liên quan và xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài. 5 Chương 3: giới thiệu và thiết kế phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng để kiểm định sự tương quan giữa các yếu tố trong mô hình; xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu ban đầu, hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu sau khi khảo sát sơ bộ.
Chương 4: thống kê mô tả mẫu quan sát, xử lí, kiểm định dữ liệu và giả thuyết bằng phần mềm SPSS. Chương 5: đưa đề xuất và kiến nghị; những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo CHƯƠNG 2 : Cơ SỞ LÝ LUẬN Các khái niệm về CSR, nhận thức và một so lý thuyết về kinh tế. Bên cạnh đó, tổng hợp các nghiên cứu liên quan và xây dựng mô hình nghiên cứu của đê tài.1 TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP - CSR 2.1 Kháỉnịệm về CSR Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không còn là khái niệm mới mẻ đoi với các công ty. Sau nhiều thập kỉ phát triển của xã hội, khái niệm này đã được mở rộng cả về tầm quan trọng và mức ý nghĩa đối với các bên.
Tùy vào đặc điểm, điều kiện và trình độ phát triển của từng xã hội, từng tổ chức mà sẽ áp dụng những khái niệm khác nhau sao cho phù hợp. Theo những nghiên cứu ghi lại thì quan điểm về CSR lần đầu tiên xuất hiện trong cuốn “Social Responsibilities of Businessmen” (1953) bởi Howard Bowen - nhà kinh tế Mỹ - người đã xác định CSR như là nghĩa vụ phải chấp hành các chính sách xã hội, quyết định, hoặc hành động theo những mục tiêu và giá trị chung của cộng đồng. Ông nhận định “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đen các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội.” 6 Do những thay đổi về tình hình thực tể cũng như những quan điểm riêng biệt của các triết gia, các nhà xã hội học cũng tiếp tục cho công việc tìm hiểu và xây dựng quan niệm về CSR theo nhiều cách tiếp cận khác. Từ đó, là sự ra đời của các khái niệm khác về CSR, cụ thể: Frederick (1960) cho rằng : “CSR là những đóng góp cho nền kinh tế xã hội, nguồn nhân lực và sự cố gắng của doanh nghiệp, để chứng minh rằng những nguồn lực đã được sử dụng rộng rãi cho xã hội”.
Ông đã tóm gọn sự phát triển của CSR trong năm những 1950 thành 3 ý chính: những người quản lí chính là người ủy thác của xã hội thông qua hệ thống cổ phần; yêu cầu của những bên liên quan về nguồn lợi của công ty và cuối cùng là sự chấp nhận hoạt động từ thiện của doanh nghiệp. Cũng vào thời gian đó, học giả Keith Davis đã đưa ra nhận định “CSR liên quan đen những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội”. Nghiên cứu của Johnson (1971) cũng đã đề nghị rằng “Thay vì chỉ phấn đấu cho lợi nhuận lớn hon đế chia cho cổ đông, một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội sẽ đưa chiến lược thực hiện trách nhiệm xã hội vào các lợi ích của nhân viên, nhà cung cấp, đại lý, cộng đồng địa phương và quốc gia nói chung.” Cũng vào năm 1971, nhà kinh tể người Mỹ Milton Friedman lập luận rằng: “Có một và chỉ một trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sử dụng nguồn lực của mình, tham gia vào các hoạt động đã được thiết kể để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.” Sau đó năm 1973, học giả Keith Davis lại đưa ra một khái niệm khá rộng hơn: “CSR là sự xem xét và đáp ứng các vấn đề ngoài những yêu cầu pháp lý, kinh tể, công nghệ”. Theo thời gian khái niệm về CSR được mở rộng hơn, cụ thể vào năm 1975, có hai nhận định được đưa ra.
Đầu tiên, học giả Sethi cho rằng: “Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành 7 vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến”. Ke đến, hai tác giả Bowman & Haire lập luận rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm các kì vọng: kinh tể, pháp lý, đạo đức và xã hội của các tổ chức tại một thời điểm.” Tuy nhiên, khái niệm về CSR được biết đến rộng rãi nhất phải kể đến là học giả Carroll. Vào năm 1979, ông cho rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được xác định là nghĩa vụ của một doanh nghiệp để đóng góp cho xã hội, bao gồm bốn loại trách nhiệm gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, xã hội và từ thiện. Trong khi bốn loại trách nhiệm này bị ràng buộc với các vấn đề xã hội của doanh nghiệp như tiêu chuẩn lao động, quyền con người, bảo vệ môi trường và chống tham nhũng.
các hoạt động của công ty chỉ tập trung vào cách thức phản ứng trước những vấn đề đó. Theo bốn loại trách nhiệm của doanh nghiệp, các vấn đề CSR được lựa chọn bởi mỗi công ty và hoạt động của mồi công ty được bắt nguồn từ lựa chọn này.” Sau đó, năm 1980 ông Jones định nghĩa “CSR là quan điểm cho rằng các công ty có nghĩa vụ đối với các nhóm thành phần trong xã hội khác với các bên liên quan và xa hơn nữa là theo quy định của pháp luật và hợp đồng công đoàn. Trong đó bao gồm: doanh nghiệp, khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, cộng đồng lân cận và pháp lý.” Sau một thời gian dài, năm 2004 nhận định của Maignan và Ferrell được nhiều người quan tâm. Nhận định đưa ra một khái niệm súc tích về CSR: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”.
Cùng thời điểm đó, Matten và Moon cũng đưa ra nhận định: “CSR là một khái niệm bao trùm các khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”. 8 Gần đây nhất năm 2011, ủy ban châu Âu đã đơn giản hóa định nghĩa của CSR là “Trách nhiệm của doanh nghiệp đoi với ảnh hưởng của họ đen xã hội, định nghĩa cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp cần phải có một quá trình thực hiện để hợp nhất các chương trình CSR vào hoạt động và chiến lược cot lõi của doanh nghiệp với các bên liên quan bao gồm nhà cung ứng, khách hàng, cổ đông, người tiêu dùng, nhân viên. Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì sự phát triển bền vững (WBCSD) cho rằng: “CSR là sự cam kểt liên tục của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tể, trong khi cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng và xã hội.” Đe có thể tiếp cận tốt nhất và phù hợp nhất với các luồng quan điểm thì nhóm nghiên cứu quyết định sử dụng khái niệm về CSR của Hội đồng doanh nghiệp thể giới vì sự phát triển bền vừng (WBCSD).
Vì khái niệm này đã được đơn giản hóa và chắt lọc về mặt ý nghĩa sẽ dễ dàng hơn trong quá trình nghiên cứu. Nhằm giúp cho các doanh nghiệp có uịnh huớng lõ íàiìg và đúng đắn trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế thì vào ngày 1/11/2010, tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã chính thức ban hành tiêu chuẩn ISO 26000. Tiêu chuẩn này bao gom: các nội dung cơ bản về định nghĩa và nguyên tắc của trách nhiệm xã hội, những vấn đề cốt lõi cần được giải quyết trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, hướng dẫn làm thế nào để tích hợp trách nhiệm xã hội trong suốt hoạt động của một tổ chức. Cajazeira - Trưởng nhóm công tác này đã phát biểu: "Tiêu chuẩn ISO 26000 sẽ cung cấp cho các tổ chức cả trong lĩnh vực hành chính và tư nhân một mô hình mới giúp họ thực hiện trách nhiệm xã hội đúng yêu cầu/mong đợi hiện nay.
Nó còn giúp họ đạt được những lợi ích kinh tể lâu dài với chi phí xã hội tối thiểu đồng thời giảm thiểu tác động không có lợi tới môi trường".2 Các mô hình vê CSR ❖ Theo Carroll Trên cơ sở khái niệm về CSR được đưa ra năm 1979, Caroll đã hình thành nên mô hình kim tự tháp bốn tầng về các thành phần của CSR vào năm 1991. Hình 1: Kim tự tháp CSR của Caroll (1991) Trách nhiệm kinh tế (Economic Responsibilities - ER): Đây là trách nhiệm đầu tiên cũng là trách nhiệm quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Trách nhiệm này theo Carroll là doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm mà thị trường mong đợi để từ đó mang lại lợi nhuận cho mình. Ngoài ra, ông còn nhấn mạnh nâng cao tính cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng là những điều kiện tiên quyết.
Có thể nói rằng, trách nhiệm kinh tể là yếu tố 10 nền tảng và các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý (Legal Responsibilities - LR): Ngoài ER thì mô hình của Carroll còn đề cập đến LR (hay còn được gọi là trách nhiệm tuân thủ pháp luật). Doanh nghiệp không chỉ có nhiệm vụ tạo ra lợi ích kinh tế cho mình và xã hội, mà doanh nghiệp phải thực hiện chúng trong khuôn khổ của pháp luật. Vì pháp luật là hệ thống những quy tắc, quy chuẩn mà tat cả mọi người, mọi doanh nghiệp phải tuân theo.
Cùng với trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý là hai bộ phận nền tảng, cơ bản nhất và không thể thiểu đối với CSR. Mặc dù LR được đặt trên ER trong mô hình của Carroll nhưng thực chất hai trách nhiệm này tổn tại song song và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trách nhiệm đạo đức (Ethical Responsibilities - EthR): Ngoài những tiêu chuẩn đạo đức được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản luật, thì xã hội còn mong đợi các doanh nghiệp hoạt động những tiêu chuẩn đạo đức khác chưa có và không có trong các bộ luật.