Chương 1: Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh Chương 2: Vận dụng những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH 1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của ngoại giao trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc 1. Một số khái niệm cơ bản “Nguyên tắc” là thuật ngữ chỉ “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”[40,694]. Những vấn đề mang tính nguyên tắc là không thể thay đổi, bất di bất dịch, đã được quốc tế thừa nhận, hoặc đó là những giá trị pháp lý không có sự thay đổi trong bất kỳ tình huống, điều kiện nào.
Ví dụ: Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn độc lập dân tộc là vấn đề mang tính nguyên tắc, không thể đưa ra bất cứ lý do gì để vi phạm, đổi chác, dù đối tác đó là ai. “Ngoại giao”: Là thuật ngữ chỉ sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi quốc gia mình và để góp phần vào việc giải quyết những vấn đề quốc tế chung; Chỉ sự giao thiệp với bên ngoài, người ngoài. “Hoạt động ngoại giao”: “Là thuật ngữ để chỉ việc làm cụ thể của các vị lãnh đạo, các chính khách, các nhà ngoại giao chuyên nghiệp để thực hiện công tác ngoại giao” [9,7] “Tƣ tƣởng ngoại giao Hồ Chí Minh”: nguyên Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên đã đưa ra khái niệm: “tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một hệ thống những nguyên lý, quan điểm quan niệm về các vấn đề thế giới và thời đại, về đường lối quốc tế, chiến lược, sách lược, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kì hiện đại. Tư tưởng này còn được thể hiện trong hoạt động đối ngoại thực tiễn của Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước Việt Nam”[32,89].
Vậy, nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh là gì? Cần phải hiểu khái niệm này như thế nào? Để xây dựng khái niệm này, trên cơ sở khái niệm, “nguyên tắc” và khái niệm “ngoại giao”, “tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng tôi bước đầu đưa ra khái niệm “nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh” như sau: “Nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh”: là một hệ thống những luận điểm mà Hồ Chí Minh sử dụng để ứng xử với các chủ thể trong hoạt động ngoại giao và quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, bảo vệ lợi ích và chủ quyền của nhân dân và dân tộc đồng thời góp phần tích cực vào phong trào vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Khái niệm về “chủ quyền quốc gia dân tộc”: Chủ quyền quốc gia ở đây được hiểu là chủ quyền Nhà nước dân tộc, được biểu hiện dưới dạng một lượng quyền xác định, là tập hợp các quyền mà Nhà nước dân tộc có. Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính cố hữu, không tách rời Nhà nước dân tộc, dưới dạng các quyền của Nhà nước. Chủ quyền quốc gia dân tộc thông thường được biểu hiện trên hai mặt chủ yếu chủ quyền trong đối nội và chủ quyền trong đối ngoại.
Chủ quyền trong đối nội như: quyền của quốc gia - dân tộc trên địa bàn lãnh thổ, thể chế chính trị … chủ quyền trong đối ngoại như: quyền của quốc gia – dân tộc trên chính trường quốc tế, trong các tổ chức quốc tế mà quốc gia đó là thành viên (được tham gia hay bị hạn chế bởi các thể chế, chế định, luật pháp quốc tế) Chủ quyền quốc gia được xem xét trên hai bình diện: Một là: Thẩm quyền cai trị tuyệt đối của Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ Nhà nước dân tộc (Nhà nước dân tộc là Chủ thể trực tiếp thực hiện quyền lực) Hai là: Tập hợp những quy định hạn chế của xã hội công dân (của dân tộc) đối với Nhà nước (Nhà nước dân tộc là chủ thể gián tiếp thực hiện quyền lực, là vật mang quyền lực) Khái niệm lãnh thổ quốc gia: Lãnh thổ quốc gia xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước. Ban đầu lãnh thổ quốc gia chỉ được xác định trên đất liền dần dần mở rộng ra trên biển, trên trời và trong lòng đất. Lãnh thổ quốc gia: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là một phần của trái đất. Bao gồm: vùng đất, vùng nước, vùng trời trên vùng đất và vùng nước, cũng như lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của một quốc gia nhất định.
Các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia. - Vùng đất: Gồm phần đất lục địa, các đảo và các quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia. - Vùng nước: Vùng nước quốc gia là toàn bộ các phần nước nằm trong đường biên giới quốc gia. Gồm: + Vùng nước nội địa: gồm biển nội địa, các ao hồ, sông suối.
+ Vùng nước biên giới: gồm biển nội địa, các ao hồ, sông suối. trên khu vực biên giới giữa các quốc gia. + Vùng nước nội thuỷ: được xác định một bên là bởi biển và một bên khác là đường cơ sở của quốc gia ven biển. + Vùng nước lãnh hải: là vùng biển nằm ngoài và tiếp liền với vùng nội thuỷ của quốc gia.
Bề rộng của lãnh hải theo công ước luật biển năm 1982 do quốc gia tự quy định nhưng không vươt quá 12 hải lí tính từ đường cơ sở. - Vùng lòng đất: là toàn bộ phần nằm dưới vùng đất và vùng nước thuộc chủ quyền quốc gia. Theo nguyên tắc chung được mặc nhiên thừa nhận thì vùng lòng đất được kéo dài tới tận tâm trái đất. -Vùng trời: là khoảng không bao trùm lên vùng đất và vùng nước của quốc gia.
-Vùng lãnh thổ đặc biệt: Tàu thuyền, máy bay, các phương tiện mang cờ dấu hiệu riêng biệt và hợp pháp của quốc gia ., hoạt động trên vùng biển quốc tế, vùng Nam cực, khoảng không vũ trụ. ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia mình được thừa nhận như một phần lãnh thổ quốc gia. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lãnh thổ của mình. Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp lý đối với lãnh thổ.
Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của nhà nước như lập pháp và tư pháp. Nội dung chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Lãnh thổ quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn riêng biệt của một quốc gia. - Quốc gia có quyền tự lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với cộng đồng cư dân sống trên lãnh thổ mà không có sự can thiệp áp đặt dưới bất kì hình thức nào từ bên ngoài. - Quốc gia có quyền tự do lựa chọn phương hướng phát triển đất nước, thực hiện những cải cách kinh tế, xã hội phù hợp với đặc điểm quốc gia.Các quốc gia khác các tổ chức quốc tế phải có nghĩa vụ tôn trọng sự lựa chọn đó.
- Quốc gia tự quy định chế độ pháp lí đối với từng vùng lãnh thổ. - Quốc gia có quyền sở hữu hoàn toàn tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ của mình. - Quốc gia thực hiện quyền tài phán (xét xử) đối với những người thuộc phạm vi lãnh thổ của mình (trừ những trường hợp pháp luật quốc gia , hoặc điều ước quốc tế mà quốc gia đó tham gia là thành viên có quy định khác). - Quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp đối với những Công ty đầu tư trên lãnh thổ mình.
- Quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo vệ, cải tạo lãnh tổ quốc gia theo nguyên tắc chung quốc tế, có quyền thay đổi lãnh thổ phù hợp với pháp luật và lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ đó. Vai trò của ngoại giao trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhìn lại chặng đường lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc dưới thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy Người rất quan tâm và chú trọng tới hoạt động ngoại giao trong quá trình đấu tranh cách mạng giành độc lập của nước nhà. Chính vì lẽ đó mà hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh góp phần 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không nhỏ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc.
Tăng cường ngoại giao và quan hệ quốc tế sẽ góp phần tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền dân tộc chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Hợp tác quốc tế là một nhiệm vụ chiến lược trong đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản. Ngay từ 1930 trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới” cho nên cách mạng nước ta muốn được giành thắng lợi cần có sự đoàn kết, hợp tác, và sự giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra được vai trò của sự đoàn kết, hợp tác quốc tế bằng khẩu hiệu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “ vô sản các nước đoàn kết lại”.
Đồng thời chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh hợp tác quốc tế vừa là nhu cầu, vừa là nghĩa vụ của mỗi quốc gia. Để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản tất yếu phải có sự hợp tác, quan hệ giữa các lực lượng cách mạng, lực lượng tiến bộ trên thế giới. Thông qua đó và các dân tộc bị áp bức và vô sản quốc tế sẽ đoàn kết bên nhau, ủng hộ nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược và chủ nghĩa tư bản ở chính quốc. Theo quan điểm Hồ Chí Minh “Nước ta là một bộ phận của thế giới.