Chương I về Các nguyên tắc cơ bản, nhà làm luật Trung Quốc quy định trước hết là về các mục đích của Bộ Dân luật. Đến năm 2020, khi Bộ luật Dân sự Trung Quốc được ban hành, các tư tưởng, nội dung cốt lõi trong quy định cũ đa số được tiếp thu và ghi nhận, đặc biệt nội dung về nguyên tắc tự do ý chí tại Chương III về Hợp đồng. Có thé nói, ý nghĩa cũng như mục đích hướng đến của Bộ luật Dân sự Trung Quốc nhằm hướng đến việc điều hòa lợi ích công và lợi ích tư, do đó đã khang định rang các lợi ích tư nhân được tôn trọng và bảo vệ. Quyền và nghĩa vụ của các bên là bình đắng, không bên nào được xâm phạm bên nào, các nguyên tắc tự nguyện, công băng, bôi 22 thường ngang giá trị, thiện chí và tin cân được áp dụng triệt để [27].
Như vậy, có thé thấy quy định của Trung Quốc về nguyên tắc tự do ý chí đã khang định đây là quyền của các bên được tự do, tự nguyện khi tham gia giao kết các giao dịch và không bên nào được xâm phạm. Ngoài ra, Tại Điều 10 Bộ Dân luật Iran cũng khang định rằng khế ước ràng buộc các bên trừ trường hợp xung đột rõ ràng với quy định của luật. Bộ Dân luật Iran tuyệt đối bảo vệ quyền tự do lập ước và ràng buộc nghĩa vụ lẫn nhau của các bên. Điều này có nghĩa răng, pháp luật Iran công nhận và tuyệt đối bảo vệ quyên tự do thỏa thuận giữa các bên miễn sao sự thỏa thuận đó không xung đột, mâu thuẫn, trái ngược với các quy định của luật.
Như vậy, nguyên tắc tự do thỏa thuận, cam kết hay tự do ý chí được hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận với bản chất là quyền của các chủ thể được thỏa thuận, giao kết hợp đồng theo mong muốn của mình, không bị ràng buộc bởi bat kỳ chủ thé nào khác trong xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thé, phụ thuộc vào điều kiện, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá lai có cách quy định riêng, phù hợp nhưng nhìn chung, đều hướng đến bảo vệ tối đa quyền tự do của các chủ thé trong xã hội. Một số ngoại lệ của nguyên tắc tự do ý chí Từ khi nguyên tắc tự do ý chí được ghi nhận tại các văn bản quy phạm pháp luật, nó đã giúp cải thiện tình hình xã hội, nền kinh tế trở nên sôi động, phục hồi và nhanh chóng phát triển, quyền lợi của các chủ thé xã hội cũng được bảo vệ tốt hơn. Tuy vậy, một bộ phận chủ thé lợi dụng nguyên tắc tự do ý chí này dé xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của những chủ thể khác, làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước, do đó một sỐ ngoại lệ của nguyên tắc tự do ý chí được ra đời.
Cụ thé, đó là mọi cam kết, thỏa thuận không trái pháp luật, trật tự công, đạo đức và thuần phong mỹ tục. Nội dung này được hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận trong nguyên tắc tự do ý chí hợp đồng, đây được xem là giới hạn nội dung thỏa thuận nhằm định hướng ý chí, hành động của các chủ thể trong xã hội theo khung 23 chuẩn, tạo ra sự thống nhất giữa các thỏa thuận. Trong các giới hạn trên, thuật ngữ “trật tv cong” là thuật ngữ có khá nhiều tranh luận. Có quan điểm cho rang trật tự công là trang thái ôn định, có tổ chức, có kỉ luật ở nơi công cộng.
Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát. được tô chức, sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh. Cũng có quan điểm nhận định trật tự công cộng là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật và các nội quy, quy tắc về trật tự chung, an toàn chung, mà đòi hỏi mọi thành viên của xã hội phải tuân theo những quy định chung đó nhằm đảm bảo cho cuộc sống, lao động, sinh hoạt bình thường của mọi người trong xã hội. Theo từ điển thuật ngữ pháp lý, “#ái công” được hiểu là “.tinh trang xã hội của một quốc gia trong một thời điểm xác định mà hoà bình, 6n định và an toàn công cộng không bị xáo trộn” [L7].
Theo Vũ Văn Mẫu & Lê Đình Chân thì cho rằng: “trật tự công cộng ” là một ý niệm rat rộng rãi, mềm dẻo dé bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Một cách thuần phác nhất, ý niệm trật tự công thường đi đôi với ý niệm thuần phong mỹ tục và thường được viện dẫn trong cùng một bản án [21]. Tóm lại, dù hiểu theo nghĩa nào, “2á tw công” cũng có nội hàm là các chuẩn mực mang tính mệnh lệnh mà các chủ thể không thê vi phạm bằng hành vi hoặc thỏa thuận khác. Đó là những giá trị, chuẩn mực hết sức trừu tượng và không thé được quy định một cách rõ rang, những giá trị này luôn được bao vệ nhằm dap ứng tông thể các yêu cầu căn bản về chính trị, xã hội, kinh tế của quốc gia, nó có chức năng cơ bản nhằm duy trì sự én định xã hội, đạo đức và thuần phong mỹ tục, hoặc nhăm bảo vệ những lợi ích căn bản của công dân.
Trong nội dung này, pháp luật các quốc gia trên thế giới ghi nhận thành 03 quan điểm lớn: (i) ghi nhận khung giới hạn sự thỏa thuận là pháp luật, trật tự công, đạo đức, thuần phong mỹ tục; (ii) chỉ ghi nhận giới hạn sự thỏa thuận đó là các quy định pháp luật. 24 Nhóm quan điểm thứ nhất. Điển hình cho quan điểm này đó là Pháp. Theo Điều 6 Bộ dân luật Pháp ghi nhận giới hạn của các giao dịch dân sự khi tuyên bố rằng những thỏa thuận dân sự nào mà trái trật tự công hoặc đạo đức thì đương nhiên bị bãi bỏ.
Như vậy, khi các giao dịch có nội dung trái với trật tự công, đạo đức thì mặc nhiên bị bãi bỏ, không có bất gì giá trị trên thực tế. Ngoài ra, quan điểm này cũng được ghi nhận tại Điều 6 Bộ Dân luật Philippines, Điều 7 Bộ Dân luật bang Louisiana (Hoa Ky). Dao đức xã hội cũng là một lĩnh vực mà các thỏa thuận không thể xâm phạm, vì nó là các quy tắc xử sự chung, định ra các chuẩn mực cư xử cho nhóm cộng đồng dân cư qua một thời gian dài. Vì thế nếu các giao dịch dân sự bị xem là phi đạo đức thì đương nhiên vô hiệu vì nó trái với cách hành xử mang tính luân lý đã được thừa nhận rộng rãi [27].
Nhóm quan điểm thứ hai. Đại diện cho nhóm này là Iran, quốc gia này cho rằng sự tự nguyện chỉ nên bị giới hạn dưới góc độ pháp luật bởi pháp luật đã ghi nhận hết những vấn dé trong đời sống xã hội. Cụ thé, tại Điều 10 Bộ Dân luật Iran không giới hạn sự tự nguyện, tự do thỏa thuận dưới góc độ trái đạo đức xã hội, chỉ giới hạn sự ràng buộc này khi nó trái pháp luật. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, xã hội luôn phát triển, do đó những vấn đề xã hội luôn phát sinh từng ngày, điều này dẫn đến việc quy định pháp luật không thé bao chứa tat cả những “thir” nay sinh trên thực tế.
Đặc biệt, đạo đức, thuần phong mỹ tục vô cùng trừu tượng, việc đưa những nội dung về tinh thần khó có thể trình bày trong các văn bản luật mang tính mệnh lệnh. Theo ý kiến cá nhân, tác giả đồng tình với quan điểm đầu tiên khi ghi nhận khung giới hạn sự thỏa thuận là pháp luật, trật tự công, đạo đức, thuần phong mỹ tục bởi: nếu quy định theo hướng chỉ ghi nhận giới hạn sự tự do thỏa thuận là pháp luật, rõ ràng điều này không đảm bảo sự ổn định về các giá trị tinh thần (đạo đức). Như trên cũng phân tích, đạo đức, thuần phong mỹ tục không thể được quy định rõ ràng, cụ thé trong pháp luật nhưng đây cũng là một trong những nội dung không thê thiếu, các chủ thê khi thỏa thuận giao dịch buộc phải lưu tâm nên việc chỉ giới hạn thỏa thuận theo quy định pháp luật là không hợp 25 lý. Ngoài ra, pháp luật được hiểu là toàn bộ các quy phạm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong xã hội, trong nhiều trường hợp, quy định các ngành luật khác nhau sẽ có sự khác biệt nhất định do đó việc một thỏa thuận trong một lĩnh vực đặc thù chịu giới hạn bởi toàn bộ quy định pháp luật liên ngành có phù hợp hay không? Nói tóm lại, ngoại lệ của nguyên tắc tự do ý chí được đa số các quốc gia trên thế giới ghi nhận đó là pháp luật, trật tự công, đạo đức và thuần phong mỹ tục.
Các bên đều có thé thỏa thuận xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt giao dịch khi không vi phạm các ngoại lệ trên. Ý nghĩa nguyên tắc tự do ý chí Thứ nhất, nguyên tắc tự do ý chí có ý nghĩa quan trọng trong việc ghi nhận, bảo vệ quyên con người. Quyền con người là những quyên tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Như vậy, có nghĩa rằng quyền con người là quyền tự nhiên nhưng chỉ khi được ghi nhận và bảo vệ theo quy định pháp luật của từng quốc gia thì quyền đó mới có thể được đảm bảo tối ưu.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận nguyên tắc tự do ý chí đã đồng nghĩa với việc công nhận quyền của các chủ thê trong việc tự do cam kết, thỏa thuận các van dé trong hợp đồng. Việc này cũng có nghĩa rằng, quyền tự do hợp đồng của con người đã được ghi nhận, bảo đảm và được cụ thể hóa. Hiện nay, có quan điểm cho rằng một mặt pháp luật cho phép mọi người được tự do cam kết, thỏa thuận hợp đồng nhưng mặt khác cũng giới hạn sự tự do đó thông qua các quy định pháp luật, đạo đức xã hội,. là không đảm bao quyền con người.
Dưới góc độ tích cực, tác giả cho răng khi ghi nhận giới hạn của tự do ý chí có thé sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của các bên nhưng về mặt tổng thé sẽ dam bảo quyền lợi của những chủ thé khác trong xã hội.