Đặt vấn đề, trường hợp người yêu cầu TA công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của người khác thì việc yêu cầu này có xâm phạm quyền quyết định, tự định đoạt của “cơ quan, tổ chức, cá nhân khác” không? Tác giả cho rằng người yêu cầu giải quyết VDS trong trường hợp này xuất phát từ sự liên quan giữa việc công nhận hay không công nhận sự kiện pháp lý nào đó đến quyền, lợi ích của họ nên họ có tự quyết. Ngoài ra, đối 19 Nguyễn Phương Hạnh (2012), Tìm hiểu về quyền quyết định và tự định đoạt trong tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia. 15 tượng yêu cầu TA giải quyết là việc “công nhận hay không công nhận” sự kiện pháp lý liên quan đến mình chứ không phải việc tranh chấp với người khác, TA thụ lý, xem xét “công nhận hoặc không công nhận” sự kiện pháp lý đó trên cơ sở đúng quy định pháp luật, nên việc yêu cầu này không xâm phạm quyền của “cơ quan, tổ chức, cá nhân khác” trong việc yêu cầu TA giải quyết VDS.
(2) Biểu hiện của nguyên tắc. Đó là các quyền lựa chọn và thực hiện các quyền năng tố tụng có ý nghĩa là cơ sở để TA thụ lý, giải quyết VVDS. Bao gồm các biểu hiện đó là: Thứ nhất, quyền yêu cầu giải quyết VVDS, trong đó: “Đương sự hoặc người đại diện của đương sự có quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết VVDS; bị đơn có quyền yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu độc lập”. TA chỉ thụ lý khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đến TA của đương sự hoặc người đại diện của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
Thứ hai, “quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giải quyết VVDS, yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố”. Quyền này cũng cho thấy rõ quyền lựa chọn một cách tự nguyện, không bị ép buộc của đương sự, tác động trực tiếp đến phạm vi giải quyết VVDS mà TA đã thụ lý. Thứ ba, “quyền thỏa thuận về việc giải quyết VVDS”, thương lượng để tìm ra cách giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn. Đương sự có quyền tự do, tự nguyện nêu ra quan điểm của mình đối với tranh chấp, mâu thuẫn.
Đây cũng là một trong những biểu hiện rõ nét của quyền quyết định, tự định đoạt của đương sự khi tham gia TTDS. Thứ tư, “quyền kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định giải quyết VVDS của TA, đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị, xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”. Đương sự có quyền tự lựa chọn và thực hiện quyền năng của mình, trên cơ sở quyết định của đương sự mà TTDS sẽ tiếp tục các thủ tục xét xử, xem xét lại bản án, quyết định để đảm bảo rằng phán quyết cuối cùng là chính xác, đúng đắn nhất. 16 (3) Thời điểm và các giai đoạn tố tụng áp dụng nguyên tắc.
Việc quyết định, tự định đoạt được thực hiện ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình TTDS từ khi thụ lý, chuẩn bị xét xử, trước hoặc sau khi mở phiên tòa, phiên họp hay tại phiên tòa, phiên họp. Có một số điểm cần lưu ý đến thời điểm thực hiện quyền, bởi khi đương sự thực hiện quyền của mình thì các chủ thể khác từ cơ quan, người tiến hành tố tụng đến các đương sự khác sẽ ít nhiều bị động trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng giải quyết yêu cầu ban đầu của đương sự. Thậm chí có những trường hợp việc thực hiện quyền đã xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng của người khác. Đối với thời điểm khởi kiện VADS, yêu cầu giải quyết VDS của đương sự, người đại diện của đương sự có thể xác định là bất cứ khi nào họ thấy cần thiết, mong muốn lựa chọn TA để bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của mình hoặc người khác.
Đối với thời điểm đưa ra yêu cầu độc lập, phản tố, kháng cáo, khiếu nại, đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm cần thiết đặt ra một giới hạn phù hợp để đương sự có thể thực hiện quyền của mình đồng thời bảo đảm một sự kết thúc cuối cùng của việc giải quyết VVDS, buộc các bên thực hiện nghĩa vụ của mình để bảo đảm trật tự xã hội, tránh việc lợi dụng quyền này trong quá trình giải quyết. Ý nghĩa Thứ nhất, việc quy định nguyên tắc này thể hiện sự ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm quyền con người của đương sự trong việc tự quyết định liên quan đến quyền lợi của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước. Theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người cơ bản, đồng thời quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết. Thứ hai, quy định quyền cho đương sự thể hiện tính dân chủ xã hội chủ nghĩa trong TTDS.
Từ khi đương sự tự mình quyết định việc khởi kiện, yêu cầu TA giải quyết đến khi TA thụ lý, giải quyết, xét xử, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được bảo đảm. Đương sự được tự mình thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu 17 đồng thời cũng có thể tự thỏa thuận cách giải quyết một cách dân chủ, tự nguyện. Dựa trên tinh thần dân chủ, TA luôn tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để đương sự thực hiện các quyền năng đó, hướng tới mục đích cuối cùng là giải quyết hài hòa, đúng đắn các VVDS. Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc này trong TTDS có ý nghĩa kinh tế, xã hội nhất định.
Hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra sôi động từng ngày, các quan hệ dân sự cũng từ đó mà phát triển. Bên cạnh những mặt tích cực, những tranh chấp, những vấn đề pháp lý phát sinh nếu không được giải quyết kịp thời, hiệu quả, đúng pháp luật sẽ dẫn tới lãng phí về mặt kinh tế, mất ổn định xã hội. Trên cơ sở quy định nguyên tắc này đã tôn trọng những quyền năng chính đáng của đương sự xuất phát từ quan hệ nội dung, là cơ sở để các bên đương sự có thể ngồi lại với nhau thương lượng, hòa giải, thỏa thuận cách giải quyết phù hợp. Việc quy định nguyên tắc là là sự khích lệ, tạo điều kiện tối đa để các bên có thể chủ động giải quyết tranh chấp, tiết kiệm thời gian, chi phí đồng thời ràng buộc về mặt pháp lý và sự tự nguyện thực hiện các cam kết, thỏa thuận đã thống nhất.
TA chỉ đưa ra phán quyết khi mà các đương sự không thể hòa giải, thỏa thuận được trên cơ sở các quy định pháp luật. Mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự với một số nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự Khi bàn về “mối liên hệ” giữa các sự vật, hiện tượng thì dưới góc độ triết học, các nhà duy vật biện chứng cho rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi sự vật hiện tượng đều có mối liên hệ, sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau20. Điều này có ý nghĩa là trong thế giới vật chất khách quan, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Tương tự như các nguyên tắc khác trong pháp luật TTDS, có thể thấy mỗi nguyên tắc điều chỉnh những vấn đề khác nhau, nhưng nó không tồn tại độc lập, tách rời mà cùng nhau tạo thành hệ thống nguyên tắc của BLTTDS, điều chỉnh hoạt động tố tụng được thống nhất.
Mỗi nguyên tắc đều được xây dựng dựa trên nền tảng 20 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học, Đoàn Quang Thọ (chủ biên), Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, tr. 18 nhất định, hướng đến những mục đích nhất định và đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do vậy, để có thể hiểu một cách sâu sắc nguyên tắc này thì việc xem xét, đánh giá dựa trên mối liên hệ với các nguyên tắc khác là nội dung rất cần thiết.
Mối quan hệ với nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong tố tụng dân sự Trong quan hệ dân sự, quyền lợi hợp pháp của các chủ thể là mục đích, động cơ thúc đẩy các chủ thể tham gia các quan hệ dân sự. Khi các quyền lợi hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm thì pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có quyền khởi kiện hoặc quyền yêu cầu TA xét xử buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại hoặc công nhận hoặc không công nhận về một sự kiện pháp lý. Pháp luật TTDS ghi nhận và bảo đảm nguyên tắc quyền yêu cầu TA bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong TTDS ngay từ những giai đoạn đầu của lịch sử TTDS Việt Nam. Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại Điều 4 BLTTDS năm 2015.
Đặc biệt, nguyên tắc này cũng quy định TA không được từ chối giải quyết VVDS vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Mối quan hệ giữa hai nguyên tắc này có quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau. Điều này thể hiện ở việc nếu như nguyên tắc quyết định của đương sự là đối tượng, mục đích của TTDS thì nguyên tắc quyền yêu cầu TA là phương tiện, cách thức mà TTDS quy định nhằm bảo đảm thực hiện quyền quyết định của đương sự. Trên cơ sở quyền quyết định và tự định đoạt, pháp luật TTDS cho phép các đương sự được quyết định bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước TA.
Khi có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp, các đương sự tự quyết định việc khởi kiện, yêu cầu TA giải quyết VVDS. Sự quyết định và tự định đoạt chính là ý chí chủ quan của đương sự trong việc nhận thức và mong muốn của đương sự, theo đó thì việc khởi kiện, yêu cầu hay không khởi kiện, yêu cầu là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí, mong muốn, đòi hỏi đương sự phải chủ động thực hiện. Như vậy, nếu nguyên tắc quyền yêu cầu TA bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong TTDS được bảo đảm tốt thì cũng chính là nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đang được bảo đảm và ngược lại.