Tổng quan luận án
Đột quỵ là tình trạng bệnh lý mạch máu não phổ biến với hơn 80% trường hợp là thiếu máu não cục bộ (TMNCB), có tỉ lệ tử vong và tàn tật cao, tạo ra gánh nặng lớn cho hệ thống y tế và gia đình người bệnh, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Thống kê tại Mỹ ghi nhận trung bình mỗi 40 giây có một ca đột quỵ mới và mỗi 4 phút có một ca tử vong, với dự báo tỉ lệ mắc sẽ gia tăng 20,5% vào năm 2030 so với năm 2012. Tại Việt Nam, số liệu của Lê Văn Thành cho thấy mỗi năm có khoảng 200.000 ca mắc mới với tỉ lệ tử vong lên đến 50%. Đáng chú ý, bệnh lý này có xu hướng trẻ hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng lao động trụ cột.
Sau biến cố thiếu máu não cục bộ cấp hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA), bệnh nhân đối mặt với nguy cơ tái phát rất lớn. Đột quỵ tái phát chiếm khoảng 25% đến 40% tổng số bệnh nhân đột quỵ; biến cố tái phát thường đi kèm tỉ lệ tử vong, di chứng tàn phế và chi phí chăm sóc y tế cao hơn so với đột quỵ lần đầu. Y văn thế giới ghi nhận nguy cơ tái phát tích lũy đạt đỉnh trong năm đầu tiên, với tỉ suất dao động từ 10% đến 18%. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây ghi nhận tỉ suất tái phát tại thời điểm 90 ngày là 10,4% và tại thời điểm 6 tháng là 20,54%.
Khoảng trống nghiên cứu thực tế tại Việt Nam là các công trình về đột quỵ tái phát còn hạn chế về số lượng và hầu như chưa có nghiên cứu đoàn hệ nào theo dõi tiến cứu đầy đủ đến mốc 1 năm. Riêng tại khu vực Tây Nguyên, tỉnh Đắk Lắk là địa bàn miền núi có đặc thù khí hậu, cơ cấu dân cư đa dân tộc với phong tục tập quán phong phú, trình độ dân trí tại các vùng sâu vùng xa còn hạn chế, ảnh hưởng đáng kể đến mô hình bệnh tật và sự tuân thủ điều trị. Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào khảo sát dịch tễ học lâm sàng về nguy cơ tái phát sau đột quỵ tại địa bàn này.
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tỉ suất tái phát tích lũy sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp theo thời gian (30 ngày, 90 ngày, 6 tháng và 1 năm).
- Xác định một số yếu tố có liên quan độc lập với nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp.
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Đắk Lắk, vùng Tây Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Theo dõi dọc bệnh nhân tại các mốc thời gian 30 ngày, 90 ngày, 6 tháng và 1 năm; công trình luận án tiến sĩ y học chuyên ngành Thần kinh được bảo vệ năm 2014 tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu dịch tễ học và lâm sàng trên thế giới cũng như tại Việt Nam về tỉ suất tái phát và các yếu tố dự báo nguy cơ sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ:
- Nghiên cứu của Meissner và cộng sự (1988) tại Rochester, Minnesota: Theo dõi 1.680 bệnh nhân trong 30 năm (1950 - 1979), ghi nhận tỉ suất tái phát tích lũy tại mốc 1 năm là 5,7%, 5 năm là 19,3% và 10 năm là 28,8%. Tỉ suất tái phát hàng năm duy trì dưới 5% và không biến động đáng kể dù tỉ lệ mới mắc đột quỵ lần đầu có xu hướng giảm.
- Nghiên cứu của Burn và cộng sự (1994): Theo dõi 675 bệnh nhân đột quỵ lần đầu trong thời gian trung bình 6,5 năm, xác định tỉ suất tái phát tích lũy tại thời điểm 1 năm là 13% (khoảng tin cậy [KTC] 95%: 10 - 16%), cao gấp 15 lần so với dân số chung; sau 5 năm tăng lên 35%. Tuổi và phân nhóm đột quỵ không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy cơ tái phát.
- Nghiên cứu của Ryglewicz và cộng sự (1997) tại Ba Lan: Theo dõi 1 năm trên 209 bệnh nhân, ghi nhận tỉ suất tái phát là 11,4%. Tỉ suất này phân hóa theo nguyên nhân: xơ vữa động mạch lớn là 16%, lấp mạch từ tim là 12,5%, và nhồi máu lỗ khuyết là 4,4%. Tiền sử tăng huyết áp không điều trị liên quan độc lập với nguy cơ tái phát (RR = 1,7; KTC 95%: 1,2 - 4,1; p < 0,05).
- Nghiên cứu của Moroney và cộng sự (1998): Đánh giá 297 bệnh nhân trong 90 ngày, ghi nhận 7,4% tái phát, trong đó trên 50% số ca xảy ra trong 30 ngày đầu (tỉ suất tích lũy 30 ngày là 4,4%). Rung nhĩ và xơ vữa động mạch lớn làm tăng nguy cơ tái phát với RR lần lượt là 2,2 (KTC 95%: 0,8 - 6,1) và 3,3 (KTC 95%: 1,3 - 8,3).
- Nghiên cứu của Elneihoum và cộng sự (1998) tại Thụy Điển: Theo dõi 2.290 bệnh nhân trong 3 năm, xác định tỉ lệ tái phát là 6%; đái tháo đường, rung nhĩ và tiền sử TIA là các yếu tố liên quan làm tăng nguy cơ. Điều trị dự phòng tích cực giúp giảm tỉ suất tái phát 70% ở nam (p = 0,003) và 80% ở nữ (p = 0,006).
- Nghiên cứu của Hankey và cộng sự (1998) tại Úc: Theo dõi 370 bệnh nhân trong 5 năm, ghi nhận nguy cơ tích lũy 5 năm là 22,5%, cao nhất trong 6 tháng đầu (8,8%). Các yếu tố dự báo gồm nhóm tuổi 75 - 84 (HR = 2,6; KTC 95%: 1,1 - 6,2), đột quỵ chảy máu lần đầu (HR = 2,1; KTC 95%: 0,98 - 4,4) và đái tháo đường (HR = 2,1; KTC 95%: 0,95 - 4,4).
- Nghiên cứu của Penado và cộng sự (2003): Khảo sát 915 bệnh nhân, ghi nhận tỉ lệ tái phát chung là 20%. Nhóm rung nhĩ không dùng kháng đông có tỉ lệ tái phát 27%, cao hơn nhóm có dùng kháng đông (18%) và không rung nhĩ (17%), với HR lần lượt là 2,1 (KTC 95%: 1,4 - 2,9; p < 0,001) và 2,4 (KTC 95%: 1,6 - 3,6; p < 0,001).
- Nghiên cứu của Hillen và cộng sự (2003) tại Nam Luân Đôn: Trên 1.626 bệnh nhân, nguy cơ tích lũy 5 năm là 16,6%. Đái tháo đường và rung nhĩ là hai yếu tố liên quan độc lập trong năm đầu, đóng góp lần lượt 9,1% và 4,9% số ca tái phát.
- Nghiên cứu của Soda và cộng sự (2004) tại Nhật Bản: Khảo sát 885 bệnh nhân trong 1 năm, tỉ suất tái phát nhóm lấp mạch từ tim đạt cao nhất (14,4%), tiếp đến là xơ vữa huyết khối (7,3%), lỗ khuyết (6,2%) và chưa rõ nguyên nhân (7,8%).
- Phân tích tổng hợp của Lovett và cộng sự (2004): Từ 4 nghiên cứu gồm 1.709 bệnh nhân, nhóm xơ vữa động mạch lớn chiếm 14% đối tượng nhưng chịu trách nhiệm 37% số ca tái phát trong 7 ngày đầu. Tỉ số số chênh (OR) tái phát của nhóm này tại các thời điểm 7, 30 và 90 ngày lần lượt là 3,3 (KTC 95%: 1,5 - 7,0); 2,9 (KTC 95%: 1,7 - 4,9) và 2,9 (KTC 95%: 1,9 - 4,5).
- Nghiên cứu phương pháp luận của Coull và Rothwell (2004): Đánh giá 3 định nghĩa biến cố tái phát trên hai nghiên cứu đoàn hệ OXVAS và OCSP tại thời điểm 90 ngày, chỉ ra tỉ suất tái phát biến thiên mạnh tùy thuộc vào việc tính toán biến cố xảy ra trong 21 hoặc 28 ngày đầu (Định nghĩa A: 18,3% và 14,5%; Định nghĩa B: 7,0% và 8,3%; Định nghĩa C: 5,9% và 4,8%).
- Nghiên cứu của Xu và cộng sự (2007) tại Trung Quốc: Theo dõi 1 năm, ghi nhận tỉ suất tích lũy là 11,2%. Việc kiểm soát huyết áp và rung nhĩ giúp giảm 50% nguy cơ (p < 0,001); bỏ hoặc giảm hút thuốc trên 1 năm giảm nguy cơ từ 1,71 xuống 1,39 (p < 0,05); trong khi kiểm soát glucose máu tích cực không làm giảm nguy cơ tái phát (HR từ 1,69 xuống 1,64; p > 0,05).
- Nghiên cứu của Toyoda và cộng sự (2007) tại Nhật Bản: Khảo sát 8.034 bệnh nhân trong 30 ngày, ghi nhận 4,9% tái phát (nhóm huyết khối xơ vữa cao nhất với 6,6%). Tăng huyết áp (OR = 1,348) và rung nhĩ (OR = 1,503) làm tăng nguy cơ tái phát sớm.
- Nghiên cứu của Mohan và cộng sự (2009, 2011): Phân tích đoàn hệ 2,9 năm ghi nhận nguy cơ tái phát tại 1 năm là 7,1%, 5 năm là 16,2%, 10 năm là 24,5%; rung nhĩ duy trì vai trò dự báo xuyên suốt các mốc thời gian. Phân tích tổng hợp năm 2011 từ 16 nghiên cứu xác định nguy cơ tích lũy tại 30 ngày là 3,1%; 1 năm là 11,1%; 5 năm là 26,4% và 10 năm là 39,2% (p < 0,00001 về tính không đồng nhất giữa các nghiên cứu).
- Phân tích tổng hợp của Hong và cộng sự (2011): Tổng hợp 59 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (66.157 bệnh nhân từ năm 1960 đến 2009), ghi nhận tỉ suất tái phát giảm trung bình 0,996% mỗi thập niên (p = 0,0001), từ 8,71% ở thập niên 1960 xuống 4,98% ở thập niên 2000 nhờ kiểm soát huyết áp và liệu pháp chống huyết khối.
- Nghiên cứu của Kuwashiro và cộng sự (2012): Theo dõi 260 bệnh nhân trong 1 năm, xác định nồng độ HDL-C < 40 mg/dL là yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng tái phát (OR = 2,73; KTC 95%: 1,01 - 7,38; p = 0,048).
- Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2013): Khảo sát 11.560 bệnh nhân trong 1 năm, tỉ suất tái phát chung là 17,7%. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ tái phát ở phân nhóm bệnh mạch máu nhỏ (OR = 1,52; KTC 95%: 1,03 - 2,31) nhưng không có ý nghĩa ở nhóm xơ vữa động mạch lớn (OR = 0,99) và lấp mạch từ tim (OR = 1,14).
- Các nghiên cứu tại Việt Nam: Vũ Anh Nhị và Bùi Châu Tuệ (2011) ứng dụng thang điểm Essen (ESRS) trên 224 bệnh nhân, ghi nhận tỉ suất tái phát tại 1, 3 và 6 tháng lần lượt là 3,13%, 12,06% và 20,54%; điểm ESRS ≥ 3 có nguy cơ tái phát cao gấp 2,16 lần. Cao Phi Phong và cộng sự (2011) ứng dụng thang điểm ABCD2 trên 134 bệnh nhân đột quỵ nhẹ/TIA tại Bệnh viện Nhân Dân 115, xác định tỉ suất tái phát sau 2, 7, 30 và 90 ngày lần lượt là 3,7%, 6,7%, 9,7% và 10,4%.
| Tác giả / Công trình |
Cỡ mẫu (N) |
Thời gian theo dõi |
Tỉ suất tái phát tích lũy ghi nhận |
| Meissner và cs (1988) |
1.680 |
30 năm |
1 năm: 5,7%; 5 năm: 19,3%; 10 năm: 28,8% |
| Burn và cs (1994) |
675 |
Trung bình 6,5 năm |
1 năm: 13,0%; 5 năm: 35,0% |
| Ryglewicz và cs (1997) |
209 |
1 năm |
1 năm: 11,4% (xơ vữa động mạch lớn: 16,0%) |
| Moroney và cs (1998) |
297 |
90 ngày |
30 ngày: 4,4%; 90 ngày: 7,4% |
| Hankey và cs (1998) |
370 |
5 năm |
6 tháng: 8,8%; 5 năm: 22,5% |
| Mohan và cs (2011) |
Meta-analysis |
Đa mốc |
30 ngày: 3,1%; 1 năm: 11,1%; 5 năm: 26,4% |
| Wang và cs (2013) |
11.560 |
1 năm |
1 năm: 17,7% |
| Vũ Anh Nhị và cs (2011) |
224 |
6 tháng |
1 tháng: 3,13%; 3 tháng: 12,06%; 6 tháng: 20,54% |
| Cao Phi Phong và cs (2011) |
134 |
90 ngày |
2 ngày: 3,7%; 7 ngày: 6,7%; 30 ngày: 9,7%; 90 ngày: 10,4% |
Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống dữ liệu theo dõi dọc 1 năm tại Việt Nam, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên (Đắk Lắk). Nghiên cứu đánh giá toàn diện nguy cơ tái phát theo phân tầng đa yếu tố, từ đặc điểm dân khẩu học, phân nhóm căn nguyên TOAST đến các can thiệp dự phòng thứ phát thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng sinh lý bệnh học mạch máu não và các tiêu chuẩn quốc tế:
- Giải phẫu tưới máu não: Não bộ chiếm 2% trọng lượng nhưng tiêu thụ 15% cung lượng tim và 20% oxy toàn cơ thể. Hệ mạch cấp máu gồm hai động mạch cảnh trong (não trước) và hai động mạch đốt sống (thân não, tiểu não, thùy chẩm), liên kết qua vòng Willis và 3 hệ thống tuần hoàn bàng hệ. Tình trạng ngừng trệ tưới máu từ 4 đến 10 phút dẫn đến tổn thương hoại tử nhu mô não không hồi phục.
- Cơ chế bệnh sinh đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp: Chia làm hai nhóm cơ chế chính gồm tắc mạch và huyết động học. Tắc mạch gồm: (1) Huyết khối tại chỗ trên nền mảng xơ vữa động mạch lớn hoặc bóc tách mạch; (2) Lấp mạch di chuyển từ tim, từ động mạch đến động mạch hoặc lấp mạch đảo nghịch; (3) Bệnh mạch máu nhỏ gây tắc các động mạch xuyên sâu (kích thước 30 - 300 µm) tạo ổ nhồi máu lỗ khuyết kích thước dưới 1,5 - 2 cm. Cơ chế huyết động liên quan đến tụt huyết áp hoặc giảm cung lượng tim gây giảm áp lực tưới máu não cục bộ hoặc toàn bộ ở vùng giáp ranh.
- Định nghĩa TIA: Tác giả áp dụng định nghĩa lâm sàng cổ điển (rối loạn chức năng thần kinh khu trú hồi phục hoàn toàn trong 24 giờ không để lại di chứng mô học).
- Định nghĩa biến cố đột quỵ tái phát: Được xác định theo tiêu chuẩn kết hợp từ các nghiên cứu của Burn, Hankey, Hillen, Coull & Rothwell, và Mohan: Biến cố khởi phát triệu chứng thần kinh khu trú mới sau 24 giờ kể từ đột quỵ ban đầu, hoặc tình trạng xấu đi đột ngột của khiếm khuyết thần kinh cũ xuất hiện sau ngày thứ 21 mà không do nguyên nhân ngoài mạch máu (loại trừ phù não, chuyển dạng xuất huyết hoặc choán chỗ).
- Phân loại nguyên nhân TOAST: Áp dụng hệ thống phân loại 4 nhóm nguyên nhân chính của Adams H. và cộng sự:
| Nhóm TOAST |
Biểu hiện lâm sàng |
Hình ảnh học sọ não |
Cận lâm sàng khác |
| Nhóm 1: Xơ vữa động mạch lớn |
Rối loạn chức năng vỏ não hoặc tiểu não |
Nhồi máu vỏ, tiểu não, thân não hoặc dưới vỏ > 1,5 cm |
Hẹp động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ |
| Nhóm 2: Lấp mạch từ tim |
Rối loạn chức năng vỏ não hoặc tiểu não |
Nhồi máu vỏ, tiểu não, thân não hoặc dưới vỏ > 1,5 cm |
Xác định nguồn lấp mạch từ tim |
| Nhóm 3: Bệnh mạch máu nhỏ |
Hội chứng lỗ khuyết lâm sàng |
Nhồi máu dưới vỏ hoặc thân não < 1,5 cm |
Không có hẹp động mạch lớn hay nguồn tim |
| Nhóm 4: Khác / chưa rõ nguyên nhân |
Lâm sàng biến thiên |
Tổn thương thay đổi |
Có bất thường đặc biệt khác hoặc không tìm ra |
Luận án phân nhóm nguy cơ đối với các nguồn gây lấp mạch từ tim thành hai mức độ:
- Nhóm nguy cơ cao: Rung nhĩ, rung nhĩ kèm hẹp van hai lá, van tim nhân tạo, huyết khối nhĩ trái/tiểu nhĩ trái, hội chứng suy nút xoang, nhồi máu cơ tim dưới 4 tuần, huyết khối thất trái, u nhầy nhĩ trái, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
- Nhóm nguy cơ vừa: Sa van hai lá, hẹp van hai lá đơn thuần, còn lỗ bầu dục, phình vách liên nhĩ, cản âm tự phát nhĩ trái, vôi hóa vòng van hai lá, rung nhĩ đơn độc hoặc cuồng nhĩ, nhồi máu cơ tim trên 4 tuần, vô động hoặc giảm động thất trái, viêm nội tâm mạc không do vi khuẩn, bệnh cơ tim giãn, dòng xoáy nhĩ trái, suy tim sung huyết.
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ quan sát tiến cứu (prospective observational cohort study).
- Kỹ thuật thống kê và phân tích sống còn: Luận án áp dụng phương pháp ước tính Kaplan-Meier để xây dựng đường cong và tính tỉ suất tái phát tích lũy theo từng mốc thời gian (30 ngày, 90 ngày, 6 tháng, 1 năm). Sử dụng mô hình hồi quy rủi ro tỷ lệ Cox (Cox proportional hazards regression models) cho phân tích đơn biến và đa biến (xây dựng 3 mô hình đa biến khác nhau) nhằm tính toán tỉ số nguy cơ (Hazard Ratio - HR) và khoảng tin cậy 95% của các yếu tố dự báo độc lập.
- Nguồn dữ liệu: Thu thập trực tiếp từ bệnh nhân nhập viện điều trị đột quỵ cấp, khai thác hồ sơ bệnh án, thăm khám lâm sàng thần kinh, chẩn đoán hình ảnh (CT Scan/MRI sọ não), siêu âm tim, siêu âm Doppler mạch cảnh - đốt sống, điện tâm đồ (ECG), xét nghiệm sinh hóa máu (lipid máu, glucose, hs-CRP, men tim), cùng quá trình theo dõi ngoại trú sau xuất viện định kỳ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các đặc điểm giải phẫu hệ mạch máu não, mạng lưới tuần hoàn bàng hệ qua vòng nối Willis, sinh lý tuần hoàn não và các cơ chế bệnh sinh chính dẫn đến thiếu máu não cục bộ. Tác giả phân tích các yếu tố nguy cơ không thay đổi được (tuổi, giới tính, tiền sử đột quỵ/TIA) và có thể thay đổi được (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, rung nhĩ, hẹp động mạch cảnh). Đồng thời, chương 1 tổng kết các chiến lược dự phòng thứ phát theo khuyến cáo quốc tế của Hiệp hội Tim mạch/Đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA) và NICE, bao gồm: thay đổi lối sống (ngưng hút thuốc, điều chỉnh chế độ ăn giảm muối dưới 2.300 mg/ngày, tập thể dục 30 - 60 phút/ngày ít nhất 5 ngày/tuần, duy trì chỉ số khối cơ thể BMI 18,5 - 24,9 kg/m²); kiểm soát huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg (hoặc dưới 130 mmHg ở nhồi máu lỗ khuyết); liệu pháp chống kết tập tiểu cầu đơn hoặc phối hợp ngắn hạn (aspirin 50 - 325 mg/ngày, clopidogrel 75 mg/ngày, aspirin kết hợp dipyridamole kéo dài); liệu pháp statins tích cực hạ LDL-C dưới 70 mg/dL hoặc giảm ≥ 50%; liệu pháp kháng đông đường uống (warfarin, dabigatran, rivaroxaban, apixaban) cho bệnh nhân rung nhĩ; và chỉ định can thiệp tái thông động mạch cảnh (phẫu thuật bóc nội mạc CEA hoặc đặt stent CAS) đối với hẹp động mạch cảnh cùng bên từ 70% đến 99%.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp nhập viện tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk và tiêu chuẩn loại trừ các trường hợp chấn thương sọ não, u não, xuất huyết màng não hoặc không thể theo dõi. Quy trình nghiên cứu được chuẩn hóa qua Sơ đồ 2.1; các biến số nghiên cứu được mã hóa cụ thể gồm đặc điểm nhân khẩu, tiền sử bệnh lý, tình trạng lâm sàng lúc vào/ra viện (điểm Glasgow, điểm Rankin sửa đổi), chỉ số cận lâm sàng, phân loại nguyên nhân theo bảng kiểm TOAST, các thuốc dự phòng ngoại trú (kháng kết tập tiểu cầu, statins, hạ áp). Tác giả mô tả chi tiết các biện pháp kiểm soát sai số chọn lựa, sai số thông tin, quy trình xử lý mất dấu theo dõi (lost to follow up), và bảo đảm các nguyên tắc đạo đức y sinh học trong nghiên cứu y học trên người.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trình bày toàn bộ số liệu thu thập qua hệ thống bảng từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.30 và hình/biểu đồ từ 3.1 đến 3.16:
- Đặc điểm dân số học và lâm sàng: Mô tả phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới tính, dân tộc, học vấn, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, các yếu tố nguy cơ mạch máu nền và phân nhóm nguyên nhân TOAST.
- Tỉ suất tái phát tích lũy theo thời gian: Trình bày chi tiết tỉ suất tái phát tích lũy qua ước tính Kaplan-Meier tại các mốc 30 ngày, 90 ngày, 6 tháng và 1 năm (Bảng 3.9 và Biểu đồ 3.7).
- Phân tích hồi quy Cox đơn biến: Đánh giá mối liên quan giữa nguy cơ tái phát với từng nhóm biến số: dân số học (Bảng 3.10), tình trạng lâm sàng (Bảng 3.11), tiền sử bệnh (Bảng 3.12), yếu tố nguy cơ mạch máu (Bảng 3.13), sinh hóa máu (Bảng 3.14), phân nhóm TOAST (Bảng 3.15), điều trị sau xuất viện (Bảng 3.16), phân tích nhóm thuốc chống kết tập tiểu cầu và statins theo phân loại nguyên nhân (Bảng 3.17), và các biến số gộp (Bảng 3.18).
- Phân tích hồi quy Cox đa biến: Trình bày 3 mô hình hồi quy Cox đa biến (Bảng 3.19, 3.20, 3.21) để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu và xác định các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát.
- Phân tầng tỉ suất tái phát tích lũy: Trình bày chi tiết tỉ suất tái phát tích lũy theo từng yếu tố độc lập gồm trình độ học vấn (Bảng 3.22, Biểu đồ 3.8), tiền sử đột quỵ/TIA (Bảng 3.23, Biểu đồ 3.9), số lần đột quỵ/TIA cũ (Bảng 3.24, Biểu đồ 3.10), rung nhĩ (Bảng 3.25, Biểu đồ 3.11), mức độ hẹp động mạch cảnh (Bảng 3.26, Biểu đồ 3.12), nồng độ HDL-C (Bảng 3.27, Biểu đồ 3.13), nhóm nguyên nhân TOAST (Bảng 3.28, Biểu đồ 3.14), việc sử dụng thuốc chống kết tập tiểu cầu (Bảng 3.29, Biểu đồ 3.15) và liệu pháp statins sau xuất viện (Bảng 3.30, Biểu đồ 3.16).
Chương 4: Bàn luận
Chương này thảo luận chuyên sâu kết quả nghiên cứu trong tương quan với y văn quốc tế và trong nước:
- So sánh tỉ suất tái phát tích lũy tại mốc 1 năm (Bảng 4.1) với các nghiên cứu của Burn, Wang, Soda, Ryglewicz, Mohan; phân tích sự chênh lệch tỉ suất tại mốc 90 ngày dựa trên các định nghĩa biến cố tái phát theo nghiên cứu OXVAS và OCSP của Coull và Rothwell (Bảng 4.2).
- Phân tích bản chất mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ mạch máu với biến cố tái phát, trong đó thảo luận hiện tượng mối liên quan giữa huyết áp tâm thu và nguy cơ tái phát theo kiểu đường cong J (Bảng 4.3).
- Luận giải cơ chế tác động độc lập của các yếu tố: rung nhĩ không dùng kháng đông, mức độ hẹp động mạch cảnh, nồng độ HDL-C máu thấp, gánh nặng tiền sử đột quỵ/TIA, phân nhóm xơ vữa động mạch lớn và lấp mạch từ tim, cũng như hiệu quả bảo vệ thực tế của việc tuân thủ thuốc chống kết tập tiểu cầu và statins sau xuất viện.
- Trình bày mục riêng về những đóng góp mới và phân tích các hạn chế nội tại của đề tài (trang 130).
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp dẫn liệu dịch tễ học lâm sàng có hệ thống về tỉ suất tái phát tích lũy sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tại các mốc thời gian 30 ngày, 90 ngày, 6 tháng và 1 năm tại Việt Nam bằng phương pháp phân tích sống còn Kaplan-Meier.
- Xác lập mô hình hồi quy đa biến Cox để xác định các yếu tố liên quan độc lập đến nguy cơ tái phát đột quỵ tại Việt Nam, chứng minh vai trò tiên lượng quan trọng của các yếu tố: tiền sử đột quỵ/TIA, rung nhĩ, mức độ hẹp động mạch cảnh, nồng độ HDL-C thấp, phân nhóm nguyên nhân theo TOAST, cùng hiệu quả giảm nguy cơ khi duy trì liệu pháp statins và chống kết tập tiểu cầu.
- Đóng góp dẫn liệu thực chứng về đặc điểm phân tầng nguy cơ theo trình độ học vấn và dân tộc tại khu vực miền núi Tây Nguyên, phản ánh mối tương quan giữa điều kiện kinh tế - xã hội với nguy cơ mắc biến cố tim mạch tái phát.
Những đóng góp thực tiễn và kiến nghị giải pháp:
- Khẳng định sự cần thiết phải phân tầng nguy cơ ngay trong giai đoạn cấp để xây dựng phác đồ dự phòng thứ phát cá thể hóa cho từng nhóm bệnh nhân.
- Kiến nghị tầm soát bắt buộc rung nhĩ và tổn thương hẹp hệ động mạch cảnh ngoài sọ bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học và thăm dò chức năng tim mạch cho mọi bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp.
- Đề xuất tăng cường chỉ định và giám sát việc tuân thủ dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc statins liên tục sau xuất viện, cũng như thiết lập chiến lược kiểm soát huyết áp ổn định lâu dài.
- Nâng cao công tác truyền thông giáo dục sức khỏe và hướng dẫn người bệnh nhận biết dấu hiệu tái phát sớm, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sinh sống tại các vùng sâu, vùng xa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Thời gian theo dõi dọc của nghiên cứu dừng lại ở mốc 1 năm, chưa đánh giá được tỉ suất tái phát tích lũy dài hạn sau 5 năm hoặc 10 năm như một số nghiên cứu đoàn hệ lớn trên thế giới.
- Điều kiện trang thiết bị kỹ thuật cận lâm sàng tại địa bàn nghiên cứu thời điểm đó chưa cho phép thực hiện thường quy các kỹ thuật hình ảnh học chuyên sâu (chụp cộng hưởng từ mạch máu não MRA, theo dõi điện tâm đồ từ xa liên tục kéo dài hoặc thiết bị cấy theo dõi rung nhĩ) cho toàn bộ đối tượng nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng thời gian theo dõi đoàn hệ lên 5 năm và 10 năm nhằm làm rõ mô hình biến động nguy cơ tái phát muộn và tỉ lệ tử vong tích lũy.
- Nghiên cứu ứng dụng các thiết bị đo điện tim từ xa đối với bệnh nhân ngoại trú hoặc thiết bị cấy dưới da nhằm phát hiện rung nhĩ cơn ở nhóm bệnh nhân đột quỵ chưa rõ nguyên nhân.
- Nghiên cứu thử nghiệm can thiệp đánh giá liều statins tối ưu, mức huyết áp mục tiêu và chỉ số HbA1c phù hợp nhất trên từng phân nhóm căn nguyên TOAST tại Việt Nam.
- Khảo sát sâu hơn về các giải pháp can thiệp tái thông động mạch cảnh (phẫu thuật bóc nội mạc CEA và đặt stent CAS) so sánh với điều trị nội khoa tích cực ở nhóm bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh nặng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và bác sĩ chuyên khoa Thần kinh, Tim mạch, Hồi sức cấp cứu: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu đoàn hệ quan sát tiến cứu, kỹ thuật phân tích sống còn Kaplan-Meier, ứng dụng mô hình hồi quy đa biến Cox, và quy trình phân loại căn nguyên TOAST trên lâm sàng.
- Bác sĩ thực hành điều trị tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện: Tham khảo cơ sở dữ liệu về các yếu tố dự báo nguy cơ độc lập (rung nhĩ, hẹp động mạch cảnh, nồng độ HDL-C, tiền sử đột quỵ/TIA) để thiết lập kế hoạch theo dõi sát, hướng dẫn sử dụng kháng kết tập tiểu cầu và statins ngoại trú nhằm phòng ngừa biến cố thứ phát.
- Các nhà quản lý y tế và cán bộ hoạch định chính sách y tế công cộng: Luận án cung cấp bức tranh dịch tễ học thực địa tại khu vực Tây Nguyên, làm căn cứ xây dựng các chương trình quản lý bệnh không lây nhiễm, truyền thông phòng ngừa đột quỵ phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án áp dụng tiêu chuẩn nào để xác định một trường hợp là đột quỵ tái phát?
Tác giả định nghĩa đột quỵ tái phát là trường hợp đột quỵ thỏa mãn định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, xảy ra sau lần đột quỵ trước đó và đáp ứng một trong hai tiêu chuẩn: (1) Xuất hiện triệu chứng thần kinh khu trú mới sau 24 giờ kể từ lần đột quỵ trước mà không do nguyên nhân ngoài mạch máu (đã loại trừ phù não, choán chỗ hay chảy máu ổ nhồi máu); hoặc (2) Có sự xấu đi đột ngột của các triệu chứng thần kinh khu trú cũ đang ổn định, xuất hiện sau ngày thứ 21 kể từ khi khởi phát. Định nghĩa này tương đồng với tiêu chuẩn của Burn, Hankey, Hillen, Coull & Rothwell, và Mohan.
2. Hệ thống phân loại nguyên nhân TOAST được tác giả sử dụng gồm những phân nhóm nào?
Phân loại TOAST trong luận án phân chia đột quỵ thiếu máu não cục bộ thành 4 nhóm căn nguyên: Nhóm 1 là xơ vữa động mạch lớn (có rối loạn chức năng vỏ não/tiểu não, ổ nhồi máu > 1,5 cm và hẹp động mạch cảnh ngoài sọ); Nhóm 2 là lấp mạch từ tim (có bằng chứng tổn thương vỏ não/tiểu não > 1,5 cm và xác định được nguồn lấp mạch từ tim); Nhóm 3 là bệnh mạch máu nhỏ (hội chứng lâm sàng lỗ khuyết, ổ tổn thương dưới vỏ hoặc thân não < 1,5 cm); Nhóm 4 là nguyên nhân khác hoặc chưa rõ nguyên nhân.
3. Tỉ suất tái phát đột quỵ tích lũy tại các mốc thời gian sớm và 1 năm được y văn trong luận án ghi nhận ra sao?
Các công trình tổng quan trong luận án cho thấy nguy cơ tái phát tập trung cao nhất trong giai đoạn sớm và năm đầu: Mohan và cộng sự (2011) ghi nhận tỉ suất tích lũy là 3,1% ở 30 ngày và 11,1% ở 1 năm; Wang và cộng sự (2013) ghi nhận 17,7% ở 1 năm; Burn và cộng sự (1994) ghi nhận 13,0% ở 1 năm (gấp 15 lần dân số chung). Tại Việt Nam, nghiên cứu của Cao Phi Phong và cộng sự (2011) ghi nhận tỉ suất tái phát tại 2, 7, 30 và 90 ngày lần lượt là 3,7%, 6,7%, 9,7% và 10,4%; nghiên cứu của Vũ Anh Nhị và Bùi Châu Tuệ (2011) ghi nhận mốc 1, 3 và 6 tháng lần lượt là 3,13%, 12,06% và 20,54%.
4. Luận án ghi nhận các nhóm yếu tố nguy cơ nào có liên quan đến việc gia tăng hoặc giảm nguy cơ tái phát đột quỵ?
Các yếu tố làm tăng nguy cơ tái phát gồm: tiền sử đột quỵ hoặc TIA, rung nhĩ (đặc biệt khi không được điều trị bằng thuốc kháng đông), mức độ hẹp động mạch cảnh nặng, phân nhóm nguyên nhân xơ vữa động mạch lớn hoặc lấp mạch từ tim, và nồng độ HDL-C huyết tương thấp (< 40 mg/dL). Ngược lại, các yếu tố bảo vệ giúp giảm đáng kể nguy cơ tái phát gồm việc tuân thủ liệu pháp dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu đơn hoặc phối hợp theo chỉ định, sử dụng liệu pháp statins liên tục sau khi xuất viện, và kiểm soát tốt huyết áp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Đinh Hữu Hùng là công trình nghiên cứu đoàn hệ quan sát tiến cứu đánh giá toàn diện về nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian theo dõi 1 năm. Bằng các kỹ thuật phân tích sống còn Kaplan-Meier và mô hình hồi quy rủi ro tỷ lệ Cox, công trình đã xác lập tỉ suất tái phát tích lũy theo các mốc thời gian và xác định rõ các yếu tố liên quan độc lập đối với nguy cơ tái phát. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc phân tầng nguy cơ lâm sàng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều trị dự phòng thứ phát sớm, liên tục bằng thuốc chống kết tập tiểu cầu, statins và kiểm soát rung nhĩ nhằm giảm thiểu gánh nặng tàn phế và tử vong do đột quỵ tái phát.