Thực trạng nguy cơ mắc bệnh dại ở người làm nghề giết mổ chó tại Hà Nội (2016-2018)

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng nguy cơ mắc bệnh dại ở người làm nghề giết mổ chó và hiệu quả can thiệp tại một số quận, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương

Chuyên ngành

Dịch tễ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát bệnh dại và các biện pháp phòng chống

1.2. Ổ chứa bệnh dại

1.3. Đường lây truyền bệnh dại sang người

1.4. Bệnh dại ở động vật

1.5. Tình hình bệnh dại trên thế giới

1.6. Tình hình bệnh dại ở Việt Nam

1.7. Vi rút bệnh dại và đáp ứng miễn dịch

1.8. Các phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm vi rút dại

1.9. Các biện pháp phòng chống bệnh dại

1.10. Điều trị dự phòng bệnh dại ở người

1.11. Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh dại ở người

1.12. Nguy cơ mắc dại liên quan nghề nghiệp

1.13. Nguy cơ mắc bệnh dại đối với tình trạng miễn dịch

1.14. Nguy cơ mắc bệnh dại liên quan tới lưu hành bệnh dại ở động vật

1.15. Các yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc bệnh dại ở người

1.16. Truyền thông thay đổi hành vi trong phòng chống bệnh dại

1.17. Mô hình lập kế hoạch truyền thông

1.18. Hiệu quả truyền thông phòng chống bệnh dại

1.19. Mô tả tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Người làm nghề giết mổ chó

2.1.2. Chó tại các lò mổ

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.4.2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng

2.5. Phương pháp chọn mẫu

2.6. Nghiên cứu mô tả

2.7. Nghiên cứu can thiệp

2.8. Các kỹ thuật thu thập thông tin

2.9. Các kỹ thuật xét nghiệm

2.10. Công cụ và phương pháp điều tra kiến thức, thực hành phòng chống bệnh dại của người làm nghề giết mổ chó

2.11. Khái niệm sử dụng trong luận án

2.12. Sai số và cách khắc phục

2.13. Phân tích số liệu

2.14. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng nguy cơ mắc bệnh dại ở người làm nghề giết mổ chó tại một số quận huyện ở Hà Nội và các yếu tố có liên quan

3.2. Tình trạng kháng thể trung hòa kháng vi rút dại và nhiễm dại ở chó tại các lò giết mổ tại 6 quận huyện Hà Nội năm 2016-2017

3.3. Tỷ lệ chó bị nhiễm vi rút dại tại 84 lò mổ nhỏ phân bố theo địa dư

3.4. Kết quả điều tra và xét nghiệm kháng thể kháng vi rút dại ở 406 người làm nghề giết mổ chó tại 7 quận/huyện của Hà Nội năm 2016-2017

3.5. Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh dại của người mổ chó

3.6. Hiệu quả biện pháp can thiệp truyền thông ở người giết mổ chó

3.7. Kết quả các hoạt động truyền thông tại cộng đồng

3.8. Hiệu quả can thiệp truyền thông thay đổi kiến thức của người làm nghề giết mổ chó trong 2 năm 2017-2018

3.9. Hiệu quả can thiệp thay đổi thực hành phòng chống bệnh dại

3.10. Hiệu quả can thiệp tăng tỷ lệ đối tượng tiêm vắc xin phòng dại

3.11. Thực trạng nguy cơ mắc bệnh dại ở người làm nghề giết mổ chó và một số yếu tố liên quan

3.12. Thực trạng chó có kháng thể kháng dại và chó nhiễm vi rút dại tại các lò giết mổ chó

3.13. Tình trạng có kháng thể kháng dại ở người giết mổ chó tại các địa điểm nghiên cứu

3.14. Kiến thức, thực hành của người làm nghề giết mổ chó

3.15. Hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức, thực hành ở người làm nghề giết mổ chó

3.16. Một số hạn chế của nghiên cứu

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng nguy cơ mắc bệnh dại

Bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất, với tỷ lệ tử vong gần như 100% khi có triệu chứng lâm sàng. Tại Hà Nội, người làm nghề giết mổ chó là nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh dại. Theo thống kê, trong giai đoạn 2016-2018, có khoảng 5 triệu con chó bị giết mổ hàng năm, trong đó một tỷ lệ không nhỏ có thể mang vi rút dại. Nghiên cứu cho thấy, 50% số ca tử vong do bệnh dại liên quan đến việc giết mổ chó. Điều này đặt ra câu hỏi về tình trạng phòng ngừa bệnh dại và sự hiểu biết của người làm nghề này về nguy cơ lây nhiễm. Việc thiếu kiến thức và thực hành phòng ngừa có thể dẫn đến việc gia tăng nguy cơ mắc bệnh dại trong cộng đồng.

1.1. Tình hình bệnh dại tại Hà Nội

Tình hình bệnh dại ở Hà Nội trong giai đoạn 2016-2018 cho thấy sự gia tăng đáng kể trong số ca mắc bệnh. Các lò mổ chó thường không được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến việc chó nhiễm vi rút dại được đưa vào tiêu thụ. Theo báo cáo, tỷ lệ chó nhiễm vi rút dại tại các lò mổ lên tới 2%. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người làm nghề giết mổ chó mà còn tiềm ẩn nguy cơ lây lan bệnh dại trong cộng đồng. Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu nguy cơ này.

II. Biện pháp can thiệp phòng ngừa

Các biện pháp can thiệp nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh dại ở người làm nghề giết mổ chó đã được triển khai từ năm 2017 đến 2018. Chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng đã được thực hiện để nâng cao nhận thức về bệnh dại và các biện pháp phòng ngừa. Kết quả cho thấy, sau can thiệp, kiến thức và thực hành của người làm nghề này đã được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ người tiêm vắc xin phòng dại cũng tăng lên đáng kể. Việc truyền thông hiệu quả đã giúp người dân hiểu rõ hơn về nguy cơ lây nhiễm và cách phòng ngừa bệnh dại.

2.1. Hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe

Chương trình giáo dục sức khỏe đã được triển khai tại các quận huyện của Hà Nội, tập trung vào việc nâng cao kiến thức về bệnh dại và các biện pháp phòng ngừa. Kết quả cho thấy, tỷ lệ người có kiến thức đúng về bệnh dại tăng từ 40% lên 80% sau can thiệp. Ngoài ra, tỷ lệ thực hành phòng ngừa cũng tăng lên, với nhiều người chủ động tiêm vắc xin phòng dại hơn. Điều này chứng tỏ rằng, việc nâng cao nhận thức và thực hành phòng ngừa là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh dại trong cộng đồng.

III. Đánh giá và khuyến nghị

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục duy trì và mở rộng các chương trình giáo dục sức khỏe về bệnh dại. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan y tế và chính quyền địa phương để đảm bảo việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Khuyến nghị cần thiết là tăng cường kiểm soát việc giết mổ chó, đồng thời nâng cao ý thức của người dân về nguy cơ lây nhiễm từ động vật. Việc tiêm vắc xin cho chó cũng cần được thực hiện thường xuyên để giảm thiểu nguy cơ lây lan bệnh dại.

3.1. Khuyến nghị cho chính sách y tế

Chính sách y tế cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh dại và các biện pháp phòng ngừa. Cần có các chương trình tiêm phòng vắc xin cho chó và giáo dục sức khỏe cho người làm nghề giết mổ chó. Ngoài ra, cần có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn đối với việc giết mổ chó để đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng. Việc này không chỉ giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh dại mà còn bảo vệ sức khỏe cho những người làm nghề này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát bệnh dại và các biện pháp phòng chống 1. Ổ chứa bệnh dại Bệnh dại là một căn bệnh lây truyền từ động vật sang động vật và từ động vật sang người do vi rút dại thuộc nhóm Lyssavirus gây nên. Chó là nguồn truyền bệnh chính, chiếm 93%-98% nguyên nhân của đại đa số các trường hợp tử vong vì bệnh dại ở người tại châu Phi và châu Á.

Ngoài ra còn thấy vai trò truyền bệnh của mèo và chuột, chiếm 2% - 4% [121].Theo WHO, nguồn truyền bệnh dại ở các nước Châu Âu, Bắc Mỹ chủ yếu là động vật hoang dã, chiếm tỷ lệ 88%, phổ biến nhất là cáo đỏ, gấu trúc và chồn. Hai nguồn truyền bệnh khác là chó và dơi có tỷ lệ thấp hơn rất nhiều, chiếm khoảng 6% [121]. Ở Việt Nam, chó nhà là ổ chứa vi rút dại chủ yếu (chiếm 96%-97%), ổ chứa vi rút ở mèo (chiếm 3%- 4%), chưa phát hiện được vi rút dại trên các động vật khác [14]. Đường lây truyền bệnh dại sang người Đường lây truyền bệnh dại cho người chủ yếu thông qua vết cắn của con vật mắc dại.Tuy nhiên, bệnh dại cũng có thể được lây truyền thông qua vết liếm trên da tổn thương hoặc cào mà móng vuốt của động vật bị dính nước bọt nhiễm vi rút.

Gần đây, các số liệu báo cáo lây truyền bệnh dại thông qua việc giết mổ động vật, ăn thịt động vật sống hoặc uống sữa tươi không được tiệt trùng cũng đã được báo cáo [64], [65], [96]. Mặc dù hiếm, nhưng bệnh dại có thể lây truyền từ người sang người thông qua việc cấy ghép mô, phủ tạng như ghép giác mạc, gan, thận, phổi [67], [125]. Người ta cũng có thể phân lập được vi rút dại từ các dịch như nước mắt, nước tiểu, dịch não tủy của bệnh nhân bị dại. Do vậy, cần phải có luan an 5 biện pháp phòng bệnh thích hợp khi tiếp xúc với bệnh nhân hoặc các chất tiết của bệnh nhân [125].

Lây truyền từ mẹ sang con trong quá trình mang thai cho tới nay được báo cáo với 1 trường hợp duy nhất [125;67], và một trẻ được sinh ra từ bà mẹ bị lên cơn dại đã không mắc bệnh dại sau khi được tiêm huyết thanh và vắc xin phòng dại ngay sau khi sinh [120]. Một vài trường hợp bị lây nhiễm qua các giọt chứa vi rút ở trong không khí được hình thành trong quá trình nghiền não động vật mắc dại ở phòng thí nghiệm, hoặc trong hang có dơi bị nhiễm dại cũng đã được báo cáo [60], [67], [125]. Bệnh dại ở động vật Ổ chứa thiên nhiên ban đầu của vi rút dại là ở động vật ăn thịt hoang dại sống trên cạn như chó sói, cáo, chồn, gấu trúc, cầy… và các loài dơi hút máu (Mỹ La Tinh), dơi ăn quả, dơi ăn côn trùng (châu Âu, Tây Á). Các ổ chứa động vật hoang dại đóng vai trò duy trì và lan truyền các biến thể vi rút khác nhau phân bố ở các lục địa và vùng địa lý khác nhau, một số loài động vật gần người như trâu, bò, lợn, dê, cừu, ngựa cũng có thể mắc dại.

Ở châu Á, nguồn bệnh chủ yếu và nguy hiểm đối với người là chó (95-98%) và mèo (2- 5%) [121], đặc biệt chó cung cấp cho các lò mổ bị nhiễm dại là nguy cơ mắc bệnh dại đối với người làm nghề giết mổ chó [53]. Tình hình bệnh dại trên thế giới Bệnh dại là bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các bệnh truyền nhiễm, khi xuất hiện triệu chứng bệnh ở người thì tử vong hầu như là 100%, khả năng mắc bệnh sau khi phơi nhiễm với vi rút phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như liều nhiễm (số lượng vết cắn, vết thương trầy xước), đường phơi nhiễm (vị trí bị phơi nhiễm), loài động vật phơi nhiễm, biến thể vi rút, đặc tính di truyền của vật chủ và tình trạng tiêm phòng trước hoặc sau phơi nhiễm [47]. Theo báo cáo của WHO, mỗi năm có trên 15 triệu người bị động vật nghi dại luan an 6 cắn phải đi tiêm phòng tập trung chủ yếu ở Châu Á đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ [120]. Chỉ riêng Trung Quốc mỗi năm có tới trên 5 triệu người bị chó cắn phải tiêm phòng VX [107], trong khi đó tại các nước Châu Âu, số lượng người đi tiêm phòng dại hàng năm chỉ trên 71.

Chủ yếu các trường hợp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm chỉ tiêm VX (Châu Á 99%, Châu Âu: 94%, Châu Phi: 91%) [75].1: Lưu hành bệnh dại trên thế giới – WHO 2017 Theo các báo cáo tại Hội nghị quốc tế lần thứ 4 về giám sát bệnh dại ở Châu Á được tổ chức tại Hà Nội tháng 3 năm 2001 cho thấy các nước trong khu vực Đông Nam Á, hàng năm tỷ lệ chết vì bệnh dại chiếm tới 80% số ca trên toàn thế giới [42], [12], [52]. Bệnh dại gặp ở cả hai giới, tỷ lệ tử vong do dại ở nam giới cao hơn ở nữ giới [1]. Sự chênh lệch này được giải thích là do tính chất công việc của nam giới phải hoạt động nặng và nhiều hơn nữ giới dẫn đến nguy cơ phơi nhiễm cao hơn ở nữ [1]. Bệnh dại xảy ra ở mọi lứa tuổi, trẻ em có nguy cơ mắc dại cao hơn người lớn, 40-60% người phải tiêm phòng sau phơi nhiễm là trẻ em dưới 15 tuổi, đây là lứa tuổi nhỏ hiếu động nên dễ bị động vật cắn và các vết thương thường bị nặng và nhiều [51;52], [94].

luan an 7 Tất cả các loài động vật có vú đều nhạy cảm với lyssavirus và người ta đã biết mức độ nhạy cảm khác nhau tùy theo từng loài [122]. Trong các loài động vật là ổ chứa vi rút dại, thì cáo và các động vật thuộc họ chó khá nhạy cảm với vi rút dại được thể hiện bằng tỷ lệ có kháng thể trung hòa kháng vi rút dại (rVNA) trong huyết thanh ở quần thể động vật này rất thấp, từ 0 – 5% [82], [62]. Nhưng ngược lại, loài dơi lại kém nhạy cảm đối với vi rút dại thể hiện bởi tỷ lệ kháng thể trung hòa kháng vi rút dại trong huyết thanh ở quần thể dơi rất cao, từ 5- 50% [73], [35], [57], [100]. Nghiên cứu của Crepin và CS (1998) cho thấy, chỉ phát hiện được kháng thể kháng dại trong huyết thanh của bệnh nhân lên cơn dại trong 14/68 bệnh nhân (21%) và 26/34 (76%) tương ứng trong vòng 12 ngày và trên 13 ngày sau khởi phát bệnh [43].

Mặc dù bệnh dại ở người có thời gian ủ bệnh khá dài (trung bình 3 tháng), nhưng kháng thể kháng dại lại xuất hiện khá muộn ở những bệnh nhân lên cơn dại do vi rút dại được coi là có cơ chế lẩn tránh đáp ứng miễn dịch của vật chủ thông qua việc xâm nhập, nhân lên trong tế bào cơ và thần kinh của vật chủ [67], [79]. Tuy nhiên, gần đây Gilbert và cs đã phát hiện kháng thể trung hòa kháng vi rút dại ở 6/63 người không có tiền sử tiêm phòng vắc xin dại nhưng liên tiếp bị dơi hút máu cắn và ở đó là vùng được cho rằng dơi hút máu là nguồn truyền bệnh dại [60]. Điều này gợi ý các phơi nhiễm liên tiếp với liều nhỏ có thể kích thích sản xuất kháng thể trung hòa kháng lại biến thể vi rút có nguồn gốc từ dơi trong quần thể người sống ở vùng đó. Một vài nghiên cứu gần đây báo cáo xuất hiện tỷ lệ những người có nguy cơ tiếp xúc với bệnh dại như người làm nghề giết mổ chó, bác sĩ thú y, người nuôi chó cảnh có kháng thể tự nhiên kháng các biến thể vi rút có nguồn gốc từ chó, thuộc genotype 1 trong quần thể người khỏe mạnh [59].

Một số báo cáo gần đây cho thấy chó cung cấp cho lò mổ bị nhiễm vi rút dại như tại Trung Quốc 66/2. Một số quốc gia như Philippines, Trung Quốc, Thái Lan, Việt luan an 8 Nam, và một số nước châu Phi đã ghi nhận lây truyền bệnh dại cho người thông qua việc giết mổ và tiêu thụ thịt chó [65],[128],[92], [32], [49]. Tình trạng chó bị nhiễm vi rút dại ở các lò mổ cho thấy ở các Quốc gia có phong tục ăn thịt chó thì khả năng lây truyền bệnh dại cho người thông qua con đường này sẽ gia tăng nếu các chủ lò mổ chó không ý thức được mối nguy cơ và thực hiện các biện pháp phòng chống [120]. Hơn nữa, việc vận chuyển chó không được kiểm soát bệnh dại giữa các vùng/ quốc gia có dịch sang vùng/quốc gia không có dịch sẽ làm lan truyền bệnh dại một cách nhanh chóng.

Tình hình bệnh dại ở Việt Nam Ở Việt Nam, bệnh dại đã lưu hành từ nhiều năm nay, nguồn truyền bệnh chính từ chó mắc dại, khi bị cắn chó bình thường nên không tiêm chiếm 31,3% [5],[92].Theo số liệu thống kê của Dự án khống chế và loại trừ bệnh dại- Bộ Y tế số ca tử vong do bệnh dại trên cả nước từ năm 2013 đến tháng 10 năm 2018 có 512 ca tử vong, phân bố ở nhiều tỉnh thành trong cả nước (Bản đồ 1. Hằng năm, số ca tử vong do bệnh dại chiếm phần lớn tổng số ca tử vong của tất cả các bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam. Số người bị chó cắn phải tiêm vắc xin dại trung bình mỗi năm là 330.000 người và hàng năm có khoảng 100 ca tử vong. Bệnh dại xảy ra trên quy mô rộng ở 40/63 tỉnh/thành phố trong cả nước, nhất là ở các tỉnh miền núi và trung du, người nghèo thường có nguy cơ cao hơn, vì giá thành điều trị sau phơi nhiễm cao nên khó có khả năng chi trả cũng như gặp phải vấn đề khó tiếp cận tới dịch vụ điều trị dự phòng.

Mặc dù mọi độ tuổi đều có thể mắc bệnh, phổ biến nhất ở trẻ em < 15 tuổi[5],[92]. Bất cứ ai có tiếp xúc thường xuyên, liên tục với nguồn bệnh thì cũng có nguy cơ mắc bệnh dại. luan an 9 Bản đồ 1. Phân bố tử vong do bệnh dại ở Việt Nam, 2013-10/2018 (Nguồn chương trình phòng chống dại-Viện VSDT Trung ương) Miền Bắc, là khu vực có tỷ lệ tử vong cao nhất và tỷ lệ tiêm phòng thấp nhất trong các khu vực, ngược lại miền Nam có tỷ lệ tử vong thấp nhất và tỷ lệ tiêm vắc xin phòng dại cao nhất.

Độ tuổi trung bình của nhóm tử vong là 34 tuổi. Tỷ lệ tử vong ở lứa tuổi lao động cao nhất, ở nam giới cao hơn nữ giới (p< 0,05), nhóm dân tộc thiểu số cao hơn so với người Kinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thực trạng nguy cơ mắc bệnh dại ở người làm nghề giết mổ chó tại Hà Nội (2016-2018)" của tác giả Vũ Hoàng Anh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Kiều Anh và PGS. Hoàng Văn Tân, trình bày một cái nhìn sâu sắc về tình hình bệnh dại trong cộng đồng những người làm nghề giết mổ chó tại Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những nguy cơ tiềm ẩn mà còn đề xuất các biện pháp can thiệp cần thiết để giảm thiểu rủi ro mắc bệnh. Đối với độc giả, bài viết mang lại thông tin quý giá về dịch tễ học và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, từ đó nâng cao nhận thức và hành động phòng ngừa.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh liên quan đến sức khỏe và dịch tễ học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Nghiên cứu đặc điểm bệnh care ở chó nuôi tại Hà Nội và phương pháp phòng trị", nơi cung cấp thông tin về bệnh tật ở chó và cách phòng ngừa. Bên cạnh đó, bài viết "Luận án Tiến sĩ Y học: Ô nhiễm môi trường, bệnh tật và giải pháp can thiệp đối với hộ gia đình chăn nuôi lợn tại Phú Bình, Thái Nguyên" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa môi trường và sức khỏe con người. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ về dịch tễ học phân tử của porcine circovirus type 2 ở lợn tại Việt Nam" sẽ mở rộng thêm kiến thức về dịch tễ học trong lĩnh vực thú y. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến động vật và con người.