CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự 1.1 Khái niệm nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự Để đưa ra khái niệm nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự cần làm rõ được các khái niệm: chứng cứ, nguồn chứng cứ, Tố tụng dân sự Thứ nhất, về khái niệm tố tụng dân sự Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, song song với việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ Nhà nước cần thiết lập các cơ chế bảo đảm thực thi các quyền và nghĩa vụ đó. Như vậy, khi tranh chấp dân sự xảy ra, cần xây dựng các phương thức để giải quyết nó. Có thể khẳng định, trong các phương thức mà các chủ thể có quyền lựa chọn thì phương thức yêu cầu Tòa án bảo vệ là công cụ hữu hiệu nhất mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích1. Trong quá trình Tỏa án giải quyết các quan hệ dân sự, đề việc điều hành công lý phân minh và có hiệu quả thì mỗi chủ thể đều phải tuân thủ những trình tự, thủ tục, thể thức chặt chẽ nhất định, nó được gọi là "Tố tụng dân sự".
Thuật ngữ “tố tụng” có nhiều cách hiểu khác nhau. Về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “tố tụng” được hiểu theo nguyên nghĩa là việc kiện cáo trước Tòa án2. Còn “tố tụng dân sự" được hiểu là một trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết VADS và thi hành án dân sự. Theo Từ điển Luật học của Anh thì tố tụng (procedure) là những bước tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết.
Hay theo phân tích của Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu từ việc nghiên cứu luật của Nhật Bản và Pháp thì nói đến “tố tụng” là nói đến “môn luật liên quan đến Tòa án, đến quyền tư pháp" và theo đó, TTDS là “định lệ tổ chức việc chi phối là điều hành công lý, đặt ra để đảm bảo cho tư nhân các chế tài và tôn trọng quyền lợi trong tư luật”3. Từ phân tích trên có thể thấy mặc dù các tác giả có những cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng đều thống nhất quan điểm rằng: TTDS là trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) tại Tòa án. 1 Nguyễn Thị Thu Hà (2022), Cung cấp, thu thập chứng cứ của đương sự trong Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr.
2 Nguyễn Lân (2003), Từ điển và ngữ Hán Việt, Nxb,. 3 Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự - Tố tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, Sài Gòn, tr. 8 Thứ hai, về khái niệm chứng cứ Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt, chứng cứ là “những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì có thật”4. Hay có thể định nghĩa theo cách khác, chứng cứ là cái có thật, theo một trình tự do luật định được tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết VVDS.
Theo đó, chứng cứ được xem là phương tiện để xác minh sự thật về vụ án. Dưới góc độ pháp lý, việc sử dụng thuật ngữ "chứng cứ" trong khoa học pháp lý từ lâu đã khá mơ hồ; đôi lúc chứng cứ là những điều được một bên đưa ra tại phiên tòa như một phương tiện có thể nhận biết được bằng giác quan để chứng minh những tuyên bố có căn cứ; chứng cứ cũng có thể là sự thật được hình thành bởi lời nói, tài liệu và các vật chất hữu hình; và cuối cùng, chứng cứ có thể là sự thật được sử dụng làm tiền đề để rút ra một suy luận về một vấn đề quan trọng đối với vụ án. Các quốc gia khác nhau, hệ thống luật khác nhau sẽ có những khái niệm khác nhau về chứng cứ. Ví dụ, theo BLTTDS Nhật Bản, chứng cứ là “một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không”.
Điều 401 Luật Chứng cứ Hoa Kỳ quy định chứng cứ “là những gì hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định một hành động hơn hoặc kém hơn”. Ở Việt Nam, thuật ngữ chứng cứ được ghi nhận tại Điều 93 BLTTDS năm 2015 như sau: "Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật…được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp." Dựa vào các định nghĩa trên, có thể rút ra định nghĩa về chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự như sau: Chứng cứ là những gì có thật và tồn tại khách quan, bao gồm tình tiết, sự kiện, tài liệu thực tế được thể hiện dưới một hình thức nhất định, liên quan đến nội dung của vụ việc dân sự, được thu thập theo một trình tự luật định, do các chủ thể nhất định thực hiện, được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự. Thứ ba, về khái niệm nguồn chứng cứ Nguồn chứng cứ trong TTDS là một trong những vấn đề được các nhà lập pháp trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đề cập từ khá sớm, tuy nhiên tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Nếu như tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ thể hiện bình diện khách quan thì tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện bình diện pháp lý.
Thuộc tính này của chứng cứ thể hiện ở việc chứng cứ được chứa đựng trong những nguồn và được thu thập bằng những biện pháp do pháp luật TTDS quy định. Thông 4 Trung tâm Từ điển học (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội, tr. 9 thường, các chủ thể khi chứng minh để tìm kiếm các tình tiết, sự kiện thì phải tìm ở nơi chứa đựng chúng.
Hiện nay, trong một số sách báo pháp lý của nước ta, do khái niệm nguồn chứng cứ chưa được sáng tỏ nên việc sử dụng cụm từ nguồn chứng cứ tồn tại nhiều quan điểm, chưa thống nhất. Mặc dù nguồn chứng cứ là một chế định quan trọng thế nhưng BLTTDS năm 2015 lại không đưa ra định nghĩa về nguồn chứng cứ. Điều 93 BLTTDS năm 2015 chỉ đưa ra định nghĩa khá chung chung về chứng cứ theo hướng phân tích ở trên. Với định nghĩa chứng cứ theo hướng này thì định nghĩa nguồn chứng cứ trong TTDS sẽ khó được định nghĩa phù hợp, nên còn tồn tại nhiều quan điểm.
Theo sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thì “chứng cứ phải được rút ra từ phương tiện chứng minh”5. Ý kiến khác lại cho rằng:“Nguồn được hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp hay rút ra cái gì, điều gì. Do đó nguồn chứng cứ được hiểu là nơi rút ra các chứng cứ”6. Theo quan niệm này, thì nguồn chứng cứ được hiểu theo hai khía cạnh: Thứ nhất, nguồn là nơi xuất hiện, bắt nguồn chứng cứ, phản ánh chân thực, cho ta nhận thức một cách rõ ràng về chứng cứ; Thứ hai, nguồn là nơi chứa đựng chứng cứ mà từ đó có thể rút ra được chứng cứ.
Quan điểm này có nét tương đồng với quan niệm cho rằng nguồn chứng cứ là nơi rút ra được chứng cứ của giáo trình Luật TTDS của Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: “nơi rút ra từ các chứng cứ, bao gồm người, vật, tài liệu chứa đựng tin tức, dấu vết các tình tiết, sự kiện cần chứng minh trong VVDS”7. Trong khi đó, bàn về nguồn chứng cứ trong pháp luật TTDS, tác giả Nguyễn Công Bình cho rằng: “Lý luận chứng cứ đã chỉ ra rằng các chứng cứ của VVDS có thể được phản ánh thông qua ý thức của con người, sự vật, tài liệu, Tòa án và những người tham gia tố tụng mới có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá, sử dụng được chứng cứ. Con người, sự vật, tài liệu chứa đựng các thông tin về VVDS (chứng cứ) được gọi là nguồn chứng cứ”8. Khái niệm này đã phần nào nêu rõ được bản chất của nguồn chứng cứ, tuy nhiên vẫn phản ánh chưa đầy đủ bản chất của nguồn chứng cứ, chưa chỉ ra được mối quan hệ giữa nguồn chứng cứ và chứng cứ, chưa chỉ ra được ý nghĩa của nguồn chứng cứ đối với hoạt động TTDS.
Nhìn chung, nguồn chứng cứ trong TTDS rất đa dạng và phức tạp, đối với mỗi loại nguồn chứng cứ sẽ có giá trị khác nhau trong quá trình chứng minh VVDS. Đối với loại nguồn chứng cứ như vật, tài liệu có giá trị chứng minh cao như hợp đồng vay tài 5 Nguyễn Duy Lãm (1996), Sổ tay pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội tr. 6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 7 Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.
8 Nguyễn Công Bình (2011), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 10 sản có giá trị chứng minh cao đối với tranh chấp liên quan đến vay tài sản), tuy nhiên việc bảo quản chúng thường lại rất khó khăn (ví dụ hợp đồng giấy có thể bị thất lạc, hư hỏng, mất chữ theo thời gian). Còn đối với nguồn chứng cứ như con người thì lại phức tạp và có giá trị chứng minh thấp hơn bởi do con người có thể bị tác động từ nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố tâm lý, khả năng lưu giữ các tình tiết, sự kiện, cảm xúc, tinh thần, sự chi phối vì lợi ích bản thân… Do đó, việc khai thác, sử dụng các loại nguồn chứng cứ này đòi hỏi các chủ thể chứng minh cần phải thận trọng. Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia sẽ có xu hướng ưu tiên các hình thức nguồn chứng cứ khác nhau.