CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái quát về đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Nhật Tiếng Nhật là ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, tức là cấu trúc của từ phân chia thành 2 phần: căn tố và phụ tố. Tiếng Nhật sử dụng nhiều phụ tố khác nhau để cấu tạo từ và biểu thị những mối quan hệ ngữ pháp khác nhau. Mỗi phụ tố trong các ngôn ngữ chắp dính chỉ biểu thị một ý nghĩa ngữ pháp, ngược lại, mỗi ý nghĩa ngữ pháp chỉ được biểu thị bằng một phụ tố.Ví dụ: 話す (hanasu) : す(su) là phụ tố biểu thị dạng nguyên mẫu của động từ.
話した (hanashita) :た (ta) là phụ tố biểu thị thời quá khứ của động từ. 話さない (hanasanai): ない (nai) là phụ tố biểu thị ý nghĩa phủ định của động từ. Trong khi đó, ở một số trường hợp, căn tố có thể hoạt động độc lập. Chẳng hạn động từ 話す (hanasu) có nghĩa là “nói, trò chuyện”, có căn tố là 話し (hanashi), là một danh từ, có ý nghĩa là “cuộc trò chuyện”.
Trong tiếng Nhật, vị ngữ đứng cuối câu là một nguyên tắc bất di bất dịch. Hầu hết các ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng các phương thức biến đổi bên trong từ chứ không phải là bằng trật tự từ trong câu. Điều này khác với tiếng Việt vốn thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp phần lớn bằng trật tự từ, hoặc các hư từ trong câu. Ví dụ câu: “Mèo ăn cá” trong tiếng Việt, nếu thay đổi trật tự từ (chủ ngữ và bổ ngữ) trong câu thành “Cá ăn mèo” thì nghĩa của câu sẽ bị thay đổi hoàn toàn.
Tuy nhiên, trong tiếng Nhật, nhờ chức năng xác định từ của “Trợ từ chỉ cách” (格助詞- kakujoshi) đi kèm mà các từ trong câu dù có đổi chỗ cho nhau cũng không làm thay đổi ý nghĩa, ngoại trừ vị từ ở cuối câu. VD1: ねこが さかなを 食う [neko ga sakana wo kuu] Mèo cá ăn 12 Tạm dịch: Mèo ăn cá Thì câu trên cũng có thể được đảo các thành phần như sau: さかなを、ねこが 食う [sakana wo, neko ga kuu] Cá mèo ăn Nghĩa của hai câu trên vẫn như nhau, không hề có bất cứ sự biến đổi nào. Khái niệm động từ tiếng Nhật Trong bất kì ngôn ngữ nào, động từ luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống từ loại. Cũng như các ngôn ngữ khác, đặc trưng của động từ trong tiếng Nhật là biểu thị ý nghĩa hành động, động tác, trạng thái, … của một chủ thể nào đó.
Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2021) động từ là “Từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay quá trình, thường dùng làm vị ngữ trong câu. “Chạy”, “ở”, “phát triển” đều là động từ.” Có một chút khác biệt so với tiếng Việt là ngôn ngữ mà động từ được nhận diện căn cứ vào mặt ý nghĩa và khả năng kết hợp với các yếu tố khác, trong tiếng Nhật, theo Từ điển 広辞苑 (Koojiten) (Shinmura Izuru chủ biên, 1991), động từ được định nghĩa (tạm dịch) “Là từ biểu thị hành động, tác dụng, trạng thái, sự tồn tại của sự vật, sự việc sẽ diễn biến hoặc biến đổi theo thời gian. Trong chữ quốc ngữ (tiếng Nhật), động từ được phân chia thành các nhóm Ngũ đoạn, Thượng nhị đoạn, Hạ nhị đoạn, Thượng nhất đoạn, Hạ nhất đoạn, trong đó biến đổi hình thái ở các dòng phát âm カ (ka), dòng サ (sa), dòng ナ (na) và dòng ラ (ra)”. Từ định nghĩa này, chúng ta có thể nhận định động từ tiếng Nhật là do đặc trưng hình thái của từ quy định.
Động từ tiếng Nhật ở dạng nguyên thể (hay còn gọi là dạng từ điển) được cấu tạo từ một bộ phận thân từ (căn tố) mang ý nghĩa từ vựng và một bộ phận cuối từ (vĩ tố) có chức năng linh hoạt biến đổi tùy vào vị trí của động từ trong câu và tùy vào sự kết hợp 13 của động từ với các từ loại khác. Dưới dạng văn tự, bộ phận thân từ được viết bằng chữ Hán, hoặc có một phần là chữ Hán và một phần là chữ Hiragana, còn bộ phận cuối từ luôn luôn được viết bằng chữ Hiragana. VD 2: 書く [kaku] có 書 [ka] là căn tố và く[ku] là vĩ tố kết thúc từ. Động từ 書く có nghĩa là viết (chữ).
寝る [neru] có 寝 [ne] là căn tố và る [ru] là vĩ tố kết thúc từ. Động từ 寝る có nghĩa là ngủ. 話す [hanasu] có 話 [hana] là căn tố và す[su] là vĩ tố kết thúc từ. Động từ 話 す có nghĩa là trò chuyện.
Hình thái là tiêu chí hàng đầu, rất quan trọng để xác định và phân biệt động từ với các từ loại khác. Có thể xác định một từ nào đó không phải là động từ hay không, thông qua bộ phận cuối từ. Bộ phận này đều là các âm tiết thuộc hàng phát âm [u]: う[u],く [ku], す[su], つ[tsu], ぬ[nu], ぶ[bu], む[mu], る[ru]. Trong câu, động từ tiếng Nhật không biến đổi dạng thức theo ngôi và số của chủ thể hành động như tiếng Anh, nhưng bộ phận cuối từ sẽ biến đổi theo các ý nghĩa ngữ pháp mà chúng thể hiện trong câu.
Chẳng hạn như với động từ 書く[kaku] ta có : - Sắc thái lịch sự được diễn đạt bằng cách thêm hình vị ます [masu] vào căn tố của động từ. Lúc này vĩ tố く[ku] biến đổi thành き[ki], và hình vị ます[masu] là phần được thêm vào tạo thành động từ dạng lịch sự: 書く[kaku] – viết (dạng nguyên thể) 書きます [kakimasu] – viết (dạng lịch sự) 14 - Ý nghĩa phủ định được tạo ra do việc chắp dính hình vị ない vào căn tố. Lúc này vĩ tố く biến đổi thành か và hình vị ない được thêm vào tạo thành dạng phủ định. Lúc này vĩ tố く[ku] biến đổi thành かれる và かせる lần lượt tạo thành dạng bị động và dạng sai khiến.
書く[kaku] – viết (dạng nguyên thể) 書かれる [kakareru] – viết (dạng bị động) 書かせる[kakaseru] – viết (dạng sai khiến) Khác với tiếng Việt là ngôn ngữ mà các ý nghĩa ngữ pháp của động từ thể hiện nhờ các hư từ, động từ tiếng Nhật có các ý nghĩa ngữ pháp thể hiện thông qua các hình vị khác nhau kết hợp với các căn tố của động từ, từ đó cùng một lúc có thể biểu đạt nhiều ý nghĩa ngữ pháp khác nhau: 書いて [kaite] – viết (dạng liên dụng (conjunctive form) ) 書きたい [kakitai] – muốn viết 書ければ [kakereba] – nếu viết 書けなければ [kakenakereba] – nếu không viết Do hầu hết các ý nghĩa ngữ pháp đều được biểu thị trong nội bộ động từ nên có sự quy định rõ ràng về việc phân bố vị trí của các nhóm hình vị: Bộ phận mang ý nghĩa 15 từ vựng luôn đứng trước, tiếp theo đó là bộ phận mang ý nghĩa ngữ pháp, cuối cùng là bộ phận biểu thị mối quan hệ của động từ với các động từ hay với các mệnh đề khác trong câu như: quan hệ ngang bằng, quan hệ trái ngược, quan hệ nhân quả. Mỗi hình thức xuất hiện của động từ là để biểu thị một thực tế khách quan nào đó đã được đặt trong một thể đối lập đa dạng, nhiều chiều với các hình thức ngữ pháp tiềm ẩn trong nhận thức của người nói và người nghe. Điều quan trọng để có thể lĩnh hội một phát ngôn là phải nắm được động từ. Thái độ, mục đích, yêu cầu của người nói đều được thể hiện qua động từ.
Phân loại động từ trong tiếng Nhật Dựa vào ý nghĩa từ vựng, khả năng biến hình, khả năng kết hợp với các yếu tố khác. động từ tiếng Nhật có thể chia thành nhiều tiểu loại khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại thuộc các hướng nghiên cứu khác nhau. Phân loại động từ theo nghĩa Đây là cách phân loại phổ biến nhất trong các sách giáo khoa dạy tiếng Nhật.
Theo cách phân loại này, động từ được chia thành 2 tiểu loại là “tự động từ” (自動詞- nội động từ) và “tha động từ” (他動詞 – ngoại động từ). Suzuki Shigeyuki trong cuốn “Lý thuyết về hình thái và ngữ pháp học tiếng Nhật” (形態論・序説, 1996) đã viết: “Về ý nghĩa từ vựng có thể cho rằng ngoại động từ biểu thị các hành động hướng tới một đối tượng khác, về mặt ngữ pháp ngoại động từ kết hợp với các danh từ biểu thị đối tượng mà cách hành động này hướng tới ở dạng đối cách. Những động từ không mang đặc tính ngữ pháp này là nội động từ ”. Luận án Động từ tiếng Nhật – Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki của Trương Thị Mai (2016) đã chỉ ra: 16 Tự động từ (Nội động từ): Tự động từ là những động từ diễn tả hành động trọn vẹn, không đòi hỏi những bổ ngữ chỉ đối tượng tác động.
Tự động từ được chia thành hai nhóm nhỏ : - Tự động từ biểu thị hành động ở trạng thái tĩnh: có các động từ như ある(aru- tồn tại); 見える[mieru] – nhìn thấy; 聞こえる[kikoeru] – nghe thấy. - Tự động từ biểu thị hành động ở trạng thái động: 行く[iku] - đi; 泳ぐ[oyogu] - bơi; 笑う[wararu] - cười. Tha động từ (Ngoại động từ): Tha động từ là những động từ biểu thị những hành động có chi phối tới các đối tượng khác, đòi hỏi phải có bổ ngữ trực tiếp thể hiện đối tượng của các hành động. Ta có các động từ 買う [kau] – mua; 食べる [taberu] – ăn; 読む [yomu] – đọc.
có bổ ngữ trực tiếp được biểu thị bằng hậu giới từ を[o] (助詞- joshi).1 ご飯を食べる。[gohan wo taberu] – Tạm dịch: Ăn cơm 3.2 野菜を買う 。[yasai wo kau] – Tạm dịch: Mua rau Tuy nhiên đây không phải là tiêu chí duy nhất để phân biệt nội động từ và ngoại động từ, vì trên thực tế cũng có một số nội động từ đi kèm với các bổ ngữ xác định bởi hậu giới từ を [wo].1 人を笑う [hito wo warau] – Tạm dịch: cười người khác 4.2 トンネールを通る [toneeru wo tooru] – Tạm dịch: băng qua đường hầm 17 Ngoài ra, luận án Động từ tiếng Nhật – Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki của Trương Thị Mai (2016) còn chỉ ra “Việc phân biệt tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật còn có thể dựa trên một số tiêu chí như: hình thức và hoạt động của từ trong câu. Trong tiếng Nhật, có những tự động từ và tha động từ đối ứng với nhau về cả nghĩa và hình thức tạo thành một cặp tự động từ – tha động từ có cùng căn tố. Trường hợp này có thể dựa vào hình thái mà dễ dàng nhận ra đâu là nội động từ đâu là ngoại động từ”. Chẳng hạn như: VD5: 5.1 授業が始まる [jugyoo ga hajimaru] – Tạm dịch: tiết học bắt đầu 5.