Chương 1: TÌNH HÌNH NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY 1. Nhu cầu năng lượng của Trung Quốc Sự phát triển kinh tế quá nóng trong 2 thập kỷ qua đã biến Trung Quốc từ một nước xuất khẩu thành nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới. Lượng dầu tiêu thụ hàng ngày của Trung Quốc tăng từ 2,12 triệu thùng năm 1990 lên 7 triệu thùng vào năm 2010 và dự báo 12,8 triệu thùng vào năm 2025, trong đó lượng nhập khẩu vào khoảng 9 triệu thùng, chiếm 70% tổng nhu cầu. Lượng khí đốt tiêu thụ tại Trung Quốc tăng từ 25 tỷ m3 năm 2000 đến 100 tỷ m3 năm 2010.
Nhu cầu tiêu thụ khí đốt tại Trung Quốc đã vượt quá khả năng tự sản xuất khí đốt trong nước từ năm 2007. Lượng khí đốt Trung Quốc nhập khẩu vẫn tăng đều đặn từ năm 2006, đến năm 2010 thì tăng đột biến. Để đáp ứng nhu cầu với khí đốt ngày càng tăng mạnh, Trung Quốc hy vọng sẽ tăng gấp đôi lượng khí đốt sản xuất trong nước từ 102 tỷ m3 năm 2011 lên 180 tỷ m3 vào năm 2020. Trung Quốc dự định sẽ tăng lượng khí đốt nhập khẩu từ mức 28,1 tỷ m3 trong năm 2011 lên 77 tỷ m3 vào năm 2020.2] Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, trong 25 năm tới, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc tăng sẽ chiếm khoảng hơn 1/5 nhu cầu trên toàn cầu.
Theo Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc Nghiêm Lục Quang, đến năm 2050, Trung Quốc sẽ sử dụng tới trên 800 triệu tấn dầu/năm. Do hạn chế về tài nguyên và khả năng sản xuất, sản lượng dầu trong nước Trung Quốc sẽ ổn định ở khoảng 200 triệu tấn/năm và phải phụ thuộc vào nhập khẩu tới 75%.1] Trước tình trạng thiếu hụt năng lượng, sở hữu xe hơi tăng, vận chuyển hàng không trên khắp lãnh thổ Trung Quốc và nhu cầu năng lượng tăng mạnh trong các ngành chiến lược quan trọng như nông nghiệp, xây dựng, sản xuất thép và xi măng, Trung Quốc đang phải gánh chịu một sức ép năng lượng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khổng lồ và buộc phải tìm hướng tiếp cận với các nguồn năng lượng trên thế giới. Sự phát triển kinh tế chóng mặt của Trung Quốc đang khiến nước này đi tìm những nguồn cung cấp dầu nhằm đảm bảo cho sự phát triển. Hiện Trung Quốc nhập khẩu 40% lượng dầu thô và dự kiến, đến năm 2025, lượng dầu thô nhập khẩu sẽ là 80%.
Chính phủ Trung Quốc đang thực hiện một chính sách thâu tóm các nguồn tài nguyên khiến nhiều nước phải lo ngại. Bắc Kinh đã cử người đi khắp nơi để mua dầu, từ Trung Đông đến Trung Á, từ châu Phi đến Mỹ La-tinh, và sẵn sàng mua lại những công ty khai thác dầu thua bị lỗ hay thương lượng với những quốc gia giàu tài nguyên nhiên liệu để bảo đảm nguồn cung cấp năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc. Từ năm 1993, Trung Quốc bắt đầu phải nhập khẩu dầu và là nước tiêu thụ dầu lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, chiếm 40% sự gia tăng nhu cầu dầu thô của thế giới kể từ năm 2000. Mức dự trữ dầu của Trung Quốc khoảng 18 nghìn tỷ thùng và dầu nhập khẩu chiếm 1/3 lượng tiêu thụ dầu thô.
Trung Quốc đã đưa ra hàng loạt chính sách đối phó với tình trạng thiếu hụt năng lượng ngày càng gia tăng, trong đó có đẩy mạnh các hoạt động thăm dò; đa dạng hoá nguồn năng lượng như than đá, khí đốt, năng lượng tái sinh, năng lượng hạt nhân; tăng cường bảo tồn năng lượng và khuyến khích đầu tư vào công nghệ năng lượng thân thiện với môi trường. Như vậy, an ninh năng lượng đã đóng vai trò sống còn đối với sự ổn định và an ninh của Trung Quốc. Hiện Trung Quốc đang đẩy mạnh nỗ lực ―bảo vệ‖ đường biển, tuyến vận tải vốn đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển dầu mỏ, đồng thời vươn ra các khu vực giàu nguồn năng lượng như Trung Đông, châu Phi, Trung Á, Nga, châu Mỹ La-tinh và Biển Đông. Ở trong nước, Trung Quốc đã mở rộng khai thác nguồn năng lượng quan trọng là thủy điện.
Bắc Kinh đã lao vào công cuộc đắp đập ngăn sông, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bất chấp mọi hậu quả về môi trường và dân sinh. Hiện công suất thủy điện Trung Quốc đạt 190.000 MW/năm, dự tính sẽ được tăng lên mức 380. Ở mức này, chỉ riêng ngành thủy điện cũng đã giúp ngành năng lượng tái tạo đạt mức 10% tổng mức năng lượng tiêu thụ trên cả nước. Thực trạng năng lượng của Trung Quốc Sau hơn 30 năm cải cách và mở cửa, thành tựu lớn nhất của ngành năng lượng Trung Quốc là hỗ trợ cơ bản cho sự tăng trưởng với tốc độ cao của nền kinh tế quốc dân.
Nhưng sự phát triển của ngành năng lượng ngày càng khó thoả mãn nhu cầu tăng trưởng kinh tế quốc dân và cải thiện đời sống người dân. Vì vậy, vấn đề năng lượng đã trở thành vấn đề lớn đối với Trung Quốc, thể hiện ở những mặt sau: Thứ nhất, mâu thuẫn giữa cung và cầu về năng lượng ngày càng nổi bật. Nhiều năm qua, tốc độ phát triển của ngành năng lượng không theo kịp nhu cầu năng lượng. Trong năm 2004, việc thiếu điện diễn ra tại 21 tỉnh, thành phố ở Trung Quốc.
Vào lúc cao điểm sử dụng điện, việc cung ứng điện thiếu từ 20-30 triệu KW/ngày. Việc thiếu điện trong cả nước vẫn là vấn đề Trung Quốc khó có thể khắc phục trong thời gian ngắn. Thứ hai, nhu cầu về dầu mỏ tăng mạnh, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu bên ngoài tăng nhanh. Năm 2004, nhu cầu về dầu mỏ của Trung Quốc tăng đến mức cao nhất trong 28 năm qua, số lượng dầu thô nhập khẩu lên tới 122,8 triệu tấn.
Cộng thêm việc nhập khẩu các dầu thành phẩm, số lượng nhập khẩu tịnh của cả nước lên tới 151,5 triệu tấn, chiếm 48% trong tổng lượng nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc. Trong đó, số lượng dầu thô nhập khẩu chiếm 41% (năm 1996 chỉ chiếm 1,2%). Năm 2005, số lượng dầu thô nhập khẩu là 127 triệu tấn.2] Thứ ba, mâu thuẫn có tính kết cấu của ngành năng lượng trở nên nổi bật. Trong các loại năng lượng thông thường, việc thiếu hụt chủ yếu tập trung 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào các sản phẩm năng lượng sạch và có hiệu suất cao, đặc biệt là dầu mỏ.
Theo Cơ quan năng lượng quốc tế, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc lần lượt là 60,5% năm 2010, 76,9% năm 2020 và 82% năm 2030. Năm 2010 và năm 2020, lượng khí đốt nhập khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước lần lượt ở mức 30% và 50%.2] Thứ tư, mâu thuẫn phát triển năng lượng và bảo vệ môi trường trở nên gay gắt. Trong các loại năng lượng, than đá chiếm vị trí chủ đạo. Tuy nhiên, việc sử dụng than đá dưới hình thức đốt trực tiếp dẫn đến ô nhiễm môi trường, nên các cơn mưa axít, khí sun-phua, bụi bặm lan rộng.
Dự kiến, đến năm 2020, Trung Quốc sẽ đứng trước thách thức nghiêm trọng về sự gia tăng của lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.2] Thứ năm, hiệu suất sử dụng năng lượng thấp. Phương thức sản xuất thô diễn ra trong thời gian dài khiến năng lượng của Trung Quốc bị lãng phí nghiêm trọng. Hiệu suất sử dụng năng lượng của Trung Quốc thấp hơn các nước tiên tiến tới 10%. Năm 1993, lần đầu tiên Trung Quốc từ nước xuất khẩu trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ.
Từ năm 2003, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới, sau Mỹ. Đến nay, Trung Quốc đã vượt Mỹ về lượng dầu mỏ nhập khẩu hàng năm. Chỉ riêng Trung Quốc đã chiếm tới 1/3 lượng gia tăng nhu cầu dầu mỏ hàng năm trên thế giới.1] Năm 2008, Trung Quốc sản xuất 4 triệu thùng/ngày, nhưng lại tiêu thụ 7,8 triệu thùng/ngày. Năm 2009, trữ lượng dầu mỏ được xác định là 16 tỷ thùng và khí đốt là 2,2 nghìn tỷ m3.
Do đó, Trung Quốc đã phải nhập khẩu khoảng 3,9 triệu thùng/ngày. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP vào năm 2020, lượng dầu mỏ tối thiểu mà Trung Quốc cần là 450 triệu tấn/năm, và mức tối đa là 610 triệu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tấn/năm, trong khi dự đoán sản lượng dầu mỏ sản xuất trong nước chỉ đạt từ 180-200 triệu tấn. Điều này có nghĩa sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp dầu mỏ từ nước ngoài lên tới 55%. Cũng phải thấy rằng, Trung Quốc đã xây dựng được một cơ chế quản lý chặt chẽ và tác động hết sức sâu rộng lên mọi mặt của ngành năng lượng Trung Quốc.
Khi nhà nước đã giữ quyền lực tuyệt đối trong ngành năng lượng, thì các công ty quốc doanh sẽ nhận được những ưu đãi từ chính phủ đem lại. Các tập đoàn quốc doanh trong ngành năng lượng Trung Quốc như CNOOC, CNPC và SINOPEC là ba tập đoàn thống trị hầu như toàn ngành năng lượng trong nước. Các tập đoàn này luôn nhận được những hạng mục đầu tư béo bở trong ngành năng lượng, đặc biệt là ngành khí đốt, mỗi khi chính phủ tuyên bố đấu thầu. Tuy nhiên, giá cả, năng suất khai thác, chiến thuật giữ hàng hay xả hàng, tất cả đều phải tuân theo chỉ thị từ chính phủ.
Đôi khi các tập đoàn này phải hứng chịu các ―khoản thua lỗ khổng lồ‖ vì phải bán xăng dầu trong nước thấp hơn giá bán của thị trường thế giới. Chính sự tác động quá sâu của chính quyền vào ngành năng lượng khiến cho hoạt động khai thác của các công ty quốc doanh luôn ―máy móc‖ và mất đi tính đột phá. Việc được độc quyền khai thác khí đốt trong nước cũng khiến ngành công nghiệp khai thác khí đốt ở Trung Quốc trở nên trì trệ, thiếu tính cạnh tranh và hậu quả là dậm chân tại chỗ. Tuy nhiên, theo ông Zhou Jiping, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị của Tập đoàn CNPC, không phải năng lượng tái tạo sẽ lên ngôi trong thời gian tới, mà chính khí đốt sẽ dần trở thành một trong những nguồn cung năng lượng chính cho Trung Quốc trong thời gian trước mắt và trung hạn.
Theo ông, cùng với việc phát triển ngành công nghiệp thân thiện với môi trường, ngành khí đốt Trung Quốc được quyết định trực tiếp bởi chính các tập đoàn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng lượng lớn như CNPC, CNOOC và SINOPEC, chứ không phải là chính phủ.