Chương 1 N H ẬN THỨC CHƯNG VỀ ĐẠ O ĐỨ C NG H Ề NGHIỆP CÙA NHÀ BÁO I. QUAN NIỆM CHUNG VÈ ĐẠO ĐỨC ỉ. Khái niệm Theo quan niệm cổ truyền phương Đông, đạo đức có nghĩa là “đạo làm người”, bao gồm nhiều chuẩn mực về các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, bạn bè, anh em, làng xóm. ở phương Tây, khái niệm đạo đức bắt nguồn từ chừ “mos” trong tiếng La-tinh, có nghĩa là “lề thói”, moralis có nghĩa là “thói quen”.
Như vậy, khi nói đến đạo đức là nói đến các lề thói và tập tục biểu hiện trong mối quan hệ giao tiểp hàng ngày giữa người với nguời. Thuật ngừ quốc tế của đạo đức la “moraĩ”. Theo Các Mác, đạo đức là một “hình thái ý thức xã hội” chịu sự tác động qua lại cùa các hình thái ý thức xâ hội khác, và cùng với các hình thái ý thức xâ hội ấy, đạo đức chịu sự quy định cùa xà hội, phản ánh tồn tại xã hội. Do đó, đạo đức có “bàn chất xã hội”.
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa “là một hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử cùa con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bời truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”. 5 Như vậy, với tư cách là một hình thải ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Thích ứng với mỗi một xã hội thì có một đạo đức xã hội tương ứng. Suy cho cùng, sự phát sinh, phát triển của đạo đức phụ thuộc vào sự phát triển của phương thức sản xuất.
Cùng với nhiều phương thức điều chình hành vi con người, đạo đức đánh giá hành vi con người theo các chuẩn mực và các giá trị như thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, đúng và sai, cái phải làm vả cái không được làm, cái nên làm và cái không nên làm. Việc yêu nước, thưong dân, kính trên nhường dưới, hiếu thuận với cha mẹ, đối xử chan hòa với anh em, bạn bè, hàng xóm. đều do các chuẩn mực đạo đức cùa xã hội chi phổi các hành vi cá nhân. Chuẩn mực đạo đức là phương thức điều chỉnh ưu việt và đặc thù cửa xã hội loài người, giúp con người có khả năng tự hoàn thiện mình và phát triển ngày một văn minh, tiến bộ.
về mặt xã hộu đạo đức được biểu hiện bằng thái độ cụ thể của dư luận xă hội. Đó là những ỷ kiến, trạng thái tinh thần tán thưởng, khẳng định (tích cực) hoặc phê phán, phủ định (tiêu cực) của một số đông người đối với một hành vi, ý tưởng của cá nhân hay một nhóm người nào đó. v ề mặt cá nhân, đạo đức được coi là “tòa án lương tâm” có khả năng tự phê phán, đánh giá và suy xét từng hành vi, thái độ và ý nghĩ trong bản thân mỗi cá nhân. Xét về bản chất, sự điều chinh của đạo đức mang tính tự giác, là sự tự ỉựa chọn của mỗi người.
Đạo đức được bảo đảm băng lương tâm và sự phê phán cùa dư luận xã hội, chỉ khuyên giải, can ngăn để con người tự lựa chọn. Từ những chuẩn mực và quy tẩc chung, mỗi cá nhân tự chọn lựa và có nghĩa vụ, trách nhiệm chuyển những yêu cầu đạo đức xã hội đó thành nhu cầu, mực đích và sự hứng thú của bản thân. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là sự tự giác tuân theo những quy tẳc, chuẩn mực mà xã hội đã đề ra. Vì vậy, ngoài biểu hiện trong các quan hệ xã hội, đạo đức còn thể hiện trong thái độ, hành vi và việc tự ứng xử cùa bân thân mỗi con người.
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, do đó, đạo đức có bản chất xã hội. Bản chất xã hội của đạo đức biểu hiện ờ tính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp. Tính thời đại của đạo đức: Mặc dù có tính độc lập nhất định nhưng các điều kiện kinh íế - xã hội của mỗi thời đại có sự tác động, quy định nội dung và vai trò của đạo đức trong thời đại đó. Nghĩa là, tương ứng với mỗi thời đại lịch sử Ịà một hình thái đạo đức nhất định đặc trưng cho thời đại đó.
6 Tỉnh dân tộc của đạo đức: Sự khác nhau về điều kiện kinh tế, về những yếu tố tự nhiên như (địa lý, khí hậu, khu vực cư trú.), về bàn sắc văn hóa giữa các vùng miền, dân tộc cũng dẫn đến những sự khác nhau trong các chuẩn mực đạo đức. Tính giai cấp: Sự khác nhau về ỉợi ích giữa các giai cấp dẫn đến các chuẩn mực đạo đức khác nhau. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức chính thống là đạo đức của giai cấp thống trị. Đạo đức được cấu thành từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.
Đạo đức xã hội được hình thành từ thực tiễn đạo đức của cá nhân. Trong quá trình sinh sống của mỗi cộng đồng người, những nguyên tắC) chuẩn mực, quan niệm và lý tường đạo đức được hình thành như là hệ thống giá trị chung được mọi thành viên tin tường và noi theo. Đen lượt mình, chúng tác động tới đạo đức cá nhân, điều chỉnh hành vi cá nhân theo yêu cầu của chúng, Đạo đức cá nhân là biểu hiện của đạo đức xã hội trong những cá nhân riêng biệt, cụ thể. Do vậy, có thể coi sự hình thành đạo đức cá nhân là quá trình xã hội hóa cá nhân về mặt đạo đức.
Mức độ xã hội hóa đánh dấu trình độ phát triển của đạo đức cá nhân. Đạo đức xà hội và đạo đức cá nhân có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Phương thức chuyển đạo đức xã hội thành đạo đức cả nhân !à hệ thống giáo dục đạo đức (bao gồm cả tự giáo dục). Chức năng của đạo đức 2 /.
Chửc năng nhện thức Mục đích của nhận thức đạo đức là đánh giá các sự kiện, hiện tượng xã hội, hành vi, hành động, tinh cảm con người. theo các thang giá trị (thiện và ác, đúng và sai, nên và không nên.)- Phải có chù thể nhận thức và đổi tượng nhận thức thì mới cỏ kết quả nhận thức. Kết quả nhận thức phụ thuộc phần nhiều vào sự đánh giá, trình độ, quan điểm, quan hệ lợi ích. cùa chù thể nhận thức.
Do đó, trước một hiện tượng đạo đức nhất định, các chù thể nhận thức sẽ có những đánh giá, nhận định khác nhau, không thống nhất. Tuy nhiên, trong trường hợp chủ thể nhận thức bị phân chia, không thể thống nhất được thì vẫn có nhũmg tiêu chí khách quan để đánh giá nhận thức đạo đức và kết quả cùa nhận thức đạo đức. Tiến bộ xã hội và tự do của con người là hai tiêu chí do quan điểm mác xít đưa ra. Chức năng điều chĩnh Đạo đức là một trong những phương thức điều chỉnh thái độ và hành vi của con người trong xã hội.
Đặc trưng của điều chỉnh đạo đức là tính tự giác và tự nguyện của từng cá nhân con người. Với khà năng, trình độ nhận thức cua minh, họ tự lĩnh hội các giá trị, chuẩn mực đạo đức, sau đó biến chúng thành động cơ, mục đích hành động của mình. Như vậy, điều chinh đạo đức được thực hiện thông qua tác động của ý thức đạo đức đối với hành vi con người. Hiệu quà và phạm vi điều chình đạo đức phụ thuộc vào nhân tố chù quan và nhân tố khách quan.
Nhân tố chủ quan chính là trình độ phát triển của ý thức đạo đức. Nhân tố khách quan là các quan hệ kinh tế - xã hội. Chức năng giáo dục Tác động của hệ thông đạo đức xà hội tới sự hình thành đạo đức cá nhân chính là sự thể hiện và thực hiện chức năng giáo dục đạo đức. Sự hình thành đạo đức cá nhân cùa mồi người được thực hiện thông qua hai phưong thức.
Một là, nhận thức đạo đức của cá nhân. Đây là quá trình chuyển đạo đức xã hội thành đạo đức cá nhân. Theo con đưòmg này, những kinh nghiệìi, quan niệm, chuẩn mực của đạo đức xã hội sẽ được cá nhân nhận thức và chuyển hóa thành ý thức đạo đức cá nhân. Cùng với giáo dục đạo đức, tự giảo dục đạo đức cũng là phương thức chuyển đạo đức xã hội thành đạo đức cá nhân.
Hai là, hoạt động thực tiễn đạo đức của cả nhân. Thông qua việc lĩnh hội các chuẩn mực, giá Irị <íạo đức, các cá nhân lự giác định hưOTg, điều chình hành vi cùa mình sao cho phù hợp với các yêu cầu của xã hội. Nghĩa là, trong khi hoạt động thực tiễn, con người vùa khẳng định những giá ừị, chuẩn rnực đạo đức nià mình lĩnh hội được, vừa khảng định sự phát triển ý thúc đạo đức cùa bản thân. ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA NHÀ BÁO 1.
Đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận cùa đạo đức xã hội, là đạo đúc trong một lĩnh vực cụ thể trong đạo đức chung cùa xã hội. Đạo đức nghề nghiệp bao gồm những yêu cầu đạo đức đặc biệt, các quy tắc và chuẩn mực trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, nhàm điều chinh hành vi cùa các thành viên trong nghề nghiệp đó sao cho phù hợp với lợ: ích và sự tiển bộ cùa xà hội. 8 Xã hội đòi hỏi người hành nghề trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cơ bản. Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội có nét chung, nhưng phẩm chất đạo đức trong từng nghề nghiệp lại có nhừng nét đặc thù và yêu cầu riêng biệt.
Tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực trong đạo đức nghề nghiệp vừa góp phần vào tăng trưởng kinh tế, vừa tạo điều kiện nâng cao chất lượng lao động, hoàn thiện ngirời lao động trong nghề nghiệp đó. Nghề nào cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, song, một số nghề có vị trí quan trọng đặc biệt và mối quan hệ rộng rãi tới nhiều người trong xã hội như nghề giáo, nghề báo, nghề y, nghề luật, an ninh, tòa án. thì đạo đức nghề nghiệp được đặc biệt coi trọng. Với những nghề này, bên cạnh những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung cho tất cả các quốc gia như đạo đức người thầy giáo, đạo đức người thầy thuốc, đạo đức quan tòa, đạo đức nghề báo.
thì mỗi nước, trong mỗi thời kỳ lịch sử lại đề ra những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp riêng cho người hành nghề ở nước mình.