Chương 1 VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ THỜI ĐẠI TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC 1.1 Khái niệm thời đại 119 Trong Từ điển Anh – Việt 1 , từ “age” có nhiều nghĩa trong tiếng Việt. Trong đó có một nghĩa là “thời đại”. Ở nghĩa này nó được dùng để chỉ “thời kỳ lịch sử có những đặc điểm hoặc những sự kiện đặc biệt”. Trong Từ điển tiếng Việt, ở cả cuốn thứ nhất của Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2 và cuốn thứ hai của Nxb Thanh niên 3 đều giải thích: “Thời đại: 1.
giai đoạn lịch sử đánh dấu bằng những sự việc ít nhiều có tính chất giống nhau và những chuyển biến quan trọng của xã hội về mặt chính trị, văn hóa, khoa học, nghệ thuật… có khi tiêu biểu là một nhân vật đã đóng góp công lao lớn: thời đại trung cổ; thời đại Phục hưng; thời đại Hồ Chí Minh; thời đại nguyên tử. Mỗi giai đoạn của tiền sử: thời đại đồ đá”. Trong Đại từ điển tiếng Việt 4 cũng viết: “Thời đại (danh từ): khoảng thời gian lịch sử dài, được phân chia ra theo những sự kiện có đặc trưng giống nhau: thời đại đồ đá, thời đại văn minh”. Như vậy, từ các khái niệm trên có thể thấy về cơ bản thời đại có hai tính chất quan trọng nhất là phạm vi và đặc trưng.
Chính phạm vi và đặc trưng là hai yếu tố cơ bản nhất đã làm nên cái gọi là thời đại. Và bởi thế, còn có rất nhiều quan niệm về thời đại, song mọi cách hiểu về thời đại đều phải gắn với hai tính chất này. Tính phạm vi của thời đại chỉ rõ, thời đại luôn là một giai đoạn. Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn, có thể xác định mốc thời gian cụ thể tới niên đại, năm tháng hoặc không.
Trong lịch sử, các thời đại như thời cổ đại, trung đại… có phạm vi dài và không xác định được thời gian cụ thể tới năm, còn các thời đại như “chế độ dân chủ Aten phát triển lên đến đỉnh cao” ở Hy Lạp cổ đại [37, tr.75], “từ 1861 đến 1905” như Lênin khi viết về L. Tôn–xtôi đã 1 Do Hồ Hải Thụy, Chu Khắc Thuật, Cao Xuân Phổ biên soạn, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1997. 2 Xuất bản năm 1977, in lần 2, do Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý, bổ sung.
3 Xuất bản năm 2002, do Hùng Thắng, Thanh Hương, Bàng Cẩm biên soạn. 4 Do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb văn hóa – thông tin, 1998. 119 xác định [43]… có phạm vi ngắn hơn và xác định được mốc thời gian tới năm. Về tính đặc trưng, một thời đại được xác định bởi “những đặc điểm hoặc những sự kiện đặc biệt”, nghĩa là mang những đặc trưng đặc biệt.
Chính tính chất “đặc biệt” của thời đại là điểm để phân biệt giữa thời đại với khái niệm giai đoạn hay thời kỳ. Trong lịch sử, thực tế không có giai đoạn nào mà lại không thuộc vào bất cứ một thời đại nào, nhưng cũng có những giai đoạn thuộc về một thời đại lớn nào đó nhưng chỉ riêng bản thân nó thì không được gọi là thời đại nếu như không được xác định đặc trưng với tính chất “đặc biệt”. Chẳng hạn, giai đoạn từ 1900 tới những năm cuối của thập niên 20 của thế kỷ XX ở Việt Nam chỉ được gọi là “thời kỳ những năm đầu thế kỷ XX”. Và việc xác định thời đại còn phụ thuộc vào các quan điểm, tiêu chí của từng ngành, từng lĩnh vực.
Bởi vậy không chỉ tồn tại các thời đại theo quan điểm có tính chất bao quát nhất là lịch sử xã hội, mà còn tồn tại các thời đại theo quan điểm của các lĩnh vực nhỏ hơn như kinh tế, chính trị, triết học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giai cấp v.v… Nhưng dù theo quan điểm, tiêu chí nào thì việc xác định thời đại vẫn phải dựa vào các đặc trưng có tính chất “đặc biệt”, “quan trọng” của một giai đoạn lịch sử nhất định. Và bất cứ thời đại nào cũng đều có thể chi phối, tác động tới sự hình thành tác phẩm văn học.2 Ảnh hưởng của thời đại đối với tác phẩm văn học Tìm hiểu sự ảnh hưởng của thời đại đối với tác phẩm văn học, luận văn tìm hiểu qua sự chi phối, tác động của thời đại đối với nhà văn, và đối với nội dung và hình thức tác phẩm.1 Sự chi phối, tác động của thời đại đối với nhà văn 119 Sự tác động của thời đại đối với nhà văn thông qua quá trình nhận thức và phản ánh. Hiện thực khách quan là nguồn gốc của nhận thức. Nhà văn nhận thức hiện thực khách quan của thời đại và phản ánh vào trong tác phẩm của mình.
Qua lăng kính của nhà văn, thế giới bên ngoài giờ đây là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Quá trình này không nằm ngoài quy luật nhận thức và phản ánh mà triết học Mác – Lênin chỉ ra. Mác đã viết: “Vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh của vận động hiện thực được di chuyển vào và được cải tạo trong đầu óc của con người” [37, tr. Lê-nin cũng viết: “Thế giới là một sự vận động có quy luật của vật chất, và nhận thức của chúng ta – sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên – thì chỉ có thể phản ánh tính quy luật đó mà thôi” [10, tr.
Quá trình vận động của tư duy phù hợp với mọi hình thái nhận thức của con người là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” [10, tr. Nhưng mỗi hình thái nhận thức lại có những đặc trưng riêng phù hợp với khả năng chiếm lĩnh, khám phá và tái hiện hiện thực. Nếu khoa học phù hợp với kiểu tư duy logic, từng bước gạt bỏ cái cá biệt để nắm bắt cái phổ quát, cái chung, cái cốt lõi, thì văn học nghệ thuật phản ánh cái chung qua cái cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luật, và không nhằm gạt bỏ cái cụ thể. Thậm chí cái cụ thể là phổ biến trong văn học.
Chính tính chất đặc thù này của văn học nghệ thuật lại tỏ ra là một thế mạnh cho việc nhận thức hiện thực thời đại của nhà văn. Nhận thức trực quan bằng các giác quan đối với hiện thực thời đại, nhà văn nhận thức được trực tiếp tất cả những gì nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy… Đó là điều không thể có nếu nhận thức gián tiếp với quá khứ. Những gì nhà văn nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy… một cách trực tiếp sẽ bước vào tác phẩm và trở thành sự đa dạng, phong phú những hiện thực cụ thể của thời đại. 119 Và đó là lý do tại sao nền văn học của bất cứ thời đại nào cũng là bức tranh hiện thực cụ thể, sinh động về thời đại mình; là lý do tại sao dấu ấn của những hiện thực cụ thể của thời đại luôn hiện diện trong các tác phẩm.
Nhận thức hiện thực khách quan của thời đại, nhà văn còn nhận thức trực tiếp cả những gì thuộc về tư duy trừu tượng. Đó là cả một nền tảng kiến thức thuộc kiến trúc thượng tầng. Đó là “toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật v.v… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội v. Nhà văn chịu sự tác động, chi phối rất sâu sắc của tất cả những cái này, không những với tư cách một con người xã hội mà còn với tư cách giai cấp nhất định.
Mỗi một người chỉ sinh ra trong một xã hội nhất định, và về cơ bản chỉ thuộc về một giai cấp nhất định. Hồ Chí Minh đã nói: “Người nào cũng thuộc vào hoặc giai cấp này hoặc giai cấp khác, không có ai có thể đứng ngoài giai cấp. Đồng thời, mỗi người đại biểu cho tư tưởng của giai cấp mình” [6, tr. Gorki nói cụ thể hơn đối với nhà văn: “Nhà văn là tai, là mắt, là tiếng nói của giai cấp.
Nhà văn có thể không có ý thức về điều đó, nhưng bao giờ họ cũng vẫn là một bộ phận, là một cảm quan của giai cấp, không thể nào khác được. Nhà văn thể hiện, mô tả những tâm trạng, những nguyện vọng, những lo lắng, những niềm hy vọng, những quyền lợi, những say mê, những nhược điểm và ưu điểm của giai cấp mình, của giới mình. Chính nhà văn cũng bị tất cả những cái đó hạn chế trong quá trình phát triển của bản thân. Nhà văn chưa bao giờ và không thể nào là “con người có tự do nội tâm”, “con người nói chung”.
Một con người hoàn toàn tự do như vậy, “con người vì mọi người” – Con Người của nhân loại – thì chỉ trong tương lai mới có thể có được, khi nào sự phát triển tự do của những sức lực và tài năng của nó không còn bị hạn chế và bóp méo dưới sức ép của những tư tưởng và tình cảm dân tộc, giai cấp, tôn giáo. Còn hễ chưa đến lúc đó, khi còn nhà 119 nước giai cấp thì nhà văn – con người của một môi trường và một thời đại nhất định – dù muốn dù không cũng phải phục vụ và quả nhiên đang phục vụ có điều kiện hay vô điều kiện những quyền lợi của thời đại mình, của môi trường mình” [59, tập 1, tr. Nhận thức hiện thực thời đại, nhà văn cũng không chỉ nhận thức nó như một hiện thực chung chung, có tính chất thông thường hơn, mà còn là đang nhận thức bằng một sự nhạy cảm vốn có của mình đối với đặc trưng của thời đại. Đặc trưng của thời đại vốn vừa có tính chất là “những đặc điểm, sự kiện đặc biệt” hoặc là “những chuyển biến quan trọng”, vừa thực sự mới mẻ so với những gì cũ và quen thuộc hơn, đã cuốn hút nhà văn một cách mạnh mẽ.
Nghĩa là một sự chi phối, tác động mạnh mẽ. Sẽ không có một nhà văn nào không suy nghĩ, trăn trở chính yếu về những đặc trưng của thời đại mình. Nhà văn thường tự nói “viết để giải toả” thì chính là trước hết để giải toả những suy nghĩ, trăn trở do đặc trưng của thời đại thôi thúc mang lại. Những nhận thức về hiện thực thời đại là do thế giới quan của nhà văn.
Lý luận văn học lâu nay vẫn thừa nhận thế giới quan quyết định sáng tác. Sách Tìm hiểu văn học của Lê Đình Kỵ có viết: “Thế giới quan chỉ đạo toàn bộ đời sống và hoạt động của con người. Đặc biệt trong hoạt động sáng tác, thế giới quan được phát huy tác dụng một cách toàn diện, khẩn trương và thường xuyên nhất” [21, tr.