mở đầu sẽ cung cấp một cách tổng thể về lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa và hạn chế của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích. Chương 2 sẽ hệ thống các cơ sở lý thuyết về vốn và quy mô doanh nghiệp. Bên cạnh đó là các lý luận và nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô của doanh nghiệp nhằm xác lập cho khung phân tích để xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương 3.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương 3 sẽ đề cập cụ thể về quy trình và phương pháp nghiên cứu. Đồng thời chương này xác định mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô của doanh nghiệp, xây dựng các giả thuyết và kỳ vọng về dấu của mô hình. Phương pháp chọn mẫu, lấy dữ liệu và cách thức xử lý dữ liệu cũng được làm rõ nhằm làm cơ sở cho các phân tích ở chương 4.
Chương 4: Phân tích các yếu tố tác động đến quy mô của doanh nghiệp tại tỉnh Đắk Nông. Chương 4 sẽ trình bày tổng quan về thực trạng doanh nghiệp và đầu tư trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Dựa trên mô hình nghiên cứu đã lựa chọn và các dữ liệu thu thập được, chương 4 sẽ tiến hành chạy mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến theo phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất và thực hiện các kiểm định dựa trên phần mềm Eview để xác định và đo lường sự tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách.
Dựa trên các kết quả phân tích tại 4 chương 4 và các chính sách định hướng phát triển của Đắk Nông, chương 5 sẽ đề xuất các kiến nghị chính sách và định hướng cho doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và nguồn vốn cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Chương 2 cung cấp các khái niệm cơ bản về doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, vốn của doanh nghiệp, lý thuyết về hiệu suất theo quy mô của doanh nghiệp và rào cản gia nhập thị trường. Chương 2 cũng xác định khung phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô doanh nghiệp nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài. Các khái niệm liên quan 2.
Khái niệm về doanh nghiệp Theo Peroux (1998), doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Theo Larua và Caillat (1992), doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm (2014), doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Có các loại hình doanh nghiệp như: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và nhóm công ty. Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm 04 loại hình doanh nghiệp phổ biến hiện nay như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, trong đó, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn 6 điều lệ của công ty. Thứ ba, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp có từ hai thành viên là tổ chức, cá nhân, trong đó số lượng thành viên không vượt quá năm mươi, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
Thứ tư, công ty cổ phần: là loại hình doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Khái niệm về quy mô doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp là phạm trù phản ánh độ lớn của doanh nghiệp và cách thức tổ chức, bố trí các bộ phận cấu thành doanh nghiệp ấy. Có nhiều tiêu chí để đánh giá quy mô của doanh nghiệp, cụ thể: quy mô theo vốn, quy mô theo số lượng lao động, quy mô theo doanh thu, quy mô theo lợi nhuận…. Theo Ngân hàng thế giới, căn cứ vào ba tiêu chí số lượng nhân viên, tổng giá trị tài sản, doanh thu hàng năm để phân chia doanh nghiệp vừa và nhỏ thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu EU và Mỹ, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định dựa trên số nhân viên và doanh thu hàng năm. Tại Việt Nam, việc xác định quy mô doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó xác định quy mô doanh nghiệp chủ yếu dựa vào hai yếu tố đó là vốn và lao động. Theo đó: Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp theo lao động được xác định như sau: quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ trên 10 đến 200 người lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ (đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ là từ trên 10 đến 50 người) và từ trên 200 đến 300 người lao động thì được coi là doanh nghiệp vừa (đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ là từ trên 50 người đến 100 người). Thứ hai, quy mô doanh nghiệp theo vốn: quy định tổng nguồn vốn tương đương 7 tổng tài sản trong bảng cân đối kế toán từ 20 tỷ đồng trở xuống (đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ là từ 10 tỷ đồng trở xuống) được coi là doanh nghiệp nhỏ, từ trên 20 tỷ đến 100 tỷ được coi là doanh nghiệp vừa (đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ là từ trên 10 tỷ đến 50 tỷ) Trong nghiên cứu này, quy mô doanh nghiệp được xác định dựa trên quy mô vốn của doanh nghiệp.
Điều này có nghĩa là số vốn hoạt động của doanh nghiệp căn cứ theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ thể hiện quy mô của doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Khái niệm về vốn của doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi theo mục đích đã định. Nó là một trong bốn yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đảm bảo khi hội đủ các yếu tố: vốn, lao động, tài nguyên và kỹ thuật công nghệ.
Nhưng xét cho cùng thì điều kiện đầu tiên và quyết định là vốn. Khi có vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng để thuê lao động, mua tài nguyên và công nghệ. Vì thế, vốn được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện không thể thiếu để tiến hành sản xuất, tái sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh. Theo Sammelson (2007), vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết bị, vật tư, đất đai, giá trị nhà xưởng.
Trong quan niệm về vốn của mình, Sammelson không đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo David Begg (2007), vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Sammelson.
Trong hai định nghĩa trên, các tác giả đã thống nhất nhau ở điểm chung cơ bản: vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Trong cách định nghĩa của mình, các tác giả đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất 8 kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ các quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng. Song hiểu một cách khái quát, ta có thể xem vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị đã ứng ra ban đầu hay các giá trị tích luỹ được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.