phần mở đầu, 42 điều, 2 bản phụ lục. Việt Nam đã ký công ước đa dạng sinh học tháng 10/1994 và đã trở thành thành viên thứ 99 của công ước này. Tất cả nội dung của công ước đưa ra 3 mục tiêu chính: + Bảo vệ đa dạng sinh học. + Sử dụng bền vững đa dạng sinh học.
+ Phân phối lợi nhuận của các sản phẩm mới lấy từ các loài hoang dại và các loài thuần dưỡng. Các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước - Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. - Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 (có hiệu lực 1/4/2005). n 7 - Luật Đa dạng sinh học năm 2008.
- Nghị định 65/2011/NĐ-CP ngày 11/06/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật đa dạng sinh học. - Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. - Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/02/2002 của Chính phủ sửa đổi danh mục thực vật, động vật hoang dã, quý hiếm. - Quyết định số 62/QĐ-BNN, ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc Ban hành bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng.
- Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loại động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm. - Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. - Sách đỏ Việt Nam.2 Cơ sở thực tiễn 2.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cây Pơ mu Cây Pơ Mu đã được nghiên cứu khá kỷ lưỡng về mặt phân loại thực vật và phân bố trên thế giới: Chi Pơ Mu (danh pháp khoa học: Fokienia) là một chi trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae). Trong các đặc trưng của nó, chi Fokienia là trung gian giữa hai chi Chamaecyparis và Calocedrus, mặc dù về mặt di truyền học thì nó gần gũi hơn với chi thứ nhất.
Chi này chỉ có một loài còn sống là cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A.Thomas), trong các tài liệu bằng tiếng nước ngoài như trong tiếng Anh gọi là Fujian cypress (tạm dịch là Bách Phúc Kiến) và một loài chỉ còn ở dạng hóa thạch là Fokienia ravenscragensis[23]. Về phân bố sinh thái, yêu cầu nơi sống (Habitat) của cây Pơ Mu cho thấy Fokienia hodginsii là loài cây có nguồn gốc thực vật từ Đông Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam (Hà Bắc, Hà Giang, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Sơn n 8 La, Nghệ An, Lào Cai, Lai Châu, Thanh Hoá, Tuyên Quang, Yên Bái và Vĩnh Phú), đến Tây Nguyên (Đăk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng) và Bắc Lào[23]. Đây là loài cây không cần bóng che, sống trong điều kiện lượng mưa cao trong năm. Xuất hiện trên đất mùn trên núi, đó là habitat của Pơ Mu.
Ở Việt Nam, Pơ Mu xuất hiện trên đất hình thành trên đá limestone hoặc granite ở độ cao trên 900 m so với mặt nước biển[20]. Về yêu cầu sinh thái trong gieo trồng cây Pơ Mu cũng được nghiên cứu ở Trung Quốc, cây con yêu cầu chế độ nhiệt ẩm khá khô vào mùa xuân, cần bóng che ở giai đoạn non. Trong gây trồng nếu tưới quá nhiều cây sẽ chết. Cây cao 12m trong điều kiện tự nhiên khi trồng với mật độ 2x1,8m trong 10 năm đầu[28].
Về nghiên cứu hệ sinh thái rừng và các mối quan hệ sinh thái giữa các loài cho thấy hệ sinh thái rừng là một tổng hợp phức tạp các mối quan hệ lẫn nhau của các quá trình, trong đó sự trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường là quá trình cơ bản nhất. Nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về sinh thái, đặc biệt là mối quan hệ giữa các loài thực vật, các quần thể đối với rừng mưa nhiệt đới, trong đó đáng chú ý là công trình cấu trúc rừng mưa đã mang lại kết quả có giá trị như Baur G.N (1964)[5] đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng mưa nhiệt đới.P (1971)[31] đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái nói chung và sinh thái trong rừng mưa nhiệt đới làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sinh thái loài và cấu trúc rừng. Nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á, Catinot (1965)[6] cho thấy dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tái sinh này chỉ chú trọng đến các phương thức tác động vào tái sinh nhằm thúc đẩy quá trình tái sinh rừng đối với những loài cây có giá trị kinh tế chưa chú trọng đến các đối tượng và mục tiêu bảo tồn.
Chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về sinh thái quần thể có phân bố Pơ Mu và mối quan hệ về phân bố của nó với các nhân tố sinh thái – Môi trường.2 Các nghiên cứu về cây Pơ mu ở Việt Nam Nghiên cứu về cây Pơ Mu trong nước trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại thực vật; mô tả phân bố sin h thái; phân n 9 tích giá trị công dụng của nó về dược liệu và trong đời sống; và mới đây là một số nghiên cứu thị trường loài Pơ Mu , cụ thể: Trong quyển sách “Cây cỏ Việt Nam”[11] trong đó có giới thiệu về cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) là cây đại mộc cao 20 m; nhánh dẹp. Lá ở nhánh trẻ là vảy dẹp, mỏng, đầu nhọn, lá ở nhánh già nhỏ hơn, cong vào thân. Chùy tròn, to 1,5 – 2,2 cm, vảy hình khiên; hột 2, vàng rơm sậm, cao 6 mm, hai cánh một to, một nhỏ. Chùy cái cần 2 năm mới chín.700 m; Gỗ làm hòm, đồ mỹ nghệ.
Trần Hợp (2002) trong quyển sách “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” của tác giả đã mô tả cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii ) cao tới 30 – 35 m, đường kính 1m. Thân thẳng, có bạnh to. Vỏ màu xám xanh, bong thành mảnh. Mùi thơm dịu.
Cành nhỏ dẹt. Lá hình vảy, cây non hay cành không mang nón có lá to, hai bên xòe rộng, còn ở cành già hay cành mang nón lá nhỏ hơn, mặt dưới lá màu trắng xanh. Nón đực mọc ở nách lá dài 1cm. Nón cái mọc ở đầu cành có đế mập nhỏ.
Nón hình cầu, khi chín nứt, màu nâu đỏ. Hạt hình trứng tròn, có hai cánh không đều nhau. Hai lá mần hình dải, lá mới sinh gần đối, 4 lá sau mọc vòng[19]. Về mô tả thực vật trong tài liệu ở Vườn Quốc gia Bi Đúp núi Bà[22] cho thấy Pơ Mu (Fokienia hodginsii ) là cây gỗ lớn, họ Hoàng đàn (Cupressaceae).
Thân thẳng, cao 25 - 30 m, không bạnh vè. Cành non không mang quả. Lá to hình mác, dài 0,7 cm, rộng 0,4 cm. Nón đực hình trứng hay bầu dục, nón cái hình cầu.
Quả màu nâu, hạt có cánh. Là loài cây đặc hữu ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào. Ở Việt Nam, cây mọc tự nhiên ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Thường mọc từng dải thuần loài theo các dông núi hay mọc hỗn loài trong rừng rậm mưa mùa cận nhiệt đới, ở độ cao 1.
Khả năng tái sinh kém, sinh trưởng chậm. Gỗ màu nâu vàng, nhẹ, thớ thẳng mịn, vân đỏ có mùi thơm, gỗ tốt. Dùng để làm cầu, xây dựng, cất tinh dầu làm hương liệu và làm dược liệu. Là loài cây gỗ có giá trị, nên đã được xếp vào loại gỗ quý ở Việt Nam.
n 10 Đầu năm 2009, nhà khoa học người Mỹ Brendan Buckley ở Phòng thí nghiệm Vòng cây (Tree ring Laboratory) của cơ quan nổi tiếng Lamont-Doherty Earth Observatory đã cùng một đồng nghiệp Việt Nam tìm được trong rừng quốc gia Bidoup - Núi Bà gần Đà Lạt ở tỉnh Lâm Đồng nhiều cây thông đã sống cách 10 đây gần ngàn năm. Các cây thông này thuộc một loài cây thông hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (ghi trong Sách Đỏ) gọi là Fokienia hodginsii (cây Pơ Mu ). Từ các mẫu lấy ở thân cây Pơ Mu , ông Buckley đã tái tạo lại thời tiết gió mùa ở lục địa Á châu trong quá khứ đến tận thế kỷ 14 và từ đó chứng minh là nền văn minh Khmer rực rỡ ở Angkor đã sụp đổ vì nạn hạn hán và môi trường thủy lợi. Đây là một khám phá quan trọng trong lịch sử khí hậu gió mùa và hiện tượng El Nino ở Đông Nam Á[24].
Mô tả thực vật học và phân bố cây Pơ Mu cho thấy cây mọc đứng, thân thẳng với tán tròn, cao tới 30 m và đường kính ngang ngực tới 1,5 m hoặc hơn. Đây là loài duy nhất của chi này và rất biến động về dạng lá tuỳ theo tuổi của cây và của cành. Pơ Mu gặp thành các khu rừng gần như thuần loài trên các dông núi đá vôi hoặc núi đất, có khi mọc từng cá thể hoặc thành các đám nhỏ rải rác trên các sườn núi và thung lũng trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh cây lá rộng nhiệt đới gió mùa núi thấp và núi trung bình (nhiệt độ trung bình năm 13 -200C, lượng mưa trên 1800 mm) với các loài ưu thế thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Re (Lauraceae) và Ngọc lan (Magnoliaceae) (Kuznetsov, 2001). Ở các tỉnh phía Nam loài này mọc cùng Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis) và Thông lá dẹt (P.
krempfii), ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung loài này gặp cùng với Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), và Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis). Trên các vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam (Hà Giang, Bắc Kạn và Hoà Bình) loài Pơ Mu đôi khi hình thành các khu rừng thuần loài trên dông núi đá vôi ở độ cao 900 -1400 m so mặt nước biển[9]. Ở Việt Nam Pơ Mu gặp ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa ThiênHuế, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Khánh Hoà. Thông tin về sự có mặt của Pơ Mu ở Tuyên Quang cần được n 11 kiểm tra.
Trên thế giới loài có từ cực Nam Trung Quốc sang tới Lào. Ở tất cả các nước này phạm vi của các khu rừng còn lại đều không được xác định. Điều này làm cho việc ước lượng tỷ lệ các quần thể ở Việt Nam so với quốc tế trở nên khó khăn[9]. Hiện trạng bảo tồn quốc tế thì cây Pơ Mu ở mức gần bị tuyệt chủng theo tiêu chí IUCN, 1994[29].