Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố liên quan đến băng huyết sau sinh do đờ tử cung và hiệu quả điều trị bằng chèn bóng lòng tử cung

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu các yếu tố liên quan đến băng huyết sau sinh do đờ tử cung và hiệu quả điều trị bằng, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Trường đại học

Đại học Huế - Trường Đại học Y Dược Nguyễn Gia Định

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học
164
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình băng huyết sau sinh trên thế giới và tại việt nam

1.2. Định nghĩa băng huyết sau sinh

1.3. Phân loại băng huyết sau sinh

1.4. Nguyên nhân băng huyết sau sinh

1.5. Các yếu tố nguy cơ băng huyết sau sinh

1.6. Bảng kiểm các giai đoạn băng huyết sau sinh

1.7. Điều trị nội khoa băng huyết sau sinh

1.8. Điều trị băng huyết sau sinh bằng chèn bóng lòng tử cung

1.8.1. Nguyên lý cơ bản của bóng chèn

1.8.2. Các loại bóng chèn

1.8.3. Phương pháp thực hiện chèn bóng

1.8.4. Chỉ định, chống chỉ định chèn bóng

1.8.5. Những xem xét về mặt thực hành chèn bóng

1.8.6. Các kết quả nghiên cứu chèn bóng lòng tử cung ở trong nước và trên thế giới

1.9. Điều trị băng huyết sau sinh bằng phẫu thuật bảo tồn

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp xử lý số liệu

2.4. Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Các yếu tố nguy cơ

3.3. Hiệu quả điều nội khoa

3.4. Hiệu quả điều trị bằng chèn bóng lòng tử cung

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Các yếu tố nguy cơ

4.3. Hiệu quả điều trị nội khoa

4.4. Hiệu quả điều trị bằng chèn bóng lòng tử cung

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tình hình băng huyết sau sinh trên thế giới và tại Việt Nam

Băng huyết sau sinh (BHSS) là một biến chứng nghiêm trọng, đe dọa tính mạng sản phụ. Trên toàn cầu, BHSS là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 30% tử vong mẹ là do BHSS, với tỷ lệ cao nhất tại các nước như Honduras (17,5%) và thấp nhất tại Qatar (0,55%). Tại Việt Nam, BHSS chiếm 31% các trường hợp tử vong mẹ, với tỷ lệ cao hơn ở khu vực miền núi. Các nghiên cứu tại bệnh viện lớn như Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vương cho thấy tỷ lệ BHSS dao động từ 0,22% đến 1,5%, trong đó đờ tử cung là nguyên nhân chính, chiếm 55-89,6%.

1.1. Tình hình toàn cầu

BHSS là nguyên nhân chính gây tử vong mẹ ở các nước có thu nhập thấp. Theo Liên đoàn Sản Phụ khoa Quốc tế (FIGO), hơn 50% tử vong mẹ tại một số nước là do BHSS. Các yếu tố như thiếu kỹ năng đỡ đẻ và thiếu trang thiết bị y tế làm tăng nguy cơ BHSS. Đờ tử cung chiếm 75-90% các trường hợp BHSS, đặc biệt ở các nước nghèo.

1.2. Tình hình tại Việt Nam

Tại Việt Nam, BHSS là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ, đặc biệt ở khu vực miền núi. Các nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vương cho thấy tỷ lệ BHSS dao động từ 0,22% đến 1,5%, với đờ tử cung là nguyên nhân chính. Các yếu tố nguy cơ như tuổi mẹ cao, béo phì, và thai to cũng được ghi nhận.

II. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ băng huyết sau sinh

BHSS thường do bốn nguyên nhân chính: đờ tử cung, sót nhau, tổn thương đường sinh dục, và rối loạn đông máu. Trong đó, đờ tử cung chiếm 75-90% các trường hợp BHSS. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi mẹ cao, béo phì, thai to, đa thai, và tiền sử phẫu thuật tử cung. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng BHSS có thể xảy ra mà không có yếu tố nguy cơ rõ ràng, làm tăng tính phức tạp trong dự phòng và điều trị.

2.1. Nguyên nhân chính

Đờ tử cung là nguyên nhân hàng đầu gây BHSS, chiếm 75-90% các trường hợp. Các nguyên nhân khác bao gồm sót nhau, tổn thương đường sinh dục, và rối loạn đông máu. BHSS có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân kết hợp.

2.2. Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ BHSS bao gồm tuổi mẹ cao (≥35), béo phì (BMI >30), thai to (>4000g), đa thai, và tiền sử phẫu thuật tử cung. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng BHSS có thể xảy ra mà không có yếu tố nguy cơ rõ ràng.

III. Hiệu quả điều trị băng huyết sau sinh bằng chèn bóng lòng tử cung

Chèn bóng lòng tử cung là một phương pháp điều trị hiệu quả và ít xâm lấn đối với BHSS do đờ tử cung. Các loại bóng chèn như bóng Bakri, bóng Foley, và bóng bao cao su đã được sử dụng rộng rãi với tỷ lệ thành công từ 88% đến 100%. Tại Việt Nam, các nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Sản Nhi Phú Yên đã chứng minh hiệu quả của chèn bóng lòng tử cung trong việc kiểm soát chảy máu và bảo tồn khả năng sinh sản.

3.1. Phương pháp chèn bóng

Chèn bóng lòng tử cung là phương pháp sử dụng các loại bóng như bóng Bakri, bóng Foley, và bóng bao cao su để tạo áp lực lên thành tử cung, giúp cầm máu. Phương pháp này ít xâm lấn và có tỷ lệ thành công cao.

3.2. Hiệu quả điều trị

Các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh hiệu quả của chèn bóng lòng tử cung trong điều trị BHSS do đờ tử cung. Tỷ lệ thành công dao động từ 88% đến 100%, giúp kiểm soát chảy máu và bảo tồn khả năng sinh sản.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố liên quan đến băng huyết sau sinh do đờ tử cung và hiệu quả điều trị bằng chèn bóng lòng tử cung

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH BĂNG HUYẾT SAU SINH TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Thế giới Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 90% các trường hợp tử vong mẹ xảy ra ở các nước nghèo, trong đó, hơn 30% của những tử vong này là do BHSS [18], tỷ lệ BHSS thấp nhất tại Quatar (0,55%) và cao nhất tại Hunduras (17,5%). Băng huyết sau sinh là nguyên nhân hàng đầu làm tăng tỷ lệ tử vong mẹ: Châu Phi (25%); Indonesia (43%); Philippines (53%); Guatemala (53%).

Tại các nước phát triển có tỷ lệ thấp hơn: Vương quốc Anh (16%); tại Mỹ giai đoạn 1987 - 1990 là 28,7%, giai đoạn 1991 - 1999 là 17%; tại Pháp là 13%) [22]. Theo Liên đoàn Sản Phụ khoa Quốc tế (FIGO), khoảng 30% (ở một số nước, trên 50%) tử vong mẹ trên toàn thế giới là do chảy máu, phần lớn trong giai đoạn sau sinh. Hầu hết các tử vong mẹ là do BHSS, xảy ra ở các nước có thu nhập thấp ở các bối cảnh (bệnh viện và tại cộng đồng) mà ở đó không có người đỡ đẻ hoặc người đỡ đẻ thiếu các kỹ năng cần thiết hoặc thiếu trang bị cần thiết trong việc dự phòng và xử trí BHSS và sốc [63]. Đờ tử cung là nguyên nhân chính của BHSS, chiếm khoảng 75% - 90% [52], [102], [106].

Tại Việt Nam Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2002 tại các tỉnh đại diện cho 7 vùng kinh tế nước ta, thì tử vong mẹ chung cho cả toàn quốc được ước tính là 165/100.000 trường hợp sinh sống, trong đó BHSS chiếm tỷ lệ 31% các trường hợp tử vong. Tại miền núi, tỷ lệ này còn cao hơn (411/100. Tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh: từ năm 1986 đến 1990, tỷ lệ tử vong do BHSS chiếm 27,5% các trường hợp tử vong mẹ. Theo Nguyễn Đức Vy, tỷ lệ BHSS chiếm 67,4% của 5 tai biến sản khoa (trong 6 năm từ 1996 đến 2001).

Tỷ lệ 4 này thay đổi tùy từng nơi, từng thời kỳ [16]. Tỷ lệ BHSS thay đổi phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán, trong y văn trung bình 1- 5% [32]. Tại Bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ BHSS là 0,22% đến 0,58%, trong đó BHSS không do tổn thương đường sinh dục thường gặp nhất là đờ tử cung chiếm 55% [12]. Tại Bệnh viện Hùng Vương, tỷ lệ BHSS hàng năm là 1,5% [20].

Tại Bệnh viện Đà Nẵng, tỷ lệ BHSS trong 5 năm từ 2005 – 2010 là 0,32%. Trong đó, đờ tử cung chiếm 89,6% [33]. ĐỊNH NGHĨA BĂNG HUYẾT SAU SINH Thuật ngữ “băng huyết sau sinh” được áp dụng cho những thai kỳ có tuổi thai > 20 tuần [50]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới 2018, BHSS được định nghĩa là lượng máu mất ≥500 mL trong vòng 24 giờ sau sinh [118].

Theo Liên đoàn Sản Phụ khoa Quốc tế, BHSS được định nghĩa là lượng máu mất ≥500 mL sau sinh đường âm đạo hoặc ≥1000 mL sau sinh mổ. Vì các mục đích lâm sàng, bất kỳ lượng máu mất nào có tiềm năng gây mất ổn định huyết động phải được xem là BHSS [63]. Theo Hội Sản Phụ khoa Mỹ, 2017, BHSS được định nghĩa là lượng máu mất ≥1000 mL hoặc mất máu đi kèm với các dấu hiệu hoặc triệu chứng hạ thể tích máu trong vòng 24 giờ sau sinh [36]. Gần đây, BHSS được định nghĩa là các trường hợp có Hematocrit giảm >10% so với trước sinh [21], [37]; hoặc cần phải truyền máu [19], [52].

Theo giáo trình sản khoa, Đại học Y Dược Huế, BHSS là chảy máu với số lượng từ 500 mL trở lên, máu chảy từ bộ phận sinh dục trong vòng 24 giờ tính từ sau khi sổ thai và có ảnh hưởng đến toàn trạng sản phụ [30]. PHÂN LOẠI BĂNG HUYẾT SAU SINH 1. Phân loại có tính quy ước BHSS sớm hoặc BHSS nguyên phát: Sự chảy máu trong vòng 24 giờ đầu sau sinh đường âm đạo. BHSS muộn hoặc BHSS thứ phát: Sự chảy máu xảy ra về sau (sau 24 giờ), 5 nhưng trong vòng 12 tuần sau sinh [21], [52].

Phân loại theo tốc độ nhanh của mất máu Sự chảy máu nặng được phân loại là mất > 150 mL/phút (trong vòng 20 phút, gây mất hơn 50% thể tích máu) hoặc mất máu đột ngột > 1. Phân loại BHSS theo dấu hiệu và triệu chứng Bất kỳ sự chảy máu nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến sự không ổn định về huyết động, nếu không được điều trị, đều được xem là BHSS (Bảng 1. Phân loại băng huyết sau sinh theo dấu hiệu và triệu chứng Lượng máu mất Huyết áp Dấu hiệu và triệu chứng mL % (mmHg) Hồi hộp, chóng mặt, nhịp 500-1000 10-15 Bình thường tim nhanh Yếu mệt, vã mồ hôi, nhịp 1000-1500 15-25 Giảm nhẹ tim nhanh Vật vã, xanh tái, thiểu 1500-2000 25-35 70-80 niệu Trụy mạch, thiếu không 2000-3000 35-45 50-70 khí, vô niệu 1. NGUYÊN NHÂN BĂNG HUYẾT SAU SINH 1.

Nguyên nhân BHSS: Băng huyết sau sinh là sự rối loạn của một hoặc nhiều hơn của bốn nguyên nhân: đờ tử cung; sót nhau-nhau không bong; tổn thương đường sinh dục; rối loạn đông máu [73], [88]. BHSS do đờ tử cung chiếm khoảng 75 – 90% của BHSS sớm [33], [84], [102]. BHSS do tổn thương chiếm khoảng 20% của BHSS sớm. BHSS do rối loạn đông máu chiếm khoảng 3% của BHSS sớm [82].

BHSS có thể có ≥ 1 nguyên nhân [40]. Các nguyên nhân của BHSS sớm (nguyên phát) Đờ tử cung 6 - Tử cung quá căng: đa thai, đa ối, thai quá to - Các thuốc làm giãn tử cung: nifedipine, magnesium, beta–mimetics, indomethacin, nitric oxide donors - Chuyển dạ (CD) nhanh hoặc chuyển dạ kéo dài - Các thuốc co hồi tử cung để gây chuyển dạ - Nhiễm khuẩn ối - Gây mê bằng Halogen - U xơ tử cung [52], [115]. Bất thường về bong nhau và sổ nhau - Vật gây trở ngại đối với sự co thắt/co hồi tử cung: nhiều u xơ, sót nhau - Bất thường bánh nhau: nhau cài răng lược, thùy nhau phụ - Tiền căn phẫu thuật ở tử cung: bóc nhân xơ, đường mổ lấy thai cổ điển (mổ dọc thân) hoặc đường mổ đoạn dưới - Chuyển dạ đình trệ (không tiến triển) - Giai đoạn ba của chuyển dạ bị kéo dài - Sự kéo quá mạnh vào dây rốn [52], [115]. Tổn thương đường sinh dục - Tổn thương âm hộ-âm đạo - Cắt tầng sinh môn/rách tầng sinh môn - Thai quá to - Sinh quá nhanh [52], [115].

Rối loạn đông máu - Mắc phải trong thai kỳ: giảm tiểu cầu của hội chứng HELLP, Đông máu nội mạch rải rác (sản giật, thai chết lưu trong tử cung, nhiễm khuẩn huyết, nhau bong non, tắc mạch ối), tăng huyết áp trong thai kỳ, tình trạng nhiễm khuẩn huyết (sepsis). - Di truyền: bệnh Von Willebrand. - Liệu pháp chống đông: thay van tim, những bệnh nhân nằm nghỉ tuyệt đối [52], [115]. Các nguyên nhân của BHSS muộn (thứ phát) - Nhiễm trùng tử cung - Sót các mảnh nhau 7 - Sự co hồi bất thường của vị trí nhau bám [52], [115].

Không có các yếu tố liên quan Trong nghiên cứu hồi cứu của Trần Đình Vinh, sản phụ BHSS không có yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ khá cao 34% [33]. Theo Unterscheider và cs., đờ tử cung xảy ra không dự đoán được ở những phụ nữ không có các yếu tố nguy cơ báo trước [115]. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ BĂNG HUYẾT SAU SINH 1. Các yếu tố nguy cơ trước sinh: 1.

Tuổi: tuổi mẹ tăng là yếu tố nguy cơ độc lập với BHSS. Tuổi ≥ 35 có nguy cơ BHSS cao với OR = 1,5 (95% KTC 1,2 - 1,9) [46]; tuổi >40 (không-phải con rạ) có OR = 1,4 [69]. Chỉ số khối cơ thể (BMI): béo phì có tỷ lệ cao biến chứng chảy máu trong khi sinh và sau sinh. BMI >30 có nguy cơ BHSS cao với OR = 1,5 (95% KTC 1,2 - 1,8) khi so với BMI 20 - 30 [46]; BMI >35 có nguy cơ BHSS cao với OR = 2 [69].

Số lần sinh: các nghiên cứu gần đây chưa tìm thấy mối liên quan giữa đẻ nhiều với BHSS [111]. Tuy nhiên, Ohkuchi [46] lại tìm thấy sản phụ con so đi kèm với mất máu quá mức lúc sinh đường âm đạo (OR = 1,6; 95% KTC 1,4 - 1,9). Thai to: các nghiên cứu cho thấy thai to đi kèm với BHSS. Tại Anh, thai >4000g liên quan đến OR = 2,01 (95% KTC 1,93 - 2,1).

Tại Mỹ, thai 4000 - 4499g liên quan đến OR = 1,69 (95% KTC 1,58 - 1,82) [46]. Tổng quan BHSS của Phạm Việt Thanh [22] cho thấy thai to >4500g có OR = 2,05. Đa thai: nhiều nghiên cứu cho thấy đa thai là yếu tố nguy cơ BHSS. Theo Hamamy [69], thai kỳ đa thai là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 5.

Nhiều nghiên cứu ước tính RR của BHSS đi kèm với thai kỳ đa thai là 3,0 - 4,5 [46]. Tổng quan BHSS của Phạm Việt Thanh [22] cho thấy đa thai có OR = 2,4. U xơ tử cung: một nghiên cứu tại Nhật Bản [46] đã cho thấy u xơ tử cung là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 1,9 (95% KTC 1,2 - 3,1) sau sinh đường âm đạo. Theo Unterscheider [115] u xơ tử cung là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 2.

Rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ: Theo Hamamy [69], tiền sản giật/tăng huyết áp thai kỳ là nguy cơ trước sinh gây BHSS với OR = 4. Thiếu máu trước sinh: thiếu máu trước sinh từ trung bình đến nặng là yếu 8 tố nguy cơ gây BHSS với OR = 2,14 [98]; thiếu máu trước sinh (Hb <9g/dL) là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 2 [69]. Chảy máu trước sinh - Nhau bong non có nguy cơ BHSS với OR = 12,6 theo Stones [46] đến OR = 13 theo Hamamy [69]. - Nhau tiền đạo có nguy cơ BHSS với OR = 12 theo Hamamy [69] đến OR = 13,7 theo Stones [46].

- Nhau tiền đạo đi kèm với BHSS có OR = 4,4 (95% KTC 2,2 - 8,6) sau sinh đường âm đạo theo Ohkuchi [46]. Tiền sử băng huyết sau sinh: tiền sử BHSS đi kèm với nguy cơ BHSS lần sinh tiếp theo với OR = 2,2 (95% KTC 1,7 - 2,9) [46] đến OR = 3 [69]. Các yếu tố nguy cơ trong chuyển dạ và sau sinh: 1. Phát khởi chuyển dạ: phát khởi chuyển dạ là yếu tố nguy cơ gây BHSS có OR = 2 [69]; việc sử dụng Oxytocin tăng go trong chuyển dạ là một yếu tố nguy cơ gây BHSS với nguy cơ tăng OR từ 1,5 (95% KTC 1,2 - 1,7) theo Magann tới OR = 5,5 (95% KTC 1,26 - 24,07) theo tổng quan Cochrane [46].

Tổng quan BHSS của Phạm Việt Thanh [22] cho thấy giục sinh >18 giờ có OR = 2,23. Thời gian chuyển dạ: - Chuyển dạ kéo dài >12 giờ là yếu tố nguy cơ với OR = 2 [69].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu yếu tố băng huyết sau sinh do đờ tử cung và hiệu quả điều trị bằng chèn bóng lòng tử cung là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các yếu tố nguy cơ dẫn đến băng huyết sau sinh do đờ tử cung, đồng thời đánh giá hiệu quả của phương pháp chèn bóng lòng tử cung trong điều trị tình trạng này. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin quan trọng giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh lý và lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu, từ đó giảm thiểu nguy cơ biến chứng và nâng cao chất lượng chăm sóc sản khoa.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị ít xâm lấn trong y khoa, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải. Nếu quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến giải phẫu và kỹ thuật phẫu thuật, Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành là một tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, để hiểu sâu hơn về ứng dụng các kỹ thuật y học hiện đại, bạn có thể khám phá Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống Glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên môn mà còn mang đến cái nhìn toàn diện về các phương pháp điều trị tiên tiến trong y học hiện đại.