Chương 1, giới thiệu tổng quan toàn bộ nội dung đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà chung cư của người dân tại thành phố Thủ Dầu Một” gồm: mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn, tài liệu kham khảo và giới thiệu sơ bộ kết cấu luận văn. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm về chung cƣ và căn hộ chung cƣ: Theo Điều 3 - Luật Nhà ở năm 2014, Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, Nhà chung cư được chia thành 2 loại tùy thuộc vào mục đích và nhu cầu sử dụng của chủ sở hữu: Nhà chung cư để ở Nhà chung cư hỗn hợp dùng để ở và kinh doanh. Chung cư còn được định nghĩa là khu nhà ở (có thể là một hay nhiều khu) bao gồm nhiều các hộ gia đình sinh sống.
Trong các khu nhà chung cư được bố trí nhiều các căn hộ được bố trí khép kín nhằm phục vụ nhu cầu sinh sống của gia đình trong căn hộ. Bên trong các căn hộ có thể có đồ nội thất đầy đủ hoặc chưa có đồ và gia chủ có thể tự lựa chọn để trang trí ngôi nhà của mình theo đúng ý tưởng của các thành viên trong gia đình. Chung cư thường có ở những nơi dân cư tập trung đông đúc như các thành phố lớn, thị trấn hay các khu công nghiệp. Căn hộ chung cư chính là những căn hộ trong các khu chung cư hay còn gọi là các tòa nhà chung cư.
Điểm khác biệt lớn nhất của chung cư và căn hộ chung cư chính là quyền sở hữu. Thông thường, các tòa nhà chung cư thuộc sở hữu của một chủ sở hữu duy nhất. Ngoài ra, các tòa nhà chung cư chỉ được phép sử dụng với mục đích cho thuê. Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm: - Phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm cả diện tích ban công, lôgia gắn liền với căn hộ đó; - Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật; 9 - Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ, phần diện tích thuộc sở hữu riêng.
Phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm: - Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng. - Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, nơi để xe, hệ thống cấp điện, nước, ga, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hỏa và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào; - Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó. Phân loại căn hộ chung cƣ: Theo Thông Tư 14/2008/TT-BXD, ngày 02 tháng 06 năm 2008 thì nhà chung cư được phân thành các hạng như sau: a) Nhà chung cư hạng 1 (cao cấp) là có chất lượng sử dụng cao nhất; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ hoàn hảo; b) Nhà chung cư hạng 2 là có chất lượng sử dụng cao; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ tương đối hoàn hảo; c) Nhà chung cư hạng 3 là có chất lượng sử dụng khá cao; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ khá; d) Nhà chung cư hạng 4 là có chất lượng sử dụng trung bình; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc; hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, 10 trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt tiêu chuẩn, đủ điều kiện để đưa vào khai thác sử dụng. Các lý thuyết liên quan đến quyết định của ngƣời mua: 2.
Lý thuyết về hành vi ngƣời mua: Theo Philip Kotler (1999): Hành vi của người mua là hành động của người đó tiến hành mua và sử dụng sản phẩm cũng như dịch vụ, bao gồm quá trình tâm lý và xã hội xảy ra trước và sau khi xảy ra hành động này. 1 Mô hình hành vi ngƣời mua của Philip Kotler,1999 Nhận Tìm Đánh Quyết Hành thức kiếm giá các định vi sau nhu cầu thông phương mua mua tin án -Nhu cầu -Bên trong -Chất -Số lượng - Sử dụng tiếp ở bên trong. tương lai, giới -Nhu cầu nghiệm hiểu -Giá cả. -Nơi thiệu cho người bên ngoài.
biết của bản -Cách mua. xung quanhvề sản thân). bán -Đặc tính hàng. phẩm => Hài lòng - Bên ngoài sản -Khuyến - Không tiếp tục (bạn bè phẩm.
sử dụng, không người thân) quan tâm nói - Cộng đồng những khuyết (các phương điểm của sản tiện đại phẩm cho người chúng khác => Không hài lòng Nguồn: Philip Kotler, 1999. Trong đó: - Nhận thức nhu cầu: Giai đoạn đầu tiên của quá trình mua hàng, khi người tiêu dùng nhận thức được vấn đề, nhu cầu đối với một loại sản phẩm. 11 - Tìm kiếm thông tin: Người tiêu dùng có thể biết về sản phẩm qua những nguồn thông tin (Nguồn thông tin cá nhân, nguồn thông tin phổ thông, nguồn thông tin thương mại hay từ kinh nghiệm bản thân). - Đánh giá các phương án: Người tiêu dùng sẽ dùng những thông tin có được để đánh giá các phương án phục vụ cho việc lựa chọn cuối cùng.
- Quyết định mua: Sau khi đánh giá các phương án người tiêu dùng sẽ chọn những sản phẩm mà họ cho là tốt nhất. Họ sẽ mua ở đâu? Số lượng bao nhiêu? Chủng loại như thế nào? - Hành vi sau mua: Hành vi của người tiêu dùng đối với việc có sử dụng hay không sử dụng sản phẩm trong tương lai. Mức độ hài lòng của người mua tùy thuộc vào kỳ vọng của người mua đối với sản phẩm và các tính năng sử dụng đã được nhận thức đối với sản phẩm. Nếu tính năng của sản phẩm làm thỏa mãn được các kỳ vọng, người tiêu dùng sẽ hài lòng, nếu nhiều hơn thế, người tiêu dùng càng hài lòng, nếu chưa đạt tới, người tiêu dùng sẽ thất vọng.
Thái độ đó đưa đến hai trường hợp khác nhau: họ sẽ tiếp tục mua sản phẩm và nói tốt về nó; họ không mua nữa và nói xấu sản phẩm đó với người khác (Kotler,2001). - Các hành động sau mua: Sự hài lòng hay không hài lòng về sản phẩm của người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến hành vi tiếp theo (Kotler,2001). - Việc sử dụng và giải quyết sau khi mua: Doanh nghiệp cần nghiên cứu việc sử dụng và xử lý sản phẩm của khách hàng sau khi mua để biết được các vấn đề cơ hội có thể phát sinh khi người tiêu dùng sử dụng sản phẩm/dịch vụ của mình. Cũng theo Philip Kotler (2001), trong marketing, nhà tiếp thị nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ, cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình.
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn vượt xa hơn các khía cạnh nói trên. Đó là, các doanh nghiệp tìm hiểu xem người tiêu dùng có nhận thức được 12 các lợi ích của sản phẩm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Vì điều này sẽ tác động đến những lần mua hàng sau đó của người tiêu dùng và tác động đến việc thông tin về sản phẩm của họ đến những người tiêu dùng khác. Do vậy, các doanh nghiệp, các nhà tiếp thị cần phải hiểu được những nhu cầu và các yếu tố ảnh hưởng, chi phối hành vi mua sắm của khách hàng.
Philip Kotler đã hệ thống các yếu tố dẫn tới quyết định mua sắm của người tiêu dùng qua mô hình sau (hình 2. 2 Mô hình hành vi của ngƣời mua (Philip Kotler, trang 98) Kích thích Kích thích Đặc điểm Quá trình ra Quyết định của Marketing khác người mua quyết định người mua - Sản phẩm -Kinh tế -Văn hóa -Nhận thức -Chọn sản - Giá cả -Công nghệ -Xã hội vấn đề phẩm - Địa điểm -Chính trị -Tâm lý -Tìm hiểu -Chọn nhãn - Chiêu thị -Văn hóa -Cá tính thông tin hiệu -Đánh giá -Chọn đại lý -Quyết định -Định thời gian -Định số lượng Nguồn: Philip Kotler, 2001. Theo Kotler và Levy (1969) thì hành vi khách hàng là những hành vi của các đơn vị ra quyết định trong việc mua sắm, sử dụng và xử lý, thải bỏ những hàng hóa và dịch vụ. Hành vi của người mua là tiến trình mà một cá nhân hay một nhóm lựa chọn, mua và chấp nhận sử dụng một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó nhằm thỏa mãn cho nhu cầu và mong muốn của họ.
Hành vi người tiêu dùng là nghiên cứu những cá nhân, nhóm, hoặc tổ chức và các tiến trình mà một cá nhân hay một nhóm lựa chọn, an toàn, sử dụng và từ bỏ 13 những sản phẩm, dịch vụ, những kinh nghiệm, hay những ý tưởng để thỏa mãn những nhu cầu nào đó của người tiêu dùng và xã hội (Schiffman và Kanuk, 2005) Theo Blackwell và các cộng sự (2006): “Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/ dịch vụ. Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó” Các định nghĩa trên cho thấy hành vi người mua không chỉ liên quan đến hành động cụ thể xảy ra bởi từng cá nhân khi quyết định mua và sử dụng một sản phẩm/dịch vụ, mà còn chịu tác động bởi những yếu tố tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến hành động này.