phần mở đầu của cuốn từ điển Việt - Bồ - La do Alexandre de Rhodes biên soạn [155]. Trong bản báo cáo vắn tắt này, những kiến giải về các phạm trò ngữ pháp trong tiếng Việt nho| giống, só, cách của danh từ và thir, thoi, thé của động từ đã ít nhiều đơjợc đề cập. Bên cạnh đó, ý nghĩa công cụ cũng đã đơjợc ông nhắc đến thông qua giới từ bang (per) [155: 23]. Viéc daa ra gidi từ bằng trong chơlơng bảy của bản Báo cáo vắn tắt chỉ mang tính chất liệt kê sự tojong đơjơng 1 — 1 giữa một giới từ tiếng An Nam với một giới từ trong tiếng Bồ Đào Nha.
Sau này, trong cuốn Ngữ phán tiếng Việt của Taberd 1838 (Nguyễn Khắc Xuyên đã dịch sang tiếng Việt và xuất bản năm 1994 [95]) thì ý nghĩa công cụ trong tiếng Việt thé hiện qua từ bằng đơiợc nói rõ thêm một chút. “Nó có nghĩa nh ex hay per trong tiếng Latinh, nhất là khi đặt trớc những danh từ thuộc vật liệu hay dụng cụ” [95: 48]. Đối với các tác giả trong nojớc, vấn đề ý nghĩa công cụ trong tiếng Việt đơjợc Trojơng Vĩnh Ký — ngojời sống cùng thời với Ferdinal de Saussure, nhắc đến với tơi cách là vai nghĩa công cụ hay cách công cụ. Theo Cao Xuân 21 Hao [29], Trojong Vinh Ky dojgc coi 1a ngoi đi tróc các nhà ngôn ngữ học trong viéc miéu ta cdc phong tién diễn đạt ý nghĩa Cách trong một ngôn ngữ không biến hình xuất phát từ mặt sở biểu và đáng đợc coi là ngời đi tiên phong trong việc xây dựng nên ngữ pháp cách (case grammar), một trong những thành phân chủ yếu của ngữ pháp chức năng hiện đại [29: 441].
Trong cuốn Ngữ pháp tiéng Viét (Grammaire de la langue annamite) xuat ban nam 1883 [37], Trơơng Vĩnh Ký đã trình bày một cách khá rõ trong phần nói về Danh từ: đó là cách diễn đạt ý nghĩa “cách” (case meaning) trong ngữ pháp tiếng Việt. Theo ông, các danh từ của tiếng Việt dòng trong câu có thể ở vào một trong 8 cách (case / nane») và cách công cụ (Instrumental) đứng 6 vi tri thứ 7, pho\ơng thức diễn đạt là thông qua hơi từ bằng, ví dụ nhơi Đánh bằng roi sat [37: 440]. Ngoài việc mô tả phojơng thức sử dụng hơi từ để thê hiện cách công cụ nhơ trên, Trojơng Vĩnh Ký còn đề cập đến một phoJơng thức rữa mà ông gọi 1a “phong tién khác với phơng tiện chủ yếu”, đó là ở đoạn nói về Công cụ cách, bên cạnh Có/ bằng đây, ông còn cho Dòng dây mà cột, Lấy dây mà cột [29: 441]. Điều này cho thấy rằng, khi dùng khái niệm Cách nói chung và cách công cụ nói riêng, Trojơng Vĩnh Ký hiểu nó nhơi một ý nghĩa ngữ pháp nhiều hơn là một hình thức ngữ pháp [29: 441].
Cao Xuân Hạo rút ra kết luận rằng, không những Trơng Vĩnh Ký không —gán| mô hình ngữ pháp tiếng La tỉnh cho tiếng Việt, mà còn hiểu rõ khả năng và cách thức sử dụng khái niệm Cách cho những thứ tiếng không biến hình, điều mà gân một thế ki sau các nhà ngữ học phơng Tây mới nghĩ đến (Fillmore 1968). [29: 441] Ý nghĩa ngữ pháp cũng đojợc nhiều nhà Việt ngữ học đojơng đại nghiên cứu và ứng dụng vào giảng dạy cho sinh viên đầu cấp đại học chuyên ngành ngôn ngữ học nói chung và các chuyên ngành ngoại ngữ nói riêng. Có thê kê đến một số tác giả tiêu biểu nh: Cao Xuan Hạo [29, 30], Nguyén Kim Than [76, 77, 78, 79], Lê Đình Tơi và Vũ Ngọc Cân [73], Đỗ Hữu Châu [9, 22 10], Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung [6, 7], Lê Quang Thiêm [86, 87], Nguyễn Thiện Giáp [22, 25, 26, 28], Mai Ngọc Chừ [12, 13], Vũ Đức Nghiệu {[12, 57], Hoàng Trọng Phiến [61], Bòi Minh Toán [10, 70], Nguyễn Thị Ngân Hoa [13], Đỗ Việt Hùng [13], Bòi Mạnh Hùng [36], Nguyễn Minh Thuyết [26], Nguyễn Văn Hiệp [57], Loiu Vân Lăng [44],. Nhìn chung, đa sé cdc nghiên cứu trên đây về ý nghĩa ngữ pháp chỉ dừng lại ở việc mô tả về mặt ngôn ngữ, xác lập các khái niệm, giới hạn phạm vi và định hojớng nghiên cứu của các loại ý nghĩa ngữ pháp, phoJơng thức ngữ pháp, phạm trò ngữ pháp ma chơla có công trình nào đi sâu nghiên cứu một ý nghĩa hay một phojơng thức hay một phạm trù cụ thé nào trong tiếng Việt.
Bên cạnh đó, ý nghĩa ngữ pháp, phơjơng thức ngữ pháp, phạm trò ngữ pháp còn đojợc đề cập đến trong một số luận án, nhơIng chỉ dừng lại ở mức độ tổng hợp, đúc kết các kiến thức sẵn có mà không có một lí luận mới nào về vấn đề này. Về nghĩa công cụ, ngữ pháp học truyền thống chỉ nói đến khi xét mặt ý nghĩa của một phạm trù hình thái học (phạm trò cách trong tiếng Nga chắng hạn) hoặc của một phạm trò cú pháp học (thành phần trạng ngữ chỉ công cụ, thành phần bổ ngữ công cụ, thành phần chủ ngữ công cụ, thành phần đề ngữ công cụ). Về sau, trên con đojờng phát triển của ngôn ngữ học, khi ngữ nghĩa học trở thành một trào loiu mạnh mẽ, nghĩa công cụ đøjợc xem xét nhơi mỹ phạm trù thuộc kết cấu sâu, có tính chất phô quát. Nhiệm vụ của các nhà ngôn ngữ học lúc này là xác định các phạm trù ở kết cấu sâu và có gắng phát hiện các quy tắc thê hiện kết cấu sâu lên kết cấu bề mặt.
Quan niệm mới mẻ này đã dẫn đến nhiều kết luận thú vị. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu này chỉ chú ý đến các quy tắc thê hiện các phạm trò ở kết cấu sâu lên kết cấu mặt mà choỊa chú ý đến mối quan hệ của các phạm trò đó trong diễn đạt. Không hiểu dajgc quan hệ diễn đạt của các phạm trò này trong câu thì không thể hiểu đơiợc ý nghĩa chân chính của câu cùng các hình thức đa dang của nó. Luận án Câu 23 chủ - vị tiếng Việt của Lê Xuân Thại [75] đi theo hojớng này khi có một phần nghiên cứu về nghĩa công cụ trong câu tiếng Việt.
Lê Xuân Thại cho rằng, trong câu, nghĩa công cụ và nghĩa hoạt động có hai quan hệ về mặt diễn đạt: một là: công cụ là thành phần thuyết minh, hoạt động là thành phần đơjợc thuyết minh, hay nói cách khác, công cụ thuyết minh thêm cho hoạt động [75: 38], ví dụ: - (14) Vì quên chìa khóa ở cơ quan nên tôi phải phá khóa bằng máy cắt sắt. > may cat sắt thuyết minh về công cụ cho hoạt động øháđ hai là: hoạt động là thành phần thuyết minh, công cụ là thành phần đơjợc thuyết minh, hay nói cách khác, hoạt động thuyết minh cho công cụ [75: 38], ví dụ: - (15) Vợ tôi mua một bộ nỗi nấu cơm. > nau cơm làm định ngữ, thuyết minh về công dụng của øổi. Nhq vậy, trong nghiên cứu này, nghĩa công cụ không đojợc đề cập đến với toi cách là một vai nghĩa trong cấu trúc vị từ - tham thể, cũng không đojợc nghiên cứu ở cấp độ khái quát là một ý nghĩa ngữ pháp, mà chỉ dojoc nghiên cứu ở khía cạnh vị trí cú pháp (đứng trojớc hoặc sau động từ, đứng ở vị trí chủ ngữ hay ở vị trí vị ngữ), tính chất ngữ pháp của thành phần này trong câu (không xác định rõ ràng rằng đây là thành phần trạng ngữ chỉ công cụ hay chỉ là phần phụ của từ tô động từ.
mà chỉ coi đây là thành phần chỉ công cụ). Tiếp sau đó, theo quan điểm của Ngữ pháp chức năng hệ thống, Nguyễn Thị Quy trong cuốn V7 ừ hành động tiếng Việt và các tham tổ của nó (So sánh với tiếng Nga và tiếng Anh) [66] đã mô tả nghĩa công cụ với vai trò là bổ ngữ trực tiếp của vị từ và so sánh một số cách biểu hiện vai nghĩa công cụ trong tiếng Việt và ngôn ngữ châu Âu (chủ yếu là so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh). Lê Thị Lan Anh trong công trình nghiên cứu Các vai nghĩa: kẻ tiếp nhận, kẻ hỏng lợi, kẻ cộng tác, kẻ tốn thất, phơng tiện và các chức 24 năng ngữ pháp của chúng trong câu tiếng Việt [1] đã chỉ ra những đặc trong ngữ nghĩa hình thức của vai nghĩa phojong tiện trên bình diện nghĩa (nghĩa miêu tả) và nghiên cứu khả năng hiện thực hóa của vai nghĩa này trong vai trò các chức năng cú pháp của câu (có chú ý đến vai trò thông báo tơJơng ứng mà mỗi vai nghĩa đảm nhận khi đơjợc hiện thực hóa trong câu). Tô Minh Thanh trong công trình Vai nghĩa trong câu trần thuật tiếng Việt và tiếng Anh [80] đã mô hình hóa các khung tham chiếu vai nghĩa công cụ trong cấu trúc câu Đề - Thuyết.
Mặc dù, những nghiên cứu sâu về vai nghĩa công cụ không đơjợc triển khai, chỉ dừng lại ở mức độ “điểm danh” nhoIng nó đóng vai trò rất lớn trong việc xác lập một phạm vi nghiên cứu mang tính chất định hojớng lớn. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu bàn về nghĩa công cụ ở Việt Nam chủ yếu ở ba phoJơng diện: thứ nhất, ở cấp độ từ vựng, nghĩa công cụ đơojợc bàn luận với góc độ là một hơi từ có chức năng ngữ pháp biểu thị ý nghĩa công cụ; thứ hai, nghĩa công cụ đojợc bàn luận với tơi cách là một vai nghĩa trong nghiên cứu ngôn ngữ chức năng hệ thống; thứ ba, nghĩa công cụ đojợc bàn luận với tính chất là một thành phần câu, ban đầu là thành phần trạng ngữ chỉ công cụ, sau đó nghiên cứu thêm về thành phần chủ ngữ, bổ ngữ, đề ngữ có yếu tố công cụ. Trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến nghĩa công cụ, các tác giả hầu nhơi choja kiến giải toiờng minh về nghĩa công œ chơia đoỊa ra những định nghĩa chính xác về nghĩa công cụ. Van dé nay doe bàn luận nhiều hơn cả, có lẽ là, trong luận án của Lê Xuan Thai [75] nhojng dung lojong dành cho việc luận giải nghĩa công cụ cũng không lớn.
Các công trình nghiên cứu nho đã liệt kê ở trên cũng chơia miêu tả đojợc một cách tơờng minh các cách thức thê hiện ý nghĩa công cụ trong tiếng Việt, các vai trò cú pháp của nghĩa công cụ trong câu tiếng Việt. Khuynh hojớng mới nhất hiện nay, theo chủ quan của chúng tôi, nghĩa công cụ đoJợc bàn luận nhiều hơn với tơi cách là một vai nghĩa đánh dấu yếu tố công cụ thực hiện hành động trên cơ 25 sở lí luận của ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Đến nay, vấn đề này cũng đã bojéc dau dat dojoc mot sé két qua nhat dinh. Tuy vay, dung lojong danh do nghiên cứu độc lập vai nghĩa công cụ vẫn còn khá khiêm tốn.