chương 1). Tác giả Ljungqvist (2003) trong hai công trình “Aspect, tense and mood: Context dependency and the marker le in Mandarin Chinese.” và “Le, guo and zhe in Mandarin Chinese: a relevance-theoretic account” dựa trên lý thuyết này để miêu tả ý nghĩa của các chỉ tố 了, 过, 着. Xiao và McEnery trong công trình Aspect in Mandarin Chinese A corpus-based study (2004) cũng đã kế thừa quan niệm của Smith (1997) khi phân tích 在 và 着. Nhóm tác giả không sử dụng thuật ngữ durative aspect để chỉ ý nghĩa thể mà 在 và 着 chuyển tải.
Theo đó, nhóm tác giả nhấn mạnh chỉ tố 在 biểu thị ý nghĩa diễn tiến (progressive), chỉ tố 着 biểu thị ý nghĩa kéo dài hoặc duy trì (durative). Trong trường hợp 在 và 着 xuất hiện trong một sự tình động thì 着 có hàm ý sự tình sẽ tiếp tục trong một trạng thái, trong khi 在 không có hàm ý đó. Việc nghiên cứu chỉ tố 在 và 着 đã được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của các công trình tại Trung Quốc. Trong bài báo 体助词“着”不表示“进行”意义 (2000), tác giả 钱 乃 荣 cho rằng 着 có thể biểu thị ý nghĩa tồn tại hoặc đi kèm theo sau những kết cấu cố định.
Khi 着 là một chỉ tố thể, 着 biểu thị ý nghĩa duy trì và không thể biểu thị ý nghĩa diễn tiến. Đến năm 2002, trong bài báo “正(在)”、“在”与“着”的 功能比较研究, tác giả 肖奚强 đã chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt trong việc biểu thị ý nghĩa thể của 正(在), 在 và 着. Tác giả nhận định “Nhìn từ góc độ trạng thái, “ 在 ” và “ 着 ” đều biểu thị ý nghĩa duy trì”. Tuy nhiên, khi 着 kết hợp cùng 11 những từ ngữ hay thành phần câu khác thì ý nghĩa mà 着 biểu thị sẽ xuất hiện những điểm dị biệt so với ý nghĩa mà 在 và 正(在) biểu thị.
Vì thế tác giả nhấn mạnh “đây là nguyên nhân mà 正(在), 在 và 着 không thể thay thế cho nhau” (tr. Về sau, nhiều học giả cho rằng 在 và 着 có thể biểu thị ý nghĩa diễn tiến. Trong công trình 现代汉语的“进行体”标记研究 (2009), tác giả 欧阳珊 cho rằng 正,在,着 là ba chỉ tố biểu thị sự tiến hành, diễn tiến của động tác (tr. Tác giả quan niệm “thể diễn tiến biểu thị động ở một giai đoạn đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc”.
Trong đó tác giả có sự phân biệt giữa 在 là chỉ tố thể với 在 là từ định vị. Đồng thời tác giả cũng có sự phân biệt hai ý nghĩa thể mà 着 biểu thị đó là: thể diễn tiến và thể duy trì. Bên cạnh đó, cũng có những học giả quan niệm có thể hai chỉ tố này có thể biểu thị đồng thời hai ý nghĩa trên. Trong công trình “正” “在” “着” “呢”连用 共现与活动动词及其短语的搭配 (2007), tác giả 尙来彬 đã trình bày sự xuất hiện “正” “在” “着” “呢” trong những kết hợp với vị từ và vị ngữ.
Thêm vào đó, tác giả trình bày về sự kết hợp của các chỉ tố như “正”, “在”, “着”, “呢” trong những kết cấu nhất định. Từ đó, tác giả dẫn ra những trường hợp mà ý nghĩa diễn tiến và ý nghĩa duy trì có thể cùng xuất hiện trong một sự tình. Đến năm 2009, trong công trình 现代汉语 “进行-持续”体标记研究 tác giả 来燕飞 quan niệm thể diễn tiến và thể duy trì có thể kết hợp với nhau để tạo thành thể “diễn tiến-duy trì” trong một sự tình. Các chỉ tố 正,在,正在,着 đều có thể biểu thị ý nghĩa “diễn tiến-duy trì” ở các mức độ khác nhau.
Điểm mới của công trình này nằm ở chỗ, tác giả đã chỉ ra được sự kết hợp về mặt ngữ nghĩa của thể diễn tiến và thể duy trì. Ngoài ra, trong công trình 现代汉语体标记“在”和“着”的对比研究及类型学 考察 (2014), tác giả 秦加怡 không phân biệt ý nghĩa diễn tiến và ý nghĩa duy trì. Theo tác giả, “在 biểu thị ý nghĩa duy trì trong sự biến đổi, còn 着 biểu thị ý nghĩa 12 duy trì trong quá trình” (tr. Tác giả quan niệm, ý nghĩa duy trì là ý nghĩa chung cho hai chỉ tố này nhưng điểm khác biệt là ở chỗ ý nghĩa duy trì sẽ được biểu thị bằng hai tiểu loại, tương ứng với chỉ tố 在 và chỉ tố 着.
Các học giả cũng chú ý đến trường hợp hai chỉ tố này cùng xuất hiện trong một sự tình. Trong bài báo 汉语进行体标记“在”和“着”的句法语义研究 (2018), tác giả 陈哲 có chỉ ra trường hợp khi 在 và 着 cùng xuất hiện trong một sự tình. Tác giả cho rằng khi hai chỉ tố này cùng xuất hiện trong một sự tình thì “在 ngụ ý một hành động duy trì từ quá khứ đến hiện tại, trong khi 着 ngụ ý rằng hành động tiếp tục từ hiện tại đến tương lai. Các nhà nghiên cứu cũng ứng dụng kết quả nghiên cứu đối chiếu vào việc giảng dạy ngoại ngữ.
Trong công trình 持续体标记“着”的探究及在对外汉语教学中的偏 误 分析毕业论文开题报告 (2012), tác giả 可编辑 chủ yếu phân tích các trường hợp 着 biểu thị ý nghĩa duy trì. Bên cạnh đó, dựa theo nguồn ngữ liệu được rút ra từ các câu chứa lỗi (trong quá trình học tập hàng ngày và trong các bài thi viết thuộc kì thi HSK) của các học sinh Âu Mỹ, tác giả tiến hành phân tích các lỗi sai khi sử dụng chỉ tố 着 của các học viên này. Gần đây, nhiều học giả cũng phân tích lỗi sai khi sử dụng chỉ tố 在 và 着 của học viên là người Việt Nam. Trong bài viết, 基于自然语料越南学生汉语体标记“在” “着”的偏误分析 (2019), nhóm tác giả 王慧仪, 周小兵 đã dựa trên kho ngữ liệu thực tế để tìm ra các lỗi.
Trong các lỗi sai thường gặp của học viên, nhóm tác giả có chỉ ra lỗi thừa 在 hoặc thừa 着 trong sự tình. Nói về lỗi thừa 在, nhóm tác giả dẫn ra một ví dụ bất khả chấp “*我妈快乐因为她在有一个非常幸福的生活。” , câu chính xác nên là “我妈妈快乐因为她有一个非常幸福的生活。” - “Mẹ tôi rất vui vẻ bởi bà có một cuộc sống vô cùng hạnh phúc. Nhóm tác giả cho rằng, “有 là một vị từ 13 tĩnh nên không thể kết hợp với 在 để biểu thị ý nghĩa diễn tiến. Người học sử dụng thừa 在 có thể là do không nắm vững cách dùng của từ này, cũng có thể do bị ảnh hưởng từ tiếng Việt”.
Chỉ tố đang trong tiếng Việt ngoài biểu thị ý nghĩa diễn tiến, còn có thể biểu thị ý nghĩa tạm thời khi kết hợp với vị từ tĩnh. Nói về lỗi thừa 着, nhóm tác giả cũng chỉ ra câu sai ngữ pháp của người học “*我正在承担最小的工作,是擦着桌 子。” , câu đúng ngữ pháp là “我正在承担最小的工作,是擦桌子。” - “Tôi đang đảm nhận công việc nhỏ nhất, đó là lau bàn. Nhóm tác giả nhấn mạnh “擦 - lau là vị từ động, có những đặc trưng diễn tiến mạnh” (tr. Vì thế vị từ này không thể kết hợp với 着.
Qua nghiên cứu này, chúng ta thấy được ý nghĩa của chỉ tố 在 và 着, nhất là việc sử dụng chỉ tố này của học viên người Việt. Từ đó thấy được những giá trị thực tiễn thông qua việc nghiên cứu các chỉ tố biểu thị ý nghĩa không hoàn thành mang lại. Ngoài 在 và 着, Xiao và McEnery còn trình bày về 起来,下去. Nhóm tác giả cho rằng 起来,下去 cũng biểu thị ý nghĩa không hoàn thành tuy nhiên chúng chưa thật là một chỉ tố chính thức trong tiếng Trung (not a fully-fledged aspect marker).
Trong đó, 起来 khi xuất hiện trong câu có thể biểu thị ý nghĩa khởi phát (inceptive) còn 下去 khi có thể biểu thị ý nghĩa tiếp tục (continuative).刘小清 哈哈 大 笑 起来。(tr.Liúxiǎoqīng hāhā dà xiào qǐlái.Lưu Tiểu Thanh haha lớn cười IPFV.Lưu Tiểu Thanh bắt đầu cười phá lên. 看来 天气 还 会 冷 下去。(tr.230) 14 Kànlái tiānqì hái huì lěng xiàqù. Có vẻ thời tiết vẫn sẽ lạnh IPFV. “Có vẻ như thời tiết vẫn sẽ tiếp tục lạnh.” Nhìn chung, mỗi giai đoạn đều giúp việc nghiên cứu các chỉ tố đánh dấu thể được hoàn thiện hơn.
Theo đó, chúng tôi ủng hộ quan điểm ý nghĩa thể của sự tình được xác lập dựa trên sự tương tác giữa vị từ, chỉ tố và các tham tố xung quanh. Điểm mới trong công trình này là nhóm tác giả có trình bày thêm về hướng tiếp cận hai cấp độ (two-level approach). Mục đích nghiên cứu Đề tài cung cấp một cái nhìn khái quát về ý nghĩa thể, các phương tiện biểu thị ý nghĩa thể, nhất là các chỉ tố biểu thị ý nghĩa không hoàn thành trong tiếng Việt và tiếng Trung. Việc nghiên cứu các chỉ tố này không chỉ dựa trên sự kết hợp giữa chỉ tố với vị từ mà cần mở rộng ra cả sự tình.
Để xác lập ý nghĩa thể của một sự tình chúng ta cần quan tâm đến loại vị từ, chỉ tố thể, các tham tố xung quanh và yếu tố ngữ cảnh. Chúng tôi tiến hành đối chiếu các chỉ tố biểu thị ý nghĩa không hoàn thành trong hai ngôn ngữ cùng loại hình nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa thể của các chỉ tố trong ngôn ngữ nguồn và các phương tiện tương đương của chúng trong ngôn ngữ đích. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi ngữ liệu 4. Đối tượng nghiên cứu - Chỉ tố đang biểu thị ý nghĩa không hoàn thành trong tiếng Việt.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân tích các trường hợp đã, rồi, đã.rồi biểu thị ý nghĩa không hoàn thành. - Các chỉ tố biểu thị ý nghĩa không hoàn thành trong tiếng Trung, chủ yếu bao gồm hai chỉ tố 着 và 在. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân tích những trường hợp 了 biểu thị ý nghĩa không hoàn thành. 15 Các chỉ tố biểu thị ý nghĩa không hoàn thành trong tiếng Việt và tiếng Trung còn có những chỉ tố khác.
Trên đây là những đối tượng mà tác giả lựa chọn để tiến hành nghiên cứu đối chiếu trong Luận văn này. Phạm vi nghiên cứu và phạm vi ngữ liệu Nghiên cứu đối chiếu các chỉ tố biểu thị ý nghĩa không hoàn thành trong tiếng Việt và tiếng Trung trên bình diện ngữ nghĩa - cú pháp. Trong đề tài, chúng tôi sử dụng ba nguồn ngữ liệu chính: - Đối với các tiểu mục khảo sát cách chuyển dịch ý nghĩa thể của các chỉ tố biểu thị ý nghĩa không hoàn thành trong tiếng Việt sang tiếng Trung, chúng tôi chủ yếu sử dụng nguồn ngữ liệu được rút ra từ tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh và bản dịch 战争哀歌 (Chiến tranh ai ca) của dịch giả 夏露 (Hạ Lộ).