MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta phát triển mạnh theo hướng đa dạng hoá nhiều thành phần, tốc độ đô thị hoá nhanh, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất, nước ngày càng tăng. Một phần đáng kể đất đai bị chuyển đổi từ đất nông nghiệp, đất tư nhân sang các loại đất khác với chủ sở hữu hoặc sử dụng khác ảnh hưởng tới các hộ cư dân bên cạnh đó tài nguyên nước cũng đang gặp nhiều vấn đề trong việc khai thác, sử dụng không hợp lí. Đồng thời, nhiều mâu thuẫn, xung đột xã hội nảy sinh trong quá trình thu hồi đất, sử dụng và quản lý nước và đất đai.
Tình trạng đơn thư khiếu kiện, khiếu nại kéo dài, vượt cấp, gây mất an ninh - trật tự tại các địa phương. Để giải quyết tốt các vấn đề về xung đột trong sử dụng nước, đất và các mối quan hệ của chúng có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên phục vụ phát triển bền vững Hải An là quận nằm ở phía Đông, thuộc khu vực trung tâm của Thành phố Hải Phòng, thuận lợi cơ bản cả về giao lưu đường bộ và đường thủy và đường không. Quận có nhiều khu công nghiệp với quy mô lớn, đồng bộ, hiện đại, thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước vào sản xuất kinh doanh. Quận có tốc độ đô thị hoá nhanh trong thời gian qua, dẫn đến những biến động phức tạp về sử dụng đất, nước đặc biệt là chuyển đổi mục đích từ sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích đất phi nông nghiệp.
Nhiều khu vực nổi cộm về chuyển đổi đất đai, nhiều xung đột nảy sinh trong quá trình sử dụng đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đối với nước do quá trình đô thị hoá nhanh dẫn tới hiện tượng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng nước mặt quá mức dẫn đến cạn kiệt dòng chảy. Hiện nay, quận Hải An đã có nhiều cải cách trong công tác quản lý đất đai, quản lý tài nguyên nước, quản lý trật tự xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh - trật tự. Tuy nhiên, nhiều khó khăn nảy sinh do nhiều nguyên nhân: một bộ phận nhân dân chưa nhận thức đúng và thực hiện các quy định của Luật về đất đai, Luật xây dựng, Luật về tài nguyên nước; trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ chưa được nâng cao, chưa đáp Luan van 2 ứng được nhiệm vụ, giải quyết công việc đạt hiệu quả thấp; các mâu thuẫn, xung đột trong sử dụng đất, nước đang tăng về số lượng, có nhiều tình tiết phức tạp, tập trung đông người tại địa phương.
Để góp phần giải quyết được các vấn đề trên, cần thiết dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn về phân tích xung đột môi trường trong sử dụng đất, nước đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai, quản lí tài nguyên nước, quản lý trật tự xây dựng phục vụ phát triển bền vững. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, để làm sáng tỏ vấn đề này chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghi n u ung ột m i tr ng trong s ng tài nguy n t, n ph v phát tri n n v ng t i Quận Hải An thành phố Hải Phòng” cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ. Mục tiêu nghiên cứu - Nhận dạng và đánh giá được những xung đột môi trường trong sử dụng tài nguyên đất, nước ở quận Hải An từ năm 2010 đến nay; - Đề xuất các hướng giải pháp để giảm thiểu xung đột môi trường trong sử dụng tài nguyên đất, nước phục vụ phát triển bền vững quận Hải An 3. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu cần thực hiện các nội dung sau đây: - Phân tích hiện trạng biến động sử dụng đất của quận Hải An giai đoạn 2010-2017 - Xác định những vấn đề bức xúc từ đó nhận dạng và phân loại được các xung đột trong sử dụng đất tại quận Hải An - Đề xuất hướng giải pháp để giảm thiểu xung đột môi trường trong sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững - Nhận dạng xung đột trong sử dụng tài nguyên nước quận Hải An và đề xuất hướng giải pháp giảm thiểu xung đột phục vụ phát triển bền vững Luan van 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu xung đột trong sử dụng tài nguyên môi trƣờng 1. Tổng quan về xung đột môi trường trên thế giới Liên quan tới vấn đề nghiên cứu xung đột trong sử dụng tài nguyên, trên thế giới có một số công trình tiêu biểu gần đây được thực hiện như sau: Tại Đức: Tác giả Steinh u er và nnk. 2015 thực hiện một nghiên cứu về xung đột trong sử dụng đất cấp quốc gia và cấp vùng tại Đức. Nghiên cứu dựa trên cuộc phỏng vấn các bên liên quan và thông tin ghi nhận về xung đột trong sử dụng đất.
Sự thay đổi về chính sách năng lượng tại quốc gia này gần đây đã dẫn tới xung đột trong sử dụng đất trở nên gay gắt hơn. Người sử dụng đất đã ý thức rằng đất đai là một nguồn lực giới hạn, điều này đã dẫn đến sự cạnh tranh về sử dụng đất giữa các ngành tại khu định cư, vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giải quyết những xung đột cần phát triển các giải pháp sử dụng đất đa chức năng để giải quyết xung đột trong sử dụng đất. Thông tin về các bên liên quan tham gia vào các quyết định sử dụng đất được sử dụng để nghiên cứu giải quyết những xung đột này [28].
Tại Trung Quốc: Hui và Bao 2013 đã nghiên cứu bản chất của xung đột trong thu hồi đất ở Trung Quốc. Mâu thuẫn về đất đai phát sinh thường xuyên trong quá trình đô thị hóa nhanh ở Trung Quốc gây ra những tác động bất lợi. Khác với các nghiên cứu trước đây về tranh chấp đất đai, phân tích nguyên nhân, hậu quả, phương pháp đánh giá và quản lý, nghiên cứu này dựa trên tiếp cận hành vi theo lý thuyết trò chơi. Kết quả ba mô hình được đề xuất: i Mô hình năng động cho các xung đột về việc thu hồi đất theo quy phạm pháp luật; ii Mô hình trò chơi thu hồi đất bất hợp pháp; và iii) Mô hình trò chơi của thị trường đất đai.
Những mô hình này giải thích cơ chế tranh chấp, xung đột phát triển, chiến lược của cuộc xung đột giữa chính quyền địa phương và nông dân, các mô hình này cung cấp một số thông tin quan trọng cho định hướng chính sách trong thu hồi đất tại Trung Quốc [20]. Luan van 4 - Tại Singapore: Sze và Sovacool 2013 thực hiện một nghiên cứu về mô hình sử dụng đất giải quyết xung đột và đánh giá sơ bộ cách Singapore đưa ra các biện pháp giải quyết xung đột trong sử dụng đất, các tiêu chí về hiệu quả, công bằng, bền vững và khả năng tương thích được sử dụng để quản lý các mâu thuẫn trong sử dụng đất. Hiệu quả liên quan đến việc phát triển các giao dịch đất đai nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và thuận lợi. Vốn chủ sở hữu bao gồm việc có một hệ thống công bằng liên quan đến tất cả các bên, tính bền vững liên quan với môi trường và xã hội sử dụng đất hiện tại và tương lai, khả năng tương thích đề cập đến cách sử dụng đất được tích hợp với luật pháp và các quy định khác [29].
Theo học giả Helga H, XĐMT liên quan đến sử dụng tài nguyên nước có thể bao hàm sự mâu thuẫn, XĐ mang tính chất quốc tế do sự khan hiếm nguồn nước của các hệ thống sông có sự liên quan của nhiều quốc gia do cùng khai thác và có sự gây ô nhiễm đến chất lượng nước của quốc gia này gây ảnh hưởng cho quốc gia khác. Điều này sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa các địa phương, quốc gia và mâu thuẫn trong khai thác sử dụng nguồn tài nguyên khác [21] 1. Tổng quan về xung đột môi trường tại Việt Nam Những năm gần đây, Việt Nam đã có những đề tài nghiên cứu liên quan đến XĐMT như “Giải pháp điều hòa XĐMT giữa các nhóm xã hội trong làng nghề” Nguyễn Thị Hiền, 2002 chỉ ra XĐMT có tính đối kháng giữa cộng đồng các làng vùng nông thôn; “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm ứng phó, quản lý các XĐMT trong thời kỳ từ nay đến năm 2010” Cục Môi trường - Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, 2005 ; hay đề tài “Hành vi sức khỏe của cư dân nông thôn trong bối cảnh XĐMT” Viện Xã hội học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2007). Ngoài ra việc phân tích các xung đột của các nhà nghiên cứu của Trường ĐH Tự do, Vương quốc Bỉ VUB trong khuôn khổ dự án “Các giải pháp cho XĐMT vùng ven bờ” SECOA, 2010-2013),.Năm 2010, nghiên cứu về “xung đột và sự hợp tác trong quản lý nước tại cộng đồng địa phương được thực hiện tại huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An” của trường ĐH Nông Nghiệp và tổ chức DIIS của Đan Mạch.
Một số luận văn Thạc sỹ ngành MT liên quan đến XĐMT như “Chính sách QLMT Luan van 5 đối với việc giải quyết XĐMT” Lê Thanh Bình, 2000 ; “Đề xuất chính sách giảm thiểu ÔNMT thông qua việc nhận dạng và giải quyết XĐMT giữa các cộng đồng dân cư trong khu vực sông Nhuệ, sông Đáy đoạn qua tỉnh Hà Nam Nguyễn Đắc Dương, 2009 ,… Các nghiên cứu điển hình liên quan đến mâu thuẫn, XĐMT trong khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước Tây Nguyên như: “Báo cáo đề xuất khung pháp lý giải quyết mâu thuẫn nước ở Tây Nguyên” Viện Quy hoạch thủy lợi, 2008 ; Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho giải pháp tổng thể giải quyết các mâu thuẫn lợi ích trong việc khai thác sử dụng tài nguyên nước lãnh thổ Tây Nguyên” thuộc Chương trình Tây Nguyên III Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2011 ; Gần đây nhất, đề tài “Nghiên cứu, đánh giá XĐMT ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới và đề xuất các giải pháp PTBV” TN3/T17 - Lê Ngọc Thanh, 2014 .