mở đầu của việc phát triển KCN ở nước ta, ngày 24/4/1997 Chính phủ ban hành Nghị định 36/CP thống nhất các quy chế KCN nhằm kiện toàn và đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng và phát triển các KCN; tạo một hành lang pháp lý đặc biệt cho loại hình kinh tế còn khá mới mẻ lại có điểm xuất phát thấp, chúng ta chưa có kinh nghiệm lại thiếu tiềm lực về nguồn vốn đầu tư các cơ sở vật chất hạ tầng trong cũng như ngoài địa bàn KCN. Hơn nữa lại chịu sự cạnh tranh rất gay gắt về thu hút đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia. Tuy nhiên với đường lối chính trị đúng, Đảng ta đã lãnh đạo công cuộc đổi mới và thu được những thành công, đã khẳng định được vị trí của đất nước trên trường quốc tế. Với các chính sách kinh tế mở, thông thoáng đã hấp dẫn được các nhà đầu tư và các quốc gia trên thế giới.
Theo Vụ Quản lý KCN của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến thời điểm hiện nay có khoảng 298 KCN đang hoạt động với sự phân bố khác nhau trong các vùng, miền; điển hình như Đồng Nai: 32 KCN, Tp.Hồ Chí Minh: 19 KCN, Long An: 36 KCN, Bình Dương: 25 KCN, Nghệ An: 3KCN, Đà Nẵng: 6 KCN, Hà Nội: 9 KCN… Các KCN đã được thành lập ở Việt Nam phần lớn tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 23 khu, diện tích 3.345 ha, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 50 khu, diện tích 11.579 ha, Vùng kinh tế 11 z trọng điểm miền Trung có 17 khu, diện tích 2.466 ha và khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi), khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam). Ngoài ra, các khu khác có 16 khu, diện tích 2. Hệ thống KCN ở nước ta gồm nhiều loại hình, đa dạng về quy mô, tính chất và trình độ hiện đại. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các KCN, các vấn đề môi trường cũng nảy sinh nhanh chóng.
Việc lắp đặt các hệ thống xử lí khí thải, nước thải… đã được các khu công nghiệp chú trọng. Đặc biệt, công tác quản lí môi trường ngày càng được các cấp liên quan đề cao. Đến nay, trên cả nước đã có 67 Ban quản lý được thành lập, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với các KCN, KCX và KKT trên các lĩnh vực: đầu tư, quy hoạch - xây dựng, tài nguyên - môi trường, doanh nghiệp - lao động, thương mại - xuất nhập khẩu. Bên cạnh việc Nhà nước cải thiện các thủ tục hành chính chung, các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh cũng đã ban hành những chính sách đơn giản hóa, giảm thiểu và công khai các thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Đồng thời, các cơ quan quản lý chuyên ngành như hải quan, ngân hàng, công an. cũng đã được thành lập tại các KCN. Trên cơ sở cơ chế ủy quyền này đã hình thành và phát huy được cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”. Ban quản lý KCN cấp tỉnh đã được trao quyền quyết định trong quản lý KCN, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước đối với KCN, rút ngắn được thủ tục hành chính, giải tỏa tâm lý cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước về chính sách của nhà nước ta đối với việc đầu tư vào các KCN, góp phần không nhỏ thúc đẩy phát triển các KCN, được các doanh nghiệp KCN thừa nhận tính tích cực của công tác quản lý Nhà nước.
Đây là cơ chế quản lý đúng và phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển hiện nay. Các ngành sản xuất và chất thải phát sinh trong KCN a) Các ngành nghề sản xuất trong một KCN [3, 4, 16-19, 31] Như trên đã nêu, thường trong một khu công nghiệp, các ngành nghề rất đa dạng và phụ thuộc chủ yếu vào các đặc điểm và các nhân tố tác động đến sự hình 12 z thành thuận lợi một KCN. Đồng thời phải chú ý đến khả năng phát triển một KCNST. Vì thế, các ngành nghề cũng có thể chỉ tập trung vào một nhóm ngành có khả năng tận dụng được nguồn nguyên vật liệu, tài nguyên và nhân công tại chỗ; nhưng cũng có thể gồm nhiều loại ngành nghề có tác dụng hỗ trợ/cộng sinh.
Như vậy một KCN có thể bao gồm một hoặc một số các ngành nghề sau đây theo Nghị định số 29/2011/BTNMT ngày 18/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. - Ngành chế biến thực phẩm bao gồm: sản xuất đồ uống các loại, chế biến thủy sản, sản xuất bột ngọt, đường, sữa, bánh kẹo, nước lọc, đá tinh khiết. - Ngành chế biến nông sản: sản xuất thuốc lá, nguyên liệu thuốc lá, tinh bột, ngũ cốc, xay xát chế biến gạo, chế biến chè, cà phê, hat điều, ca cao. - Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, phụ phẩm thủy sản, bột cá.
- Ngành sản xuất phân bón, phân vi sinh, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. - Ngành sản xuất hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm: sản xuất thuốc thú y, sản xuất hóa mỹ phẩm, sản xuất các sản phẩm từ chất dẻo, sơn, sản xuất nhựa, phụ gia. - Ngành sản xuất giấy và văn phòng phẩm: sản xuất giấy, bột giấy, bìa cát tông, bao bì, văn phòng phẩm. - Ngành sản xuất thủy tinh, gốm sứ, chế biến gỗ: sản xuất sứ vệ sinh, thủy tinh các loại, phích nước, gỗ gia dụng, ván ép, bóng đèn.
- Ngành luyện kim, cơ khí: cán tôn, luyện thép, đánh bóng kim loại, sửa chữa đầu máy, sản xuất nhôm định tính. - Ngành chế biến khoáng sản: sản xuất bột đá trắng siêu mịn, tráng phủ men, sản xuất đá ốp lát. - Ngành điện tử viễn thông: sản xuất các linh kiện điện tử, thiết bị điện. 13 z b) Các loại chất thải phát sinh [1, 3, 13, 16] Cũng như bất kỳ một hoạt động sản xuất nào, các chất thải đều thường gồm 3 dạng rắn, lỏng, khí sau: - Chất thải rắn: Chất thải rắn phát sinh chủ yếu ở là các nguyên liệu không đạt chuẩn, các phần phụ nguyên liệu, xỉ tro trong quá trình đốt, bùn thải của hệ thống xử lý nước thải và các chất thải sinh hoạt phát sinh của công nhân.
Loại chất thải này phát sinh hầu hết các ngành sản xuất nhưng có nhiều ở ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, sản xuất nguyên liệu giấy, thủy tinh, gốm sứ. - Chất thải vào khí quyển (khí, bụi và sol khí): Các chất thải này phát sinh trong quá trình sản xuất tại các công đoạn như lò hơi, xay, trộn, nghiền, đốt, ép dẻo, máy phát điện. Lượng phát sinh lớn nhất loại chất thải này chủ yếu trong sản xuất nhiệt điện, luyện kim, xi măng, công nghiệp chế biến khoáng sản, phân bón, hóa chất, chất dẻo. - Chất thải lỏng: phát sinh trong quá trình sản xuất như rửa nguyên liệu, rửa máy móc, ngâm tẩm nguyên liệu, nước làm mát, nước cho quá trình xử lý bụi.
và nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên. Loại chất thải này chủ yếu phát sinh trong một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, sản xuất giấy và nguyên liệu giấy, sản xuất mỹ phẩm, dược phẩm, thức ăn chăn nuôi. Trong cả 3 dạng chất thải này, đều có thể có chất thải nguy hại ( là chất thải chứa các chất hoặc các hợp chất có một trong các đặc trưng gây nguy hại trực tiếp như dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm,. ; Hoặc tương tác chất với chất khác, bền và khó phân hủy, gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người như bụi kim loại, hơi dung môi, dầu mỡ thải, sơn, pin, ắc quy.
Các chất thải nguy hại đều có thể có ở nhiều ngành nghề sản xuất, nhưng nhiều hơn cả là ngành sản xuất linh kiện điện tử, luyện kim, cơ khí, sửa chữa máy móc, tàu thủy. Một số biện pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm nước 1. Các biện pháp giảm thiểu [1, 3-8] a) Cơ chế chính sách 14 z Yêu cầu thực hiện nghiêm việc thẩm định bảo cáo đánh giá tác động môi trường đối với toàn KCN cũng như đối với mỗi dự án đầu tư vào KCN. Đặc biệt, khuyến khích các nhà máy áp dụng những quy trình sản xuất sạch hơn hoặc công nghệ mới sạch.
Có kế hoạch đầu tư phương tiện máy móc thiết bị cho đơn vị có trách nhiệm về quản lý môi trường trong các KCN. Bổ sung kinh phí cho việc đào tạo cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường. Phối hợp chặt chẽ giữa Chính quyền địa phương, Công ty sản xuất kinh doanh, công ty phát triển hạ tầng để khắc phục ô nhiễm tại KCN. b) Công cụ pháp lý Ban hành những quy định về pháp luật như luật Bảo vệ môi trường, Nghị định,…về hướng dẫn lập và thực hiện công tác bảo vệ môi trường.
Yêu cầu tất cả các chủ đầu tư trong KCN có phát sinh nước thải phải xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn đầu vào của hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tăng cường công tác thanh, kiểm tra để xử lý các doanh nghiệp không thực hiện theo đúng cam kết bảo vệ môi trường trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. c) Công cụ kinh tế Thực hiện ban hành phí bảo vệ môi trường là công cụ kinh tế hiệu quả nhằm ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm tại KCN. d) Tăng cường năng lực quản lý Xây dựng hệ thống văn bản và hệ thống quản lý môi trường của doanh nghiệp.
Làm rõ chức năng nhiệm vụ quản lý môi trường cho từng đơn vị, từng cá nhân đã được phân công, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cá nhân và các đơn vị này trong quá trình thực hiện quản lý môi trường. Nâng cao năng lực quản lý môi trường tại KCN đảm bảo đủ nguồn nhân lực và trình độ. e) Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp Các doanh nghiệp đòi hỏi phải hiểu các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Xử lý nước thải Nếu như biện pháp giảm thiểu tập trung vào các công cụ quản lý môi trường và việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất sạch hơn để giảm tiêu thụ tài nguyên, giảm lượng nước thải/chất thải phát sinh, tái quay vòng và tận dụng chất thải, thì việc xử lý nước thải lại tập trung vào việc loại bỏ các chất ô nhiễm đã phát sinh trong hoạt động sản xuất ở các dòng thải ra môi trường đạt các yêu cầu theo tiêu chuẩn/quy chuẩn môi trường của mỗi quốc gia/khu vực.