Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu xây dựng mô hình nữ vận động viên chạy 100m cấp cao việt nam

Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu xây dựng mô hình nữ vận động viên chạy 100m cấp cao tại Việt Nam, hướng đến phát triển thể thao chuyên nghiệp.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

209
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm mô hình và mô hình vận động viên cấp cao

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khái niệm mô hình và mô hình vận động viên cấp cao

Phần này trình bày khái niệm mô hìnhmô hình vận động viên cấp cao, tập trung vào việc định nghĩa và ứng dụng của mô hình trong lĩnh vực thể thao. Mô hình được hiểu là một hệ thống trừu tượng, giúp mô phỏng và hiểu rõ các đặc điểm của một hệ thống thực tế. Trong thể thao, mô hình vận động viên cấp cao là công cụ quan trọng để đánh giá và phát triển các chỉ số về hình thái, chức năng, thể lực, tâm lý và kỹ thuật của vận động viên.

1.1 Khái niệm mô hình

Mô hình là một công cụ trừu tượng, giúp mô phỏng và hiểu rõ các đặc điểm của một hệ thống thực tế. Theo từ điển Oxford, mô hình là một dạng thức trừu tượng của một hệ thống, được hình thành để hiểu hệ thống trước khi xây dựng hoặc xây dựng hệ thống đó. Trong thể thao, mô hình được sử dụng để đánh giá và phát triển các chỉ số về hình thái, chức năng, thể lực, tâm lý và kỹ thuật của vận động viên.

1.2 Mô hình vận động viên cấp cao

Mô hình vận động viên cấp cao là một hệ thống các tiêu chí đánh giá về hình thái, chức năng, thể lực, tâm lý và kỹ thuật của vận động viên. Mô hình này giúp các huấn luyện viên và nhà nghiên cứu thể thao đánh giá và phát triển tiềm năng của vận động viên. Theo Harre (1982), mô hình này dựa trên giả định rằng chỉ thông qua tập luyện mới có thể xác định được tiềm năng của vận động viên.

II. Các yếu tố cấu thành mô hình đặc trưng nữ VĐV chạy 100m cấp cao Việt Nam

Phần này phân tích các yếu tố cấu thành mô hình đặc trưng nữ vận động viên chạy 100m cấp cao Việt Nam, bao gồm các đặc điểm về thể hình, sinh lý, kỹ thuật, thể lực và tâm lý. Các yếu tố này được xem xét dựa trên các nghiên cứu và thực tiễn huấn luyện tại Việt Nam.

2.1 Đặc điểm thể hình của VĐV chạy 100m

Đặc điểm thể hình của vận động viên chạy 100m bao gồm chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể (BMI) và các chỉ số khác liên quan đến cấu trúc cơ thể. Các nghiên cứu chỉ ra rằng vận động viên chạy 100m thường có chiều cao trung bình và cân nặng phù hợp để đạt được tốc độ tối đa.

2.2 Đặc điểm sinh lý trong chạy cự ly ngắn

Đặc điểm sinh lý của vận động viên chạy 100m bao gồm khả năng hấp thụ oxy, nhịp tim, và các chỉ số sinh hóa khác. Các nghiên cứu chỉ ra rằng vận động viên chạy 100m cần có khả năng hấp thụ oxy cao và nhịp tim ổn định để duy trì tốc độ trong thời gian ngắn.

III. Phương pháp nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu

Phần này trình bày các phương pháp nghiên cứutổ chức nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Các phương pháp bao gồm phân tích và tổng hợp tài liệu, phỏng vấn, kiểm tra y sinh học, kiểm tra sư phạm, kiểm tra tâm lý và toán thống kê. Các phương pháp này giúp thu thập và phân tích dữ liệu một cách chính xác và khoa học.

3.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng để thu thập và phân tích các nghiên cứu liên quan đến mô hình vận động viên chạy 100m. Phương pháp này giúp xác định các yếu tố quan trọng cần được đánh giá trong mô hình.

3.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để thu thập ý kiến từ các chuyên gia, huấn luyện viên và vận động viên. Phương pháp này giúp xác định các chỉ số và test đánh giá phù hợp với thực tiễn huấn luyện tại Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu xây dựng mô hình nữ vận động viên chạy 100m cấp cao việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm mô hình và mô hình vận động viên cấp cao 1. Khái niệm mô hình Theo từ điển Oxford (Oxford, Dictionary), khái niệm mô hình (Model) là một dạng thức trừu tượng của một hệ thống được hình thành để hiểu hệ thống trước khi xây dựng hoặc xây dựng hệ thống đó. Hay theo nghĩa giải thích rõ hơn là một người hay vật là một ví dụ xuất sắc về chất lượng [70].

Từ điển Cambridge: một cái gì đó mà một bản sao có thể được dựa trên vì nó là một ví dụ rất tốt về thể loại của nó [66]. Từ điển Larouse: Những gì được đưa ra để phục vụ như một sự tham chiếu, một kiểu loại hay người hoặc đối tượng sở hữu một số phẩm chất hoặc đặc điểm của việc biến nó thành một kiểu loại hình mẫu hoặc những gì đưa ra để được sao chép lại [69]. Mô hình là một hệ thống hay một vật thể được sử dụng như là một công cụ làm mẫu để làm theo hoặc để mô phỏng. Mô hình hiểu theo khái niệm rộng và thực tế thì thực chất đó là sự chuẩn mực của một vấn đề nào đó luôn xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của con người như mô hình một xã hội hay mô hình một trường học.

Mỗi dạng mô hình có các tiêu chí khác nhau một chuẩn mục riêng để đánh giá. Khái niệm mô hình có thể hiểu là công cụ, nhờ đó giúp thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình nào đó, phục vụ cho công tác sản xuất và đời sống của con người. Mô hình là công cụ giúp ta thể hiện một sự vật, hiện tượng nào đó phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, học tập, sản xuất và các hoạt động tinh thần của con người, thể hiện mối quan hệ có tính hệ thống giữa các nhân tố. Mô hình nghiên cứu: Thể hiện mối quan hệ của các nhân tố (các biến) trong phạm vi nghiên cứu, mối quan hệ này cần được phát hiện hoặc qua kiểm chứng.

Từ những khái niệm trên, mô hình theo nhiều tác giả là một dạng trình bày của thế giới thực bởi vì hệ thống thực tế thì rất rộng lớn và rất phức tạp không cần thiết phải được mô tả và giải quyết. Mô hình cung cấp một phương tiện để quan niệm hoá vấn đề và giúp chúng ta có thể trao đổi các ý tưởng trong 5 một hình thức cụ thể, không mơ hồ. Mô hình hoá là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi trong khoa học và kỹ thuật. Mô hình hoá trong lĩnh vực khoa học có thể là sự tái hiện lại những đặc tính của khách thể này lên khách thể khác.

Sự hình thành mang tính chuyên biệt đối với việc nghiên cứu các đặc tính này gọi là mô hình. Trong lĩnh vực khoa học TDTT thì mô hình hoá được hiểu đó là tổng hoà các tiêu chí khác nhau (khối lượng và chất lượng) về trạng thái và trình độ tập luyện của VĐV, ví dụ trong huấn luyện thể lực phải dựa trên các chỉ số mô hình đã được xây dựng làm kim chỉ nam cho việc huấn luyện thể lực. Trong việc xây dựng mô hình thì giữa khách thể nghiên cứu và mô hình hoá phải đảm bảo một sự tương thích. Mô hình chỉ có giá trị khi khách thể nghiên cứu có đủ trình độ thích hợp để thực hiện mô hình đó hoặc dựa trên đặc điểm của VĐV để xây dựng mô hình huấn luyện.

Mô hình của Harre (1982): theo Harre, mô hình này được dựa trên giả định rằng chỉ thông qua tập luyện mới có thể xác định là một cầu thủ trẻ có các thuộc tính cần thiết để thành công hay không [14]. Theo đó, Harre nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa càng nhiều VĐV trẻ vào các chương trình huấn luyện càng tốt. Ngoài môi trường đào tạo, Harre cũng cho rằng tài năng sẽ chỉ kết trái khi có sự nuôi dưỡng thích hợp của cha mẹ và hỗ trợ của đồng bạn. Việc công nhận vai trò của những người quan trọng trong việc chuyển hóa tiềm năng thành tài năng phù hợp với nghiên cứu của Bloom (1971) trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Sau khi nhận định vai trò của công tác huấn luyện và môi trường tương tác xã hội của các VĐV đang trong quá trình phát triển, Harre xác định các quy tắc cụ thể sau để phát hiện tài năng: a. Xác định tài năng thể thao nên được thực hiện trong hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu cần xác định tất cả trẻ em thể hiện năng lực thể thao tốt. Trong giai đoạn thứ hai, những trẻ em này được phân loại theo kỹ năng ứng với các môn thể thao.

Xác định tài năng thể thao phải dựa trên các yếu tố vừa quan trọng đối với thành tích cao vừa dựa nhiều trên di truyền. Đặc điểm và khả năng của từng cá nhân phải được đánh giá trong tương quan với mức độ phát triển sinh học. Xác định tài năng thể thao không thể dựa vào các thuộc tính thể chất bên ngoài mà phải kết hợp một số biến tâm lý và xã hội giúp VĐV thành công. Regnier và các đồng nghiệp (1997) chỉ ra rằng bốn quy tắc này cùng với hai điều kiện ban đầu là cơ sở cho mô hình xác định tài năng thể thao của Harre [14].

Cụ thể, mô hình đề xuất rằng các cá nhân được xác định ban đầu dựa trên các test kiểm tra khả năng khách quan (chiều cao, tốc độ chạy, độ bền, khả năng phối hợp, khả năng vận động trong các tình huống thi đấu và “tính linh hoạt thể thao”) được xây dựng trên tiền đề xác định tài năng thể thao nên căn cứ theo các yếu tố quyết định thành tích ở trình độ thi đấu đỉnh cao. Dù mô hình của Harre chứa một số đặc điểm tích cực, vẫn có điểm chưa được phát triển đầy đủ và giải thích rõ ràng. Ví dụ, Harre nhấn mạnh rằng sự phát triển sinh học có thể ảnh hưởng đến thành tích. Tuy nhiên, phương tiện tính toán tỷ lệ phát triển sinh học chưa được nêu rõ.

Harre cũng nhấn mạnh sự liên quan của các biến tâm lý và xã hội. Một đặc điểm tích cực khác là việc xem xét tác động mà các yếu tố tâm lý được cho là có khả năng tạo ra cho một cá nhân trên con đường phát triển thành VĐV đỉnh cao. Đặc biệt, thái độ đối với thể thao trong trường học, sự tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa và sự phát triển nhân cách của “người hoạt động xã hội trẻ” lý tưởng được Harre đưa ra [14]. Mô hình cũng nhấn mạnh “tiềm năng để nâng cao”, được đo bằng phản ứng đối với các chương trình huấn luyện trước khi được lựa chọn vào giai đoạn hai, là một vấn đề có vẻ liên quan đến các yếu tố tâm lý xã hội.

Khi áp dụng một cách tiếp cận xác định tài năng toàn diện hơn, Havlicek, Komadel, Komarik và Simkova (1982), theo trích dẫn của Regnier và cộng sự, (1997) trình bày một khái niệm mô hình công nhận bản chất đa chiều của thành tích thể thao [77]. Trong khi các thuộc tính thành tích bẩm sinh được xem như là yếu tố quyết định tài năng chính, Havlicek công nhận rằng các yếu tố chịu ảnh hưởng của môi trường cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến tài năng. Do đó, các nhà nghiên cứu ưu tiên các yếu tố bẩm sinh như chiều cao trong khâu lựa chọn tài năng, tiếp 7 theo là các yếu tố đào tạo được nhưng chịu ảnh hưởng của di truyền (ví dụ như tốc độ) và cuối cùng là các yếu tố có thể được nuôi dưỡng (ví dụ như động lực). Tuy nhiên, giống như mô hình của Harre, mô hình này không phân biệt giữa các biến đánh giá tiềm năng và hiệu suất.

Mô hình của Gimbel (1976), đã chấp nhận cả quan điểm tự nhiên và nuôi dưỡng, và nhấn mạnh nhiều yếu tố quyết định tài năng bao gồm các yếu tố sinh lý và hình thái, khả năng đào tạo và động lực; tất cả đều có thể dẫn đến thành tích thể thao [52]. Nhận thấy sự cần thiết của hoạt động tập luyện theo kế hoạch, Gimbel cho rằng các nhân tài cần được phát hiện trong độ tuổi từ 8 đến 9. Tuy nhiên, mức độ trưởng thành của các yếu tố sinh lý và hình thái đã được xác định là không thể dự đoán được ở đầu thời thơ ấu và do đó Gimbel đề xuất "thời kỳ phục hồi" trong khoảng một năm. Thật không may, đặc điểm này cũng có vấn đề vì những cá nhân được chọn ở bất kỳ giai đoạn nào cũng sẽ được phát hiện dựa trên các yếu tố quyết định thành tích hơn là tiềm năng.

Trong khi các yếu tố quyết định thành tích quan trọng đối với khả năng thành công trong môi trường thi đấu thì các yếu tố quyết định tiềm năng sẽ rất quan trọng đối với khả năng tiếp thu các thuộc tính liên quan và phát triển thành công môn thể thao mà một cá nhân chọn. Thật ra, bản thân Gimbel nhận ra rằng không thể dự đoán được tài năng qua các test kiểm tra do sự khác biệt về tuổi sinh học giữa các trẻ em; rõ ràng là ủng hộ quan điểm xem trọng các yếu tố quyết định tiềm năng. Một cách tích cực, Gimbel công nhận tầm quan trọng của các biến tâm lý và nêu bật việc cách các biến này bị phớt lờ như thế nào trong các mô hình dự báo. Theo đó, ông ủng hộ việc xác định các yếu tố tâm lý quyết định thành tích.

Tuy nhiên, một lần nữa không có ai chú ý đến các thuộc tính hứa hẹn sự phát triển thành công trong thể thao. Montpetit và Cazorla (1982) đã mở rộng mô hình của Gimbel (1976, theo trích dẫn của DurandBush & Salmela, 2001) [63] để thêm các chi tiết liên quan đến việc phát hiện các yếu tố hình thái và sinh lý quyết định thành tích. Theo họ, hồ sơ của các VĐV đỉnh cao ban đầu dựa trên các quy trình kiểm tra sinh lý thông thường. Sự ổn định của các biến này sau đó sẽ được xác minh thông qua kiểm tra dài hạn và chỉ khi đó các biến mới có thể được áp dụng cho các nhóm 8 VĐV trẻ hơn.

Bompa (2015), người đã phát triển một khái niệm mô hình về xác định tài năng thể thao dựa trên hệ thống sau đó thường được sử dụng trong các nước Đông Âu, đưa ra một đề xuất tương tự. Mô hình của ông nhấn mạnh ba nhóm yếu tố quyết định thành tích, cụ thể là: (1) năng lực vận động (kỹ năng tri giác và vận động, sức bền, sức mạnh và công suất), (2) năng lực sinh lý và (3) đặc điểm hình thái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu xây dựng mô hình nữ vận động viên chạy 100m cấp cao tại Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phát triển mô hình huấn luyện và đào tạo cho các nữ vận động viên chạy 100m đạt thành tích cao. Nghiên cứu này không chỉ phân tích thực trạng hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp khoa học nhằm nâng cao hiệu quả huấn luyện, từ đó giúp các vận động viên Việt Nam cạnh tranh tốt hơn trên đấu trường quốc tế. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các huấn luyện viên, nhà quản lý thể thao và những người quan tâm đến phát triển thể thao thành tích cao.

Để mở rộng kiến thức về các mô hình huấn luyện và quản lý thể thao, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nữ vận động viên đua thuyền kayak cự ly 500m lứa tuổi 15 17 câu lạc bộ đua thuyền hà nội, Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện nữ vận động viên bóng đá cấp cao việt nam, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam vận động viên wushu taolu lứa tuổi 12 15 một số tỉnh thành phía bắc việt nam. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về huấn luyện và phát triển thể thao thành tích cao tại Việt Nam.