CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1.1 Tổng quan về giao thông đô thị 1. Cấu trúc hệ thống giao thông vận tải đô thị: Thuật ngữ Giao thông vận tải (GTVT) đô thị được hiểu là tập hợp các công trình, các con đường giao thông và các phương tiện khác nhau đảm bảo sự liên hệ giữa các khu vực khác nhau của đô thị. Đây là một trong ba yếu tố cấu thành nên hệ thống đô thị (hình 1.1 Sơ đồ hệ thống đô thị HỆ THỐNG ĐÔ THỊ GTVT Sử dụng đất và thành phần Công cộng Cá nhân dân cư Hàng hóa Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Nguồn [20] GTVT giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống sinh hoạt của thành phố hiện đại. Chức năng của nó là đảm bảo sự liên hệ thường xuyên và thông suốt giữa các khu chức năng chủ yếu của đô thị với nhau như: Khu dân cư, khu công nghiệp, các điểm phục vụ văn hóa, sinh hoạt, thương mại, dịch vụ, các khu vực nghỉ ngơi.
HV: Lê Thị Ngọc Trâm - Lớp Cao học XD Đường ô tô & TP K17 Trang 11 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ GTVT đô thị ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả lao động của các chức năng đô thị khác cũng như phúc lợi của mọi người dân. Nó thực sự như hệ tuần hoàn trong cơ thể sống, nghĩa là đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng, thuận tiện và an toàn các yêu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trong phạm vi thành phố. Một hệ thống GTVT hiệu quả sẽ đóng góp một cách đáng kể cho việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, làm cho thành phố có được tính cạnh tranh tốt, trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và nâng cao hình ảnh, vị thế của thành phố đối với các đô thị khác trong cả nước và khu vực. Nếu hệ thống GTVT được tổ chức tốt thì không những nó mang lại hiệu quả về mặt kinh tế như giảm chi phí vận tải, tăng khả năng vận chuyển hàng hóa, hành khách trong thành phố mà nó còn đem lại hàng loạt các hiệu quả về mặt xã hội cũng như về mặt bảo vệ môi trường.
Hệ thống giao thông đô thị là tập hợp hệ thống giao thông và hệ thống vận tải nhằm đảm bảo sự liên hệ giao lưu giữa các khu vực trong đô thị.2 Sơ đồ hệ thống giao thông vận tải đô thị GIAO THÔNG ĐÔ THỊ Hệ thống giao thông Hệ thống vận tải HTGT HTGT VT hành VT hàng VT chuyên động tĩnh khách hóa dùng Công Cá nhân cộng Nguồn [20] - Hệ thống giao thông động: Là bộ phận của mạng lưới giao thông có chức năng đảm bảo cho phương tiện và người di chuyển được thuận tiện giữa các khu vực chức năng trong đô thị. Đó là mạng lưới đường xá, nút giao thông, cầu vượt,… HV: Lê Thị Ngọc Trâm - Lớp Cao học XD Đường ô tô & TP K17 Trang 12 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ - Hệ thống giao thông tĩnh: Là bộ phận của hệ thống giao thông đô thị phục vụ phương tiện, hành khách, hàng hóa trong thời gian không hay tạm dừng hoạt động (chờ đợi, nghỉ ngơi, bảo dưỡng sửa chữa…). Đó là hệ thống các điểm đỗ, điểm dừng, các bến xe… Giao thông động và giao thông tĩnh có mối liên hệ mật thiết, chúng phụ thuộc và bổ sung lẫn nhau. Bởi lẽ, cả hai đều có đối tượng phục vụ chung đó là phương tiện và hành khách, hàng hóa trong thành phố.
Điểm khác nhau duy nhất đó là: nếu giao thông động phục vụ phương tiện, hành khách, hàng hóa trong thời gian di chuyển thì giao thông tĩnh lại có chức năng phục vụ các đối tượng này trong thời gian không di chuyển. Một mạng lưới giao thông chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu đảm bảo được một tỉ lệ phát triển tương xứng giữa giao thông động và giao thông tĩnh. Sự thiếu hụt nghiêm trọng của hệ thống giao thông tĩnh là một trong các tác nhân gây rối loạn và ách tắc giao thông ở các đô thị hiện nay. Hệ thống vận tải: Là tập hợp các phương thức vận tải và phương tiện vận tải khác nhau để vận chuyển hàng hóa và hành khách trong thành phố.
- Vận tải hành khách: Trong vận tải hành khách, người ta phân chia ra: Vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) và vận tải cá nhân (VTCN). VTHKCC là loại hình thức vận chuyển trong đô thị công trình có thể đáp ứng được khối lượng lớn nhu cầu của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo hướng và tuyến ổn định trong từng thời kỳ nhất định. Ở Việt Nam, theo “Quy định tạm thời về vận chuyển HKCC trong các thành phố” của Bộ GTVT thì: VTHKCC là tập hợp các phương thức, PTVT vận chuyển hành khách đi lại trong thành phố với cự ly < 50 km và có sức chứa > 8 hành khách (không kể lái xe). HV: Lê Thị Ngọc Trâm - Lớp Cao học XD Đường ô tô & TP K17 Trang 13 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ VTCN là tập hợp các PTVT được cá nhân sử dụng để đáp ứng nhu cầu đi lại của riêng mình hoặc cho đi nhờ mà không thu tiền.
Trong hệ thống vận tải đô thị, VTHK giữ vai trò quan trọng nhất bởi vì trong bất kỳ đô thị nào, nếu phát triển GTVT thỏa mãn được nhu cầu đi lại của hành khách thì việc thỏa mãn nhu cầu vận chuyển hàng hóa hoàn toàn có thể giải quyết một cách dễ dàng bằng các giải pháp về tổ chức quản lý và phân luồng giao thông. - Vận tải hàng hóa: Xét về cấu trúc, khi nói đến hệ thống VTĐT không thể không nhắc đến vận tải hàng hóa. Vận tải hàng hóa đô thị có chức năng vận chuyển hàng hóa trong nội đô, ven đô, tới các thành phố vệ tinh và các vùng lân cận phục vụ nhu cầu giao lưu hàng hóa của thành phố. - Vận tải chuyên dụng: Riêng đối với đô thị, vận tải chuyên dụng cũng mang một ý nghĩa quan trọng.
Chức năng của nó là phục vụ nhu cầu vận tải đặc biệt trong thành phố như: Vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, cứu thương, cảnh sát. Theo sự hình thành qua nhiều thế kỷ, đô thị được cấu trúc khác nhau và theo đó cấu trúc hệ thống giao thông cũng rất khác nhau. Cấu trúc đô thị phụ thuộc vào: Điều kiện tự nhiên, chức năng của đô thị khi hình thành và phát triển trong mỗi giai đoạn, sự can thiệp của con người đối với quá trình xây dựng và mở rộng đô thị (để phát triển tự nhiên hay có quy hoạch, ý tưởng quy hoạch của các nhà kiến trúc. Tùy theo mục đích, cấu trúc của hệ thống GTĐT được nghiên cứu theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Sau đây là cấu trúc của hệ thống GTĐT theo một số tiêu thức chủ yếu: b. Sơ đồ hình học của mạng lưới đường phố [15]: - Theo hình dạng mạng lưới mặt phẳng nằm ngang: Cấu trúc hệ thống giao HV: Lê Thị Ngọc Trâm - Lớp Cao học XD Đường ô tô & TP K17 Trang 14 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ thông có thể phân ra 6 loại: dạng bàn cờ và bàn cờ có đường chéo, dạng xuyên tâm và xuyên tâm có đường vành đai, dạng rẻ quạt, dạng tự do, dạng hỗn hợp, dạng hữu cơ. Dạng bàn cờ và bàn cờ có đường chéo: Là lưới đường được bố trí thành các ô vuông hoặc hình chữ nhật. Ưu điểm của dạng quy hoạch này là tương đối đơn giản, không gây căng thẳng giao thông ở khu trung tâm; đường thẳng, đường giao nhau vuông góc, dễ dàng cho việc tổ chức, quản lý giao thông tại các nút, dễ dàng phân tán xe cộ khi một đường bị tắc nghẽn, thuận tiện cho việc xây dựng các công trình kiến trúc.
Nhược điểm là giao thông theo hướng chéo góc không thuận tiện, cự ly đi lại thực tế dài (hệ số gãy khúc lớn, khoảng 1,27-1,4), làm tăng khoảng cách đi lại trung bình giữa các khu với nhau và với trung tâm thành phố (tăng 20-30% so với sơ đồ xuyên tâm có vành đai); khó phân biệt đường chính với đường thứ yếu; khó áp dụng ở những nơi có địa hình không bằng phẳng. Dạng quy hoạch này thường được sử dụng cho các đô thị nằm trên vùng địa hình bằng phẳng như New York, Rangoon, Đitơroi, Bắc Kinh. hoặc thích hợp với đô thị nhỏ và trung bình hay một phần của đô thị lớn. Để khắc phụ nhược điểm xe phải đi xa khi chạy theo hướng chéo góc, giảm bớt khoảng cách đi lại người ta thường bố trí thêm đường chéo (hoặc tuyến xuyên tâm, hướng tâm) và hình thành nên lưới đường dạng bàn cờ chéo.
Nhưng nhược điểm của việc bổ sung các đường chéo là tạo ra giao cắt nhiều đường tại một điểm (ngã năm, ngã sáu, ngã bảy.) gây khó khăn cho công tác tổ chức giao thông, khó xây dựng các công trình kiến trúc (tạo ra các khu đất hình tam giác). Thành phố có dạng bàn cờ chéo điển hình là Detroit (Hoa kỳ). Dạng xuyên tâm và xuyên tâm có đường vành đai: Là mạng lưới đường lấy trung tâm đô thị làm tâm, được hình thành gồm các tuyến đường hướng tâm HV: Lê Thị Ngọc Trâm - Lớp Cao học XD Đường ô tô & TP K17 Trang 15 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ (nối các vùng bên ngoài với nhau qua trung tâm và với trung tâm thành phố) và các đường vành đai bao quanh trung tâm với các bán kính khác nhau (nối các khu vực với nhau không qua trung tâm). Ưu điểm của dạng này là đảm bảo sự giao lưu giữa các khu vực với nhau có thể qua hoặc không qua trung tâm thành phố đều thuận tiện với cự ly ngắn (hệ số gãy nhỏ, từ 1-1,1).
Nhược điểm cơ bản của dạng sơ đồ này là càng vào trung tâm, lưu lượng giao thông càng tăng, gây khó khăn cho việc tổ chức và quản lý giao thông. Dạng sơ đồ này thường được áp dụng cho các đô thị lớn như ở các thành phố cổ châu Âu: Mátxcơva, London, Beclin. Dạng rẻ quạt: Sơ đồ này thực chất là biến tướng (là một nửa) của sơ đồ dạng xuyên tâm có đường vành đai gồm các đường hướng tâm và các đường bán cung bao quanh khu trung tâm và khu đất của đô thị.