Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Phạm Tiến Dũng với đề tài "Nghiên cứu xây dựng các bảng từ thính lực lời tiếng Việt ứng dụng đo sức nghe lời cho trẻ em tuổi học đường (6 đến 15 tuổi)" thuộc chuyên ngành Tai - Mũi - Họng (mã số: 9720155), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Cao Minh Thành và GS.TS. Nguyễn Văn Lợi tại Trường Đại học Y Hà Nội (bảo vệ năm 2024).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong thực hành thính học lâm sàng, phép đo thính lực đơn âm chỉ đánh giá được ngưỡng nghe các âm đơn thuần mà không phản ánh toàn diện chức năng quan trọng nhất của cơ quan thính giác là khả năng nghe hiểu lời nói phục vụ học tập, giao tiếp và sinh hoạt xã hội. Nhiều trường hợp bệnh nhân có sức nghe đơn âm tương đối tốt nhưng khả năng phân biệt lời nói lại suy giảm rõ rệt. Tỷ lệ nghe kém ở trẻ em lứa tuổi học đường theo các nghiên cứu quốc tế dao động từ 2,4% đến 14,9%; riêng tại Hà Nội, nghiên cứu của Nguyễn Tuyết Xương và cộng sự ghi nhận tỷ lệ nghe kém ở trẻ tiền học đường (2–5 tuổi) là 4,4%. Ngay cả ở mức độ nghe kém tối thiểu (ngưỡng nghe trung bình từ 16 đến 25 dB), trẻ em đã gặp trở ngại đáng kể trong việc tiếp nhận thông tin, đặc biệt trong môi trường có tiếng ồn lớp học.
Đo sức nghe lời đòi hỏi các ngữ liệu kiểm tra chuẩn hóa (bảng từ thử, câu thử) phải phù hợp với đặc điểm ngữ âm học và vốn từ vựng theo từng độ tuổi. Tại Việt Nam, các bảng từ thử thính lực lời trước đây chỉ dành cho người lớn (Ngô Ngọc Liễn năm 1977, Nguyễn Hữu Khôi năm 1986, Nguyễn Thị Hằng năm 2017) hoặc dành cho trẻ dưới 6 tuổi có kèm tranh minh họa (Lê Hồng Anh năm 2020). Trẻ trên 15 tuổi có thể áp dụng bảng từ của người lớn, do đó tồn tại một khoảng trống nghiên cứu thực tiễn: chưa có bộ ngữ liệu thính lực lời được chuẩn hóa dành riêng cho trẻ em từ 6 đến 15 tuổi, lứa tuổi có sự phát triển vốn từ vựng khác biệt và không còn phụ thuộc vào công cụ tranh ảnh hỗ trợ.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng các bảng từ thính lực lời tiếng Việt cho trẻ em tuổi học đường (6 - 15 tuổi).
- Ứng dụng các bảng từ thính lực lời tiếng Việt đo sức nghe trẻ nghe kém sau ngôn ngữ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu ngữ liệu: Các văn bản sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 (tập 1 và tập 2) theo chương trình chuẩn và các truyện dân gian, truyện ngụ ngôn, truyện tranh dành cho độ tuổi có chứa mốc 6 tuổi, xuất bản trong giai đoạn 2015–2020 bởi các Nhà xuất bản Giáo dục, Kim Đồng, Trẻ.
- Đối tượng thử nghiệm lâm sàng:
- Nhóm kiểm định chuẩn: Trẻ em từ 6 đến 15 tuổi đến khám và điều trị các bệnh lý mũi họng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương nhưng không có bệnh lý về tai, nội soi tai bình thường, ngưỡng nghe thính lực đơn âm đường khí tại các tần số đều ≤ 15 dB (thực hiện từ tháng 5/2022 đến tháng 12/2022).
- Nhóm nghe kém: Trẻ em từ 6 đến 15 tuổi có bệnh lý tai và được xác định nghe kém một hoặc hai tai trên thính lực đơn âm tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương (thực hiện từ tháng 9/2022 đến tháng 3/2023).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương (thực hiện kiểm định lâm sàng, đo thính lực) và Viện Ngôn ngữ học (xử lý âm học, ngữ âm thực nghiệm, chuẩn hóa ngữ liệu). Giọng đọc ghi âm thực hiện tại Đài Tiếng nói Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ tháng 10/2016 đến tháng 6/2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu thính lực lời trên thế giới
Phương pháp đánh giá sức nghe bằng lời nói được ghi nhận từ đầu thế kỷ XIX với các nghiên cứu phân loại dạng nghe kém của Pfingsten (1804), Itard (1821), Schmalz (1846) và Wolf (1861). Đến thế kỷ XX, việc đo lường sức nghe lời chuyển sang hướng chuẩn hóa thực nghiệm:
- Năm 1904, Bryant phát triển kỹ thuật ghi âm từ đơn âm tiết phát qua ống nghe có van điều chỉnh cường độ.
- Năm 1910, Campbell và Crandall (Phòng thí nghiệm Bell) thiết lập danh sách 50 âm tiết không nghĩa để kiểm tra đường truyền điện thoại.
- Năm 1922 và 1927, Fowler, Wegel và Fletcher đưa máy đo thính lực vào thương mại hóa và ứng dụng lâm sàng.
- Năm 1947, Hudgins và cộng sự tại Đại học Harvard xây dựng 2 danh sách từ 2 âm tiết. Đến năm 1952, Hirsh và cộng sự tại Viện Điếc Hoa Kỳ (CID) hoàn thiện thành hai bộ từ CID W-1 và CID W-2 gồm 36 từ mỗi danh sách.
- Năm 1948, Egan (Harvard) phát triển bảng từ 1 âm tiết cấu trúc phụ âm - nguyên âm - phụ âm (CNC), được Peterson và Lehiste hiệu chỉnh năm 1959. Từ nền tảng này, Carhart và Tillman (1960) xây dựng các danh sách từ NU-4 và NU-6 tại Đại học Northwestern.
- Đối với trẻ em: Haskins (1949) thiết kế bộ PBK-50 (Phonetically Balanced Kindergarten). Sau đó, các bộ từ có tranh hỗ trợ ra đời phục vụ trẻ nhỏ như WIPI (Ross và Lerman, 1970, cho trẻ 5–8 tuổi), NU-CHIPS (Katz và Elliot, 1978, cho trẻ 2–5 tuổi). Kirk và cộng sự (1999) xây dựng bộ từ vựng lân cận LNT và MLNT dựa trên mô hình kích hoạt lân cận (NAM).
- Tại châu Á: Kei và cộng sự (1991) xây dựng bảng từ tiếng Quảng Đông cho trẻ 6–9 tuổi; Sun và cộng sự (1993), Zheng và cộng sự (2009) xây dựng thính lực lời tiếng Quan Thoại; Dermtoramin và cs (2022) thiết lập bộ từ 2 âm tiết tiếng Thái cho trẻ 4–8 tuổi.
Lịch sử nghiên cứu thính lực lời tại Việt Nam
Nghiên cứu thính lực lời tiếng Việt được khởi xướng và phát triển qua nhiều giai đoạn:
- Năm 1966, Trần Hữu Tước và Phạm Kim đề xuất các danh sách thử sơ khai gồm 4 danh sách từ 1 âm tiết (20 từ/danh sách) và 15 danh sách từ 2 âm tiết (10 từ/danh sách).
- Năm 1976, Phạm Kim, Võ Bá Hùng và Trần Công Chí xây dựng bảng từ hỗn hợp âm tiết kèm tranh minh họa cho trẻ em.
- Năm 1977, Ngô Ngọc Liễn xây dựng bộ từ thử theo mô hình Freiburger gồm 10 danh sách từ 1 âm tiết (20 từ/danh sách) và 10 danh sách số thử 2 âm tiết.
- Năm 1986, Nguyễn Hữu Khôi xây dựng hệ thống thính lực lời gồm 10 danh sách từ 1 âm tiết (20 từ/danh sách) để đo chỉ số phân biệt lời (SDI) và 10 danh sách từ 2 âm tiết (10 từ/danh sách) để đo ngưỡng nghe lời (SRT).
- Năm 2017, Nguyễn Thị Hằng xây dựng bảng câu thử tiếng Việt ứng dụng cho người cao tuổi (10 danh sách x 10 câu x 5 từ).
- Năm 2020, Lê Hồng Anh thiết lập bảng từ kèm tranh cho trẻ dưới 6 tuổi chia theo 3 nhóm tuổi (≤ 3 tuổi, > 3–5 tuổi, > 5–< 6 tuổi).
| Tác giả | Năm | Đối tượng | Quy cách bộ thử | Nguyên tắc âm sắc |
|---|---|---|---|---|
| Ngô Ngọc Liễn | 1977 | Người lớn | 10 DS x 20 từ 1 âm tiết; 10 DS số thử 2 âm tiết | Tỷ lệ âm sắc Thấp / Trung / Cao là 3 / 4 / 3, dựa vào nguyên âm |
| Nguyễn Hữu Khôi | 1986 | Người lớn | 10 DS x 20 từ 1 âm tiết; 10 DS x 10 từ 2 âm tiết | Tỷ lệ âm sắc 3 / 4 / 3, dựa vào nguyên âm và sự kết hợp không đối kháng với âm đầu |
| Nguyễn Thị Hằng | 2017 | Người lớn | 10 DS câu thử (mỗi câu 5 từ) | Các từ trong câu cùng nhóm âm sắc, dựa vào nguyên âm, không đối kháng âm đầu |
| Lê Hồng Anh | 2020 | Trẻ < 6 tuổi | 6 BTT 1 âm tiết (25 từ/DS, có tranh) chia 3 nhóm tuổi | Tỷ lệ âm sắc Thấp / Trung / Cao là 7 / 11 / 7, dựa vào nguyên âm, không đối kháng âm đầu |
| Phạm Tiến Dũng (Luận án) | 2024 | Trẻ 6–15 tuổi | 10 DS x 25 từ 1 âm tiết; 10 DS x 10 từ 2 âm tiết | Tỷ lệ âm sắc 1 âm tiết: 7 / 11 / 7; 2 âm tiết: 3 / 4 / 3; phân bố đồng đều thanh điệu, con chữ |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống giữa nhóm trẻ mầm non dưới 6 tuổi và nhóm người trưởng thành. Lứa tuổi 6 đến 15 tuổi là giai đoạn phát triển tư duy ngôn ngữ độc lập, vốn từ vựng nghe hiểu đạt từ 20.000 từ (lúc 6 tuổi) đến 50.000 từ (lúc 12 tuổi). Nhóm này không cần sử dụng tranh minh họa nhưng cũng không thể dùng hoàn toàn bảng từ người lớn vì nhiều từ ngữ cũ (xây dựng từ năm 1977, 1986) không còn thông dụng với đời sống học đường hiện đại. Do đó, việc xây dựng một bộ công cụ thính lực lời riêng biệt, cân bằng âm học và chuẩn hóa lâm sàng cho độ tuổi này là nhiệm vụ cấp thiết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kết hợp giữa lý thuyết thính học lâm sàng và lý thuyết ngữ âm học tiếng Việt:
- Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt: Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, đơn tiết tính, có thanh điệu. Âm tiết có cấu trúc hai bậc:
- Bậc một: Âm đầu, Vần và Thanh điệu (ba thành phần bắt buộc độc lập tương đối).
- Bậc hai: Vần gồm Âm đệm (/w/), Âm chính (nguyên âm đơn hoặc nguyên âm đôi) và Âm cuối (phụ âm hoặc bán nguyên âm).
- Khung phân loại âm sắc nguyên âm: Dựa trên phân tích tần số Formant 2 (F2) của Vũ Kim Bảng và Vũ Hải Hà:
- Nhóm âm sắc thấp (F2 < 1000 Hz): /u/, /o/, /ɔ/ (chữ viết: u, ô, o) và các nguyên âm đôi bắt đầu bằng âm thấp (uô, ua).
- Nhóm âm sắc trung bình (F2 từ 1000 Hz đến 2000 Hz): /ɨ/, /ɤ/, /a/ (chữ viết: ư, ơ, â, a, ă) và nguyên âm đôi ươ, ưa.
- Nhóm âm sắc cao (F2 > 2000 Hz): /i/, /e/, /ɛ/ (chữ viết: i, ê, e) và nguyên âm đôi iê, ia.
- Khung phân loại phụ âm đầu: Áp dụng phân loại âm học của Nguyễn Văn Lợi và Edmondson (2004) thành 3 nhóm:
- Nhóm thấp: /m, n, ɲ, ŋ, l, r/.
- Nhóm cao: /tʰ, f, s, c, χ, h, ʈ, ş/.
- Nhóm trung bình: /t, k, ɓ, ɗ, v, z, ɣ/ và âm tắc thanh môn /ʔ/.
- Quy tắc phối hợp âm sắc: Tránh hiện tượng đối kháng trực tiếp giữa phụ âm đầu và nguyên âm (không kết hợp phụ âm đầu nhóm cao với nguyên âm nhóm thấp và ngược lại).
- Hệ thống thanh điệu: Khảo sát 6 thanh điệu phương ngữ Bắc (Hà Nội). Theo Nguyễn Hàm Dương, thanh điệu được nhóm theo âm vực kết thúc: nhóm âm vực cao (ngang, sắc, ngã) và nhóm âm vực thấp (huyền, hỏi, nặng). Do tần số cơ bản (F0) của thanh điệu không vượt quá 1000 Hz nên không làm thay đổi phân loại âm sắc của âm tiết.
- Mô hình nhận thức lời nói: Luận án vận dụng Thuyết Cohort (Marslen-Wilson & Welsh, 1978) về các giai đoạn tiếp cận, lựa chọn, tích hợp và Mô hình kích hoạt từ vựng lân cận (NAM - Neighborhood Activation Model) của Luce & Pisoni, nhấn mạnh vai trò của tần suất xuất hiện từ vựng và mật độ âm vị học lân cận trong việc nhận biết từ ngữ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp thực nghiệm ngôn ngữ học và thử nghiệm lâm sàng:
- Xây dựng kho ngữ liệu và chọn lọc từ ngữ:
- Thu thập ngữ liệu từ sách Tiếng Việt lớp 1 và sách truyện thiếu nhi, xử lý thống kê tần suất để lọc ra 1000 từ đơn (1 âm tiết) và 1000 từ ghép/ngữ tự do (2 âm tiết) có tần suất xuất hiện cao nhất.
- Áp dụng tiêu chuẩn loại trừ: loại các từ chứa vần có bán nguyên âm biến đổi phức tạp (ai, ay, ây, iu); loại các kết hợp âm đầu và nguyên âm đối kháng; đối với từ 2 âm tiết, hai thành tố cấu tạo bắt buộc phải có cùng nhóm âm sắc.
- Thiết lập ma trận phân bố: Bảng từ 1 âm tiết gồm 10 danh sách, mỗi danh sách 25 từ (tỷ lệ âm sắc Thấp / Trung / Cao là 7 / 11 / 7). Bảng từ 2 âm tiết gồm 10 danh sách, mỗi danh sách 10 từ (tỷ lệ âm sắc Thấp / Trung / Cao là 3 / 4 / 3). Đảm bảo tính cân bằng về số lượng nguyên âm, phụ âm đầu, loại vần, thanh điệu và số lượng con chữ.
- Kỹ thuật chuẩn hóa âm học và ghi âm:
- Ghi âm phát âm của phát thanh viên nữ chuẩn giọng Hà Nội tại phòng thu chuyên dụng Đài Tiếng nói Việt Nam.
- Phân tích phổ âm, chuẩn hóa trường độ và cường độ đồng đều giữa các danh sách từ bằng phần mềm âm học chuyên dụng, xuất file ghi âm chuẩn phục vụ đo thính lực.
- Quy trình kỹ thuật đo thính lực lâm sàng:
- Tiến hành trong buồng cách âm đạt tiêu chuẩn tiếng ồn nền < 30 dBA bằng máy đo thính lực lâm sàng kết nối thiết bị phát âm.
- Đo thính lực đơn âm: Xác định ngưỡng nghe đường khí và đường xương tại các tần số tiêu chuẩn (500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz), tính chỉ số PTA. Thực hiện che lấp bằng tiếng ồn dải hẹp (Narrow Band Noise) khi khoảng cách giữa đường khí tai thử và đường xương tai đối diện ≥ 40 dB hoặc khoảng Rinne ≥ 15 dB.
- Đo ngưỡng nghe lời (SRT): Sử dụng bảng từ 2 âm tiết. Cường độ kích thích khởi đầu bằng PTA + 20 dB, tăng giảm bước 5 dB để tìm cường độ nhỏ nhất trẻ nghe và nhắc lại đúng ≥ 50% số từ trong danh sách. Che lấp bằng tiếng ồn lời nói (Speech Noise) khi cường độ phát kích thích vượt quá ngưỡng dẫn truyền xương trung bình của tai đối diện từ 45 dB trở lên.
- Đo chỉ số phân biệt lời (SDI): Sử dụng bảng từ 1 âm tiết (25 từ/danh sách, mỗi từ đúng tương ứng 4%). Cường độ kích thích ban đầu bằng SRT + 10 dB, sau đó tăng dần các bước 10 dB đến khi đạt tỷ lệ đúng tối đa, tiếp tục thăm dò ở các mức âm lượng lời nói thầm (35 dB HL), nói thường (55 dB HL) và nói to (75 dB HL).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thính lực lời, bao gồm sự phát triển của các phương pháp đo sức nghe lời trên thế giới từ thế kỷ XIX đến nay và lược sử nghiên cứu thính lực lời tại Việt Nam qua các giai đoạn 1966, 1976, 1977, 1986, 2017 và 2020. Tác giả phân tích chi tiết đặc điểm cấu trúc âm tiết, hệ thống nguyên âm, phụ âm và thanh điệu tiếng Việt dưới góc độ vật lý âm học (các chỉ số F0, F1, F2, F3, Voice Onset Time, Voice Bar). Chương tổng quan cũng phân tích quá trình thụ cảm lời nói ở vỏ não (vùng Broca, vùng Wernicke) và các bệnh lý gây nghe kém dẫn truyền, tiếp nhận, hỗn hợp ở trẻ học đường, làm nổi bật sự cần thiết của phép đo lời bổ trợ cho đo đơn âm.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn lựa ngữ liệu từ các xuất bản phẩm dành cho trẻ em mốc 6 tuổi và tiêu chí thanh lọc ngữ âm (loại bỏ âm đầu đối kháng nguyên âm, loại bỏ các vần ai, ay, ây, iu). Chương 2 mô tả rõ quy trình thu thập cỡ mẫu lâm sàng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, các bước đo kiểm chuẩn trên tai phải của nhóm trẻ có sức nghe bình thường (PTA ≤ 15 dB) và nhóm trẻ nghe kém sau ngôn ngữ. Toàn bộ các bước kỹ thuật ghi âm tại Đài Tiếng nói Việt Nam, kiểm soát sai số, thuật toán che lấp tiếng ồn lời nói (Speech Noise) và các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học đều được chuẩn hóa chi tiết.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 3 chia thành hai phần chính tương ứng với hai mục tiêu:
- Xây dựng các bảng từ thính lực lời:
- Từ 1000 từ đơn tần suất cao nhất, chọn 250 từ 1 âm tiết (70 từ thấp, 110 từ trung, 70 từ cao) phân đều vào 10 danh sách (25 từ/danh sách).
- Từ 1000 từ ghép/ngữ tần suất cao nhất, chọn 100 từ 2 âm tiết (30 từ thấp, 40 từ trung, 30 từ cao) phân đều vào 10 danh sách (10 từ/danh sách).
- Đảm bảo tính cân đối nghiêm ngặt về cấu trúc vần (vần mở, nửa mở, nửa khép, khép), phân bố phụ âm đầu, tỷ lệ thanh điệu cao/thấp và chiều dài con chữ.
| Danh mục kiểm định | Bảng từ thử 1 âm tiết (10 danh sách) | Bảng từ thử 2 âm tiết (10 danh sách) |
|---|---|---|
| Số lượng từ mỗi danh sách | 25 từ | 10 từ |
| Tổng số từ toàn bộ bảng | 250 từ | 100 từ |
| Cơ cấu âm sắc Thấp / Trung / Cao | 7 từ (28%) / 11 từ (44%) / 7 từ (28%) | 3 từ (30%) / 4 từ (40%) / 3 từ (30%) |
| Cấu trúc thanh điệu | Cân bằng thanh cao (ngang, sắc, ngã) và thấp (huyền, hỏi, nặng) | Hai âm tiết có cùng thanh tính âm vực |
| Quy chuẩn âm học | Chuẩn hóa F2, cường độ, trường độ tương đương | Chuẩn hóa F2, cường độ, trường độ tương đương |
- Ứng dụng thực tế và kiểm định lâm sàng:
- Kiểm định tính tương đương giữa các danh sách: Đo trên nhóm trẻ bình thường tại mức cường độ cố định 15 dB cho thấy tỷ lệ nghe hiểu giữa 10 danh sách của bảng 1 âm tiết và giữa 10 danh sách của bảng 2 âm tiết không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê, chứng minh các danh sách có giá trị tương đương nhau.
- Chỉ số bình thường ở trẻ nghe bình thường: Ngưỡng nghe lời (SRT) đo bằng bảng 2 âm tiết tương thích chặt chẽ với ngưỡng nghe đơn âm đường khí (PTA), độ chênh lệch trung bình giữa SRT và PTA nằm trong giới hạn chuẩn cho phép (< 6 dB). Chỉ số phân biệt lời (SDI) đạt 100% ở cường độ kích thích tối ưu (trên ngưỡng 30–40 dB).
- Đánh giá trên nhóm trẻ nghe kém: Khảo sát trên các thể loại nghe kém dẫn truyền, tiếp nhận và hỗn hợp. Kết quả chỉ ra hệ số tương quan tuyến tính rất cao giữa SRT và PTA. Ở nhóm nghe kém dẫn truyền, biểu đồ SDI dịch chuyển song song với đường chuẩn nhưng vẫn đạt điểm tối đa khi tăng đủ cường độ; trong khi ở nhóm nghe kém tiếp nhận, chỉ số SDI suy giảm rõ rệt và xuất hiện hiện tượng thoái lui (độ dốc bất thường hoặc hình tháp chuông).
Chương 4: Bàn luận
Tác giả bàn luận sâu sắc về tính đại diện của kho ngữ liệu học đường tiếng Việt, tính hợp lý của việc lựa chọn phương ngữ Bắc (tiếng Hà Nội) làm chuẩn phát âm dựa trên tính đầy đủ của 6 thanh điệu và hệ thống âm cuối. Luận án phân tích việc loại trừ các vần biến đổi phức tạp (ai, ay, ây, iu) và sự triệt tiêu xung đột âm học giữa âm đầu và nguyên âm giúp hạn chế tối đa các sai số kỹ thuật khi đánh giá sức nghe lời. Đồng thời, tác giả đối chiếu kết quả nghiên cứu với các công trình quốc tế (Egan, Hirsh, Carhart, Wang) và các tác giả trong nước, khẳng định bảng từ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về thính lực lời lâm sàng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Xác lập cơ sở khoa học ngôn ngữ học thực nghiệm và âm học ngữ âm tiếng Việt ứng dụng trong y học, cụ thể hóa các tiêu chí phân loại âm sắc nguyên âm (theo F2) và phụ âm đầu (theo tần số phổ âm) để thiết kế công cụ chẩn đoán thính học.
- Xây dựng thành công hệ thống tiêu chí lựa chọn ngữ liệu cân bằng âm vị học, cân bằng âm sắc và thanh điệu dành riêng cho đối tượng trẻ em, khắc phục các nhược điểm của việc ứng dụng máy móc bảng từ người lớn cho trẻ em.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ công cụ thính học hoàn chỉnh gồm:
- 10 danh sách từ thử 1 âm tiết (250 từ) dùng xác định chỉ số phân biệt lời (SDI).
- 10 danh sách từ thử 2 âm tiết (100 từ) dùng xác định ngưỡng nghe lời (SRT).
- Đĩa ghi âm phát âm giọng nữ chuẩn phương ngữ Bắc đã được chuẩn hóa về cường độ và trường độ âm học tại Đài Tiếng nói Việt Nam.
- Xác lập bộ chỉ số thính lực lời chuẩn ở trẻ em Việt Nam từ 6 đến 15 tuổi có sức nghe bình thường, làm mốc tham chiếu phục vụ chẩn đoán phân biệt thể loại nghe kém (dẫn truyền, tiếp nhận, hỗn hợp) và định hướng vị trí tổn thương (tại ốc tai hay sau ốc tai).
- Đưa ra quy trình kỹ thuật đo sức nghe lời chuẩn hóa, làm căn cứ chỉ định và đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng thính giác (chỉ định máy trợ thính, cấy điện cực ốc tai, luyện nghe sau phẫu thuật).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đưa bộ bảng từ thính lực lời tiếng Việt vào quy trình thăm khám thính học thường quy tại các cơ sở chuyên khoa Tai Mũi Họng trên cả nước cho trẻ em lứa tuổi 6–15 tuổi.
- Ứng dụng công cụ để theo dõi diễn biến sức nghe lời ở nhóm trẻ bị viêm tai giữa ứ dịch tái phát nhiều lần nhằm phát hiện sớm các suy giảm nhận thức lời nói trong môi trường học đường.
- Tiếp tục nghiên cứu mở rộng sản xuất bảng từ thính lực lời ở các phương ngữ khác (Trung Bộ, Nam Bộ) để phục vụ đa dạng vùng miền.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về mặt phương ngữ: Bảng từ mới chỉ được xây dựng và ghi âm bằng giọng chuẩn phương ngữ Bắc (Hà Nội), chưa bao quát hết các biến thể ngữ âm của phương ngữ Trung và phương ngữ Nam, có thể tạo ra rào cản nhất định khi áp dụng thử nghiệm cho trẻ em vùng sâu, vùng xa nói giọng địa phương đặc thù.
- Hạn chế về phạm vi bệnh lý: Nghiên cứu mới khảo sát trên nhóm trẻ nghe kém nói chung (nghe kém sau ngôn ngữ), chưa phân tích sâu thành các nhóm bệnh lý căn nguyên biệt lập như u bao dây thần kinh thính giác, bệnh lý thần kinh thính giác (Auditory Neuropathy) hoặc các rối loạn xử lý thính giác trung ương (CAPD).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Xây dựng thêm bộ câu thử tiếng Việt trong môi trường tiếng ồn dành cho lứa tuổi học đường; phát triển bảng từ theo các phương ngữ Nam Bộ và Trung Bộ; mở rộng ứng dụng trên nhóm trẻ sau cấy điện cực ốc tai để đánh giá chi tiết sự phục hồi xử lý âm ngữ.
Giá trị tham khảo
- Đối với bác sĩ Tai Mũi Họng và chuyên viên Thính học: Cung cấp trực tiếp bộ công cụ lâm sàng chuẩn mực (bảng từ và file âm thanh) cùng quy trình kỹ thuật đo SRT, SDI và nguyên tắc che lấp tiếng ồn, hỗ trợ hiệu quả cho việc chẩn đoán định khu thương tổn và hiệu chỉnh thiết bị trợ thính.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Y học lâm sàng và Ngôn ngữ học thực nghiệm; cung cấp phương pháp luận chặt chẽ trong việc xử lý ngữ liệu âm học và thiết kế nghiên cứu thính học.
- Đối với các nhà giáo dục đặc biệt và cán bộ y tế học đường: Cung cấp cơ sở lý luận về ảnh hưởng của nghe kém tối thiểu đến khả năng hiểu lời trong lớp học, làm căn cứ đề xuất các giải pháp kiểm tra sàng lọc thính lực học đường.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao phép đo thính lực đơn âm thông thường không thể thay thế phép đo thính lực lời ở trẻ em học đường?
Sóng đơn âm trong thính lực đơn âm là âm thanh thuần túy, không tồn tại độc lập trong tự nhiên và không đại diện cho ngôn ngữ giao tiếp. Nhiều trẻ có ngưỡng nghe đơn âm bình thường hoặc chỉ nghe kém mức độ nhẹ nhưng lại suy giảm nghiêm trọng khả năng phân biệt lời nói, đặc biệt trong không gian lớp học có nhiều âm vang và tiếng ồn. Phép đo thính lực lời đánh giá trực tiếp khả năng nhận thức và tích hợp tín hiệu lời nói tại vỏ não, phản ánh chính xác năng lực học tập và giao tiếp thực tế của trẻ.
2. Tiêu chí cân bằng âm sắc trong các bảng từ thử của luận án được xác lập như thế nào?
Luận án phân loại âm sắc của nguyên âm dựa trên tần số Formant 2 (F2) theo công trình của Vũ Kim Bảng: nhóm thấp (F2 < 1000 Hz), nhóm trung bình (F2 từ 1000–2000 Hz), nhóm cao (F2 > 2000 Hz). Tỷ lệ âm sắc Thấp / Trung / Cao được phân bổ cố định và đồng đều giữa các danh sách: ở bảng 1 âm tiết là 7 / 11 / 7 từ (28% / 44% / 28%); ở bảng 2 âm tiết là 3 / 4 / 3 từ (30% / 40% / 30%). Đồng thời, các từ được chọn không có sự đối kháng giữa âm sắc của phụ âm đầu và nguyên âm.
3. Vì sao luận án loại trừ các từ chứa vần "ai, ay, ây, iu" khi xây dựng bảng từ thử?
Các vần ai, ay, ây, iu kết thúc bằng các bán nguyên âm có sự chuyển dịch âm học phức tạp, dễ gây nhầm lẫn âm vị khi phát âm ở các cường độ khác nhau hoặc khi tín hiệu bị méo do bệnh lý tai ngoài và tai giữa. Việc loại bỏ các vần này giúp chuẩn hóa trường độ, giảm thiểu sai số cấu âm của người đọc và loại trừ các yếu tố gây nhiễu trong quá trình tiếp nhận âm thanh của trẻ.
4. Quy tắc che lấp bằng tiếng ồn được thực hiện như thế nào khi đo sức nghe lời trong luận án?
Khi đo tìm ngưỡng nghe lời (SRT) hoặc chỉ số phân biệt lời (SDI), che lấp tai đối diện được tiến hành bắt buộc khi cường độ âm kích thích vượt quá ngưỡng nghe đường xương trung bình (tại 500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz) của tai đối diện từ 45 dB trở lên. Loại âm thanh sử dụng để che lấp là tiếng ồn lời nói (Speech Noise). Cường độ tiếng ồn che lấp được tính toán theo công thức: Cường độ che lấp = Cường độ phát kích thích - 45 dB + Khoảng Rinne trung bình của tai đối diện + 10 dB.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Tiến Dũng là công trình khoa học thực nghiệm hoàn chỉnh, giải quyết trọn vẹn yêu cầu chuẩn hóa công cụ đánh giá sức nghe lời cho trẻ em lứa tuổi 6 đến 15 tuổi tại Việt Nam. Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa ngữ âm học thực nghiệm tiếng Việt và kỹ thuật thính học lâm sàng để xây dựng thành công 10 danh sách từ thử 1 âm tiết và 10 danh sách từ thử 2 âm tiết đạt độ cân bằng cao về mặt âm học. Các kết quả kiểm định trên nhóm trẻ bình thường và nhóm trẻ nghe kém khẳng định tính giá trị, độ tin cậy và khả năng ứng dụng thực tiễn cao của bộ công cụ trong chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng thính giác chuyên sâu.