Tổng quan luận án

Nuôi tôm nước lợ là ngành kinh tế thủy sản mũi nhọn tại Việt Nam, đóng góp giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng đầu. Giai đoạn 2015-2016, tổng diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước tăng từ 680.000 ha lên 683.000 ha; trong đó diện tích tôm sú (Penaeus monodon) đạt 594.000 ha và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) đạt 83.000 ha. Sản lượng tôm nước lợ năm 2016 đạt xấp xỉ 657.000 tấn, mang lại kim ngạch xuất khẩu 3,1 tỷ USD (VASEP, 2016). Tuy nhiên, nghề nuôi tôm liên tục đối mặt với rủi ro dịch bệnh nghiêm trọng, đặc biệt là bệnh đốm trắng do virus đốm trắng (White spot syndrome virus - WSSV) gây ra. Theo số liệu của Cục Thú y (2016), bệnh đốm trắng năm 2016 đã gây thiệt hại trên 1.861,43 ha tôm sú và 1.782,48 ha tôm chân trắng; trong đó hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh bị thiệt hại 2.636,2 ha, hình thức quảng canh và quảng canh cải tiến thiệt hại 856,82 ha.

Về dịch tễ học, WSSV lan truyền qua hai con đường chính: lan truyền dọc (từ tôm bố mẹ sang ấu trùng) và lan truyền ngang (qua môi trường nước, tôm khỏe ăn tôm bệnh, hoặc qua vật mang mầm bệnh). Trong khi kiểm soát lây truyền dọc đã được thực hiện tương đối triệt để thông qua kiểm dịch tôm bố mẹ tại các cơ sở giống, thì việc lây truyền ngang tại các vùng nuôi thương phẩm vẫn diễn biến phức tạp. Trên thế giới đã ghi nhận trên 150 loài sinh vật mang WSSV, nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu xác định vật mang còn gián đoạn và số lượng loài được công bố rất hạn chế (Hao et al., 1999; Võ Văn Tuấn và cs., 2010; Phan Thị Vân và cs., 2017). Nhằm giải quyết khoảng trống này, luận án tiến sĩ chuyên ngành Dịch tễ học thú y của nghiên cứu sinh Trương Thị Mỹ Hạnh đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

  • Mục tiêu chung: Xác định được một số loài động vật thủy sinh chủ yếu có khả năng mang và lan truyền virus đốm trắng gây bệnh cho tôm nuôi nước lợ tại một số tỉnh miền Bắc.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định yếu tố nguy cơ gây bệnh đốm trắng do virus cho tôm nuôi nước lợ tại vùng nghiên cứu.
    2. Xác định loài động vật thủy sinh chủ yếu mang virus đốm trắng và có khả năng lan truyền bệnh cho tôm theo phương thức lây truyền ngang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Động vật thủy sinh chủ yếu xuất hiện tại các vùng nuôi tôm nước lợ và virus gây bệnh đốm trắng (WSSV).
  • Phạm vi không gian: Các ao nuôi tôm chân trắng thâm canh, ao lắng và khu vực nguồn cấp nước tại ba địa phương trọng điểm ven biển miền Bắc gồm phường Hải Hòa (thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh), huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định) và xã Quỳnh Liên (thị xã Hoàng Mai / huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập dữ liệu và triển khai thực nghiệm từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 10 năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Bệnh đốm trắng do virus lần đầu tiên được ghi nhận tại phía Bắc Đài Loan vào năm 1992 (Chou Hsin-Yiu et al., 1995), sau đó nhanh chóng lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc (Nakano et al., 1998; Park et al., 1998), Ấn Độ, Malaysia (Karunasagar et al., 1997; Lo et al., 1996a), Indonesia (Huang et al., 1995) và Philippines (Magbanua et al., 2000). Tại châu Mỹ, bệnh xuất hiện tại Texas vào năm 1995 (Lightner, 1996), Nam Carolina năm 1996 (Lightner and Redman, 1998), rồi bùng phát tại Panama, Honduras, Guatemala và làm giảm gần 70% sản lượng tôm xuất khẩu của Ecuador giai đoạn 2000-2001 (Lightner, 2003). Giai đoạn 2011-2012, dịch bệnh tiếp tục bùng phát tại Mozambique và Madagascar (The World Bank, 2014). Tại Việt Nam, WSSV được ghi nhận lần đầu năm 1993 tại Bà Rịa - Vũng Tàu, năm 1994 tại Phú Yên, Khánh Hòa và Đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Việt Thắng và cs., 1993; Đỗ Thị Hòa, 2002; Nguyễn Văn Hảo, 2004). Năm 2011, dịch bệnh làm chết hơn 20.854 ha tôm nuôi tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó tỉnh Cà Mau có hơn 80% diện tích tôm bị nhiễm (Nguyễn Văn Hảo, 2004).

Về mặt sinh học và phân loại phân tử, WSSV ban đầu được xếp vào phân họ Nudibaculovirinae, họ Baculoviridae, giống Baculovirus với tên PmNOBII (Wongteerasupaya et al., 1995). Sau khi hệ gen kích thước khoảng 300 kb được giải mã hoàn chỉnh (Van Hulten et al., 2001; Yang et al., 2001), kết quả cho thấy bộ gen chứa 181 khung đọc mở không chồng gối (ORFs) và hàm lượng C+G chiếm 41%. WSSV sau đó được phân loại lại vào một họ mới là Nimaviridae (văn bản ghi Nirmaviridae), giống Whispovirus (Yi et al., 2004). Cấu trúc virion hoàn chỉnh có dạng hình trụ hoặc elip, kích thước 275-335 nm x 116-138 nm, capsid kích thước 246-296 nm x 75-93 nm, nucleocapsid trần dạng hình que kích thước 330-350 nm x 58-67 nm cấu tạo bởi 14-19 phân mảnh (Leu et al., 2005). Hạt virus gồm ít nhất 58 protein cấu trúc, trong đó 4 protein chính là VP28 (28 kDa, mã hóa bởi gen wsv421), VP26 (26 kDa, mã hóa bởi gen wsv311), VP24 (24 kDa) và VP19 (19 kDa) (Van Hulten et al., 2000; Tang et al., 2007).

Các nghiên cứu quốc tế đã ghi nhận danh mục sinh vật mang WSSV tăng dần từ 31 loài năm 1997 (Sangamaheswaran and Jeyaseelan, 2001) lên 46 loài năm 2006 (Flegel, 2006), 94 loài năm 2008 (Escobedo-Bonilla et al., 2008; Sánchez-Paz, 2010) và đạt 153 loài. Danh mục này bao gồm:

  • Giáp xác: 66 loài tôm (43 loài nhiễm tự nhiên, 23 loài nhiễm thực nghiệm; bao gồm các loài tôm he, tôm càng Macrobrachium rosenbergii, Macrobrachium nipponense theo Zhao et al., 2017) và 57 loài cua (24 loài tự nhiên, 42 loài thực nghiệm, 9 loài phát hiện ở cả hai hình thức; Sahul Hameed et al., 2001, 2003; Kou et al., 1998; Lo et al., 1996a).
  • Sinh vật phù du: 10 loài thực vật phù du gây nhiễm nhân tạo (Alexandrium tamarense, Isochrysis galbana, Skeletonema costatum... theo Jiang, 2012; Liu et al., 2007a); 9 loài động vật phù du mang WSSV tự nhiên như luân trùng Brachionus urceus, Brachionus plicatilis, giáp xác chân chèo Acartia clausi, Schmackeria dubia, Nitocra sp., Artemia franciscana (Ramírez-Douriet et al., 2005; Li et al., 2003; Yan et al., 2004).
  • Các sinh vật khác: Nhuyễn thể hàu Crassostrea gigas tích tụ virus tại mang và tuyến tiêu hóa (Vazquez-Boucard et al., 2010); Giun nhiều tơ Marphysa gravelyi và Dendronereis spp. (Vijayan et al., 2005; Haryadi et al., 2015); Côn trùng nước gồm 5 loài thuộc Coleoptera, Ephydridae, Notonecta, Ranatra, ấu trùng chuồn chuồn (Lo et al., 1996a; Mohan, 2008); Chim mòng biển (Larus atricilla) và gà nuôi (Gallus domesticus) thải virus qua phân sau khi ăn mẫu tôm bệnh (Vanpatten et al., 2004).

Tại Việt Nam, trước khi luận án được thực hiện, các công bố chính thức chỉ mới ghi nhận 7 loài sinh vật mang WSSV gồm: 3 loài tôm tự nhiên tại rừng ngập mặn Cà Mau (Penaeus indicus, Metapenaeus ensis, Metapenaeus lysianassa theo Hao et al., 1999); tôm càng xanh nước ngọt Macrobrachium rosenbergii (Võ Văn Tuấn và cs., 2010); tôm chân trắng Litopenaeus vannamei bị hội chứng chết đỏ (Đỗ Thị Hòa và cs., 2013); giun cát Perinereis sp. tại trại sản xuất giống Nha Trang với tỷ lệ nhiễm 32,07% (Phan Thị Vân và cs., 2017). Ngoài ra có 3 loài gồm mực, tôm tít và ốc mượn hồn được đề cập trong các báo cáo kỹ thuật. Như vậy, số lượng loài sinh vật mang WSSV tại Việt Nam còn rất ít so với thế giới. Luận án đặt vị trí vào việc nghiên cứu hệ sinh thái nuôi tôm nước lợ miền Bắc nhằm xác định các loài thủy sinh bản địa mang virus và kiểm chứng khả năng lan truyền bệnh sang tôm nuôi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên lý thuyết dịch tễ học về sự lan truyền mầm bệnh trong thủy vực và mô hình phân tích yếu tố nguy cơ của Umesh et al. (2008). Theo mô hình này, dịch bệnh đốm trắng bùng phát không phải do một tác nhân đơn lẻ mà là kết quả của sự tương tác tổng hợp giữa mầm bệnh (WSSV), vật chủ (tôm nuôi và tình trạng sốc môi trường) và các yếu tố quản lý trang trại. WSSV có khả năng tồn tại ngoài vật chủ trong nước biển ở 30°C ít nhất 30 ngày và trong nước ao nuôi ít nhất 3-4 ngày (Momoyama et al., 1998; Nakano et al., 1998). Khả năng tôm lây nhiễm khi ăn thịt cá thể nhiễm bệnh cao gấp 10 lần so với lây truyền qua môi trường nước chung (Lotz, 2009).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tổ chức theo quy trình đa bước kết hợp dịch tễ học và sinh học phân tử:

  1. Phương pháp điều tra dịch tễ: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát trực tiếp các hộ nuôi tôm tại ba tỉnh Quảng Ninh, Nam Định và Nghệ An. Các thông tin thu thập bao gồm diện tích ao nuôi, mực nước ao, số lần cấp nước, thời điểm thả giống, nguồn gốc con giống, mật độ thả, kích cỡ giống, biện pháp giảm sốc, quy trình xử lý nước và sự xuất hiện bệnh đốm trắng.
  2. Phương pháp thu mẫu và định danh: Mẫu động vật thủy sinh được thu thập tại kênh cấp nước, ao lắng và ao nuôi tôm thâm canh. Các mẫu được phân loại hình thái và định danh bằng sinh học phân tử.
  3. Kỹ thuật sinh học phân tử:
    • Tách chiết ADN và ARN mô động vật thủy sinh.
    • Tổng hợp cDNA từ ARN bằng phản ứng phiên mã ngược.
    • Phản ứng PCR và chu trình nhiệt đặc hiệu để khuếch đại đoạn gen đích xác định WSSV.
    • Tinh sạch sản phẩm ADN.
    • Kỹ thuật Real-time PCR để định lượng nồng độ virus (copy/mL) dựa trên đường chuẩn chuẩn độ.
  4. Bố trí thí nghiệm gây nhiễm và kiểm tra sự nhân lên của virus:
    • Gây nhiễm nhân tạo WSSV lên các loài động vật thủy sinh chủ yếu qua hai hình thức: tiêm dịch virus và ngâm trong môi trường nước chứa virus (theo quy trình của Wu et al., 2005; Kim et al., 2014; Chen et al.).
    • Sử dụng kỹ thuật RT-PCR để phát hiện sự biểu hiện gen của virus, chứng minh WSSV thực sự nhân lên trong tế bào vật chủ chứ không chỉ bám dính cơ học bên ngoài.
    • Thí nghiệm nuôi chung (cohabitation): Động vật thủy sinh sau khi gây nhiễm mang WSSV được nuôi chung môi trường nước với tôm chân trắng khỏe mạnh (Litopenaeus vannamei) để xác định khả năng lan truyền virus sang tôm nuôi.
  5. Nguồn tư liệu và xử lý số liệu: Dữ liệu dịch tễ học từ điều tra thực địa, mẫu bệnh phẩm thu thập trong giai đoạn 2015-2017 và số liệu thực nghiệm phân tích sinh học phân tử. Các số liệu được phân tích mô tả và xử lý thống kê để xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và sự xuất hiện bệnh.

Nội dung chính theo từng chương

Điều tra hiện trạng vùng nuôi và đánh giá mối nguy liên quan đến bệnh đốm trắng tại Quảng Ninh, Nam Định và Nghệ An

Chương này trình bày kết quả khảo sát thực trạng quản lý và tình hình lưu hành bệnh đốm trắng ở tôm nuôi nước lợ tại ba tỉnh nghiên cứu. Về quy mô và đối tượng nuôi, Quảng Ninh có tổng diện tích tôm nước lợ đạt 9.840 ha (tôm sú chiếm 6.563 ha, tôm chân trắng chiếm 3.277 ha); Nam Định đạt 728 ha nuôi tôm chân trắng thâm canh và bán thâm canh (riêng huyện Giao Thủy chiếm 397 ha); Nghệ An có 2.190 ha tôm nước lợ (tôm chân trắng chiếm 2.090 ha).

Số liệu thống kê toàn quốc và tại vùng nghiên cứu cho thấy dịch bệnh đốm trắng diễn biến phức tạp và gây thiệt hại lớn qua các năm:

Chỉ số theo dõi dịch bệnh đốm trắng Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
Số tỉnh có dịch 23 23 25
Số huyện có dịch 76 82 82
Số xã có dịch 260 252 274
Tổng diện tích bị bệnh (nghìn ha) 23,64 5,50 3,64

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Cục Thú y (2016) được luận án trích dẫn

Bên cạnh đó, vị trí dẫn đầu của mặt hàng tôm trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn này được phản ánh qua số liệu:

Mặt hàng thủy sản xuất khẩu Năm 2014 (tỷ USD) Năm 2015 (tỷ USD) Năm 2016 (tỷ USD)
Tôm 4,00 2,59 3,10
Cá tra 1,80 1,34 1,60
Cá ngừ 0,50 0,48 0,50
Mực, bạch tuộc 0,50 0,39 0,42
Tổng cộng 7,84 6,70 7,00

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2016) được luận án trích dẫn

Kết quả điều tra dịch tễ tại vùng nghiên cứu ghi nhận bệnh đốm trắng xuất hiện nhiều nhất vào hai đợt trong năm: đợt một vào tháng 3 với tỷ lệ 21,9% và đợt hai vào tháng 9 với tỷ lệ 25,4%. Nghiên cứu đã xác định 8 yếu tố nguy cơ chính liên quan đến sự bùng phát WSD ở tôm nuôi:

  1. Quy trình lấy nước: Tỷ lệ ao nuôi lấy nước trực tiếp không qua ao lắng hoặc lưới lọc thô có nguy cơ mắc bệnh cao hơn rõ rệt so với ao lấy nước qua ao lắng và lưới lọc mịn.
  2. Sử dụng hóa chất xử lý nước: Việc xử lý nước cấp bằng hóa chất khử trùng trước khi thả tôm ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn lưu của mầm bệnh.
  3. Nguồn tôm giống: Con giống không rõ nguồn gốc hoặc chưa qua kiểm dịch mang nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn.
  4. Kích cỡ giống khi thả: Kích cỡ tôm giống nhỏ và không đồng đều làm tăng tính cảm nhiễm.
  5. Kỹ thuật thả giống và giảm sốc: Hoạt động giảm sốc (thuần nhiệt độ, độ mặn) khi thả giống giúp tôm tránh stress, làm giảm tỷ lệ phát bệnh.
  6. Mật độ thả giống: Mật độ nuôi thâm canh quá cao làm tăng áp lực môi trường và nguy cơ lây nhiễm.
  7. Vị trí địa lý ao nuôi: Ao nằm trong vùng đang có dịch bệnh lưu hành có nguy cơ nhiễm virus rất cao qua nguồn nước chung.
  8. Sự xuất hiện của sinh vật khác trong ao: Sự hiện diện của các loài giáp xác hoang dã và sinh vật lạ trong ao nuôi là yếu tố nguy cơ trực tiếp dẫn đến bệnh đốm trắng.

Nghiên cứu xác định động vật thủy sinh chủ yếu mang WSSV tại Nghệ An, Nam Định và Quảng Ninh

Trong nội dung này, luận án đã thống kê và xác định thành phần sinh vật tại các vùng nuôi. Kết quả ghi nhận tổng cộng 23 loài động vật thủy sinh xuất hiện tại vùng nuôi tôm, trong đó có 16 loài xuất hiện với tần số và số lượng lớn được xếp vào nhóm động vật thủy sinh chủ yếu. Nhóm này gồm 4 nhóm phân loại: giáp xác (tôm rảo, tôm càng, tôm gai, cáy đỏ), cá (cá bống), lưỡng cư (nòng nọc ếch), nhuyễn thể (ốc đinh) và 9 loài động vật phù du.

Phân tích mẫu thu thập trong tự nhiên bằng kỹ thuật sinh học phân tử:

  • Loài tôm càng (Macrobrachium nipponense) thu thập tự nhiên tại các ao nuôi tôm thẻ chân trắng ở Nam Định cho kết quả dương tính với WSSV bằng kỹ thuật PCR, với tỷ lệ nhiễm tự nhiên là 7,14%.
  • Các loài thủy sinh chủ yếu khác thu ngoài tự nhiên chưa ghi nhận mẫu dương tính với WSSV.

Kết quả thí nghiệm gây nhiễm nhân tạo trong phòng thí nghiệm:

  • Sau khi gây nhiễm nhân tạo bằng phương pháp ngâm và tiêm dịch WSSV, kỹ thuật RT-PCR đã xác định sự hiện diện của ARN thông tin của virus, khẳng định WSSV có khả năng nhân lên trong tế bào của hai loài giáp xác:
    • Cáy đỏ (Uca arcuata): WSSV bắt đầu nhân lên trong tế bào sau 4,5 ngày gây nhiễm.
    • Tôm gai (Exopalaemon carinicauda): WSSV bắt đầu nhân lên trong tế bào sau 5 ngày gây nhiễm.

Khả năng lan truyền WSSV từ động vật thủy sinh sang tôm thẻ chân trắng trong cùng môi trường nuôi

Nội dung này đánh giá thực nghiệm khả năng truyền lây ngang mầm bệnh từ ba loài giáp xác đã xác định mang WSSV sang tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) khỏe mạnh thông qua hình thức nuôi chung (cohabitation) trong cùng môi trường nước:

  1. Lan truyền từ cáy đỏ (Uca arcuata) sang tôm thẻ chân trắng: Tôm thẻ chân trắng khỏe mạnh khi nuôi chung nguồn nước với cáy đỏ mang WSSV đã bị nhiễm virus theo thời gian. Tôm thẻ xuất hiện các dấu hiệu bệnh lý đốm trắng đặc trưng và chết. Kết quả PCR xác nhận tôm thẻ dương tính với WSSV.
  2. Lan truyền từ tôm càng (Macrobrachium nipponense) sang tôm thẻ chân trắng: Thí nghiệm nuôi chung xác nhận tôm càng mang WSSV lây truyền virus sang tôm thẻ chân trắng trong cùng bể nuôi, làm tôm chân trắng phát bệnh và chết với các biểu hiện lâm sàng điển hình.
  3. Lan truyền từ tôm gai (Exopalaemon carinicauda) sang tôm thẻ chân trắng: Tôm gai mang WSSV lan truyền thành công virus sang tôm thẻ chân trắng nuôi chung, kết quả phân tích PCR ở các thời điểm theo dõi khẳng định sự hiện diện của WSSV trong mô tôm thẻ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới cụ thể như sau:

  1. Đóng góp về lý luận và dẫn liệu dịch tễ học:

    • Cung cấp dẫn liệu khoa học toàn diện về hiện trạng dịch tễ bệnh đốm trắng ở ba tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Nghệ An; xác định 8 yếu tố nguy cơ liên quan trực tiếp đến khả năng tôm nuôi nhiễm bệnh.
    • Thống kê 23 loài động vật thủy sinh, xác định 16 loài chủ yếu thuộc 4 nhóm (giáp xác, cá, nhuyễn thể, động vật phù du) hiện diện thường xuyên tại hệ thống cấp nước và ao nuôi tôm nước lợ miền Bắc.
    • Ghi nhận và bổ sung 3 loài giáp xác mới vào danh mục sinh vật mang và truyền lan virus WSSV tại Việt Nam gồm: tôm càng (Macrobrachium nipponense), cáy đỏ (Uca arcuata) và tôm gai (Exopalaemon carinicauda).
    • Đóng góp 1 loài mới cho danh mục sinh vật mang WSSV trên thế giới: Cáy đỏ (Uca arcuata).
    • Chứng minh bằng kỹ thuật RT-PCR rằng WSSV thực sự nhân lên trong tế bào của cáy đỏ (Uca arcuata) và tôm gai (Exopalaemon carinicauda), khẳng định vai trò vật chủ trung gian thực sự của hai loài này trong tự nhiên.
    • Chứng minh thực nghiệm tôm càng, cáy đỏ và tôm gai là các vector truyền lây ngang WSSV sang tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) trong cùng môi trường nuôi.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp:

    • Cảnh báo người nuôi tôm về hai thời điểm bùng phát dịch bệnh tập trung trong năm (tháng 3 và tháng 9) để có kế hoạch bố trí lịch thời vụ thả giống phù hợp nhằm tránh đỉnh dịch.
    • Đề xuất các biện pháp kỹ thuật kiểm soát an toàn sinh học: bắt buộc lấy nước qua ao lắng và lưới lọc mịn nhằm ngăn ngừa sinh vật lạ; thực hiện quy trình xử lý nước bằng hóa chất khử trùng triệt để; chọn giống sạch bệnh qua kiểm định và thực hiện các thao tác giảm sốc cẩn thận khi thả tôm.
    • Khuyến cáo các cơ sở nuôi tôm nước lợ phải có biện pháp ngăn chặn và tiêu diệt triệt để sự xâm nhập của 3 loài giáp xác (Macrobrachium nipponense, Uca arcuata, Exopalaemon carinicauda) vào ao nuôi và hệ thống cấp nước nhằm cắt đứt mắt xích truyền bệnh đốm trắng theo chiều ngang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung khảo sát tại ba địa bàn cụ thể ở miền Bắc (Hải Hòa - Quảng Ninh, Giao Thủy - Nam Định, Quỳnh Liên - Nghệ An) trên đối tượng tôm chân trắng thâm canh trong giai đoạn 2015-2017. Do đó, danh mục sinh vật thủy sinh mang virus mới chỉ phản ánh thành phần loài chủ yếu tại các khu vực này.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu điều tra trên các nhóm sinh vật thủy sinh tiềm năng khác trong hệ sinh thái nước lợ (như giun nhiều tơ, nhuyễn thể, côn trùng nước) để bổ sung đầy đủ hơn danh mục vật mang WSSV tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu và thử nghiệm các giải pháp sinh học thân thiện với môi trường nhằm ngăn chặn và loại bỏ sự xuất hiện của các loài sinh vật mang mầm bệnh WSSV trong ao nuôi tôm, thay thế dần các biện pháp hóa chất truyền thống.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn trong ngành thủy sản và thú y:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Dịch tễ học thú y, Bệnh học thủy sản: Cung cấp quy trình điều tra dịch tễ kết hợp kỹ thuật sinh học phân tử (PCR, RT-PCR, Real-time PCR) và phương pháp bố trí thí nghiệm gây nhiễm, nuôi chung kiểm tra lây truyền ngang.
  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách thú y thủy sản: Cung cấp luận cứ khoa học về 8 yếu tố nguy cơ và mùa vụ bùng phát dịch để xây dựng các chương trình giám sát, cảnh báo dịch bệnh cấp tỉnh và quốc gia.
  • Đối với kỹ thuật viên và chủ trang trại nuôi tôm: Cung cấp thông tin nhận diện cụ thể ba loài giáp xác mang mầm bệnh (Macrobrachium nipponense, Uca arcuata, Exopalaemon carinicauda) để chủ động thiết kế rào chắn, ao lắng và lưới lọc ngăn chặn vật mang xâm nhập ao nuôi.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã xác định được những loài động vật thủy sinh nào có khả năng mang và lan truyền virus đốm trắng (WSSV)?
Luận án xác định được 3 loài giáp xác gồm: tôm càng (Macrobrachium nipponense) mang virus trong điều kiện tự nhiên; cáy đỏ (Uca arcuata) và tôm gai (Exopalaemon carinicauda) mang virus trong điều kiện thí nghiệm. Cả 3 loài này đều được kiểm chứng có khả năng truyền WSSV sang tôm thẻ chân trắng khi nuôi chung môi trường nước.

2. Tỷ lệ nhiễm tự nhiên của WSSV trên tôm càng (Macrobrachium nipponense) là bao nhiêu và được phát hiện ở đâu?
Tôm càng (Macrobrachium nipponense) thu thập tự nhiên tại các ao nuôi tôm thẻ chân trắng ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cho kết quả dương tính với WSSV bằng kỹ thuật PCR với tỷ lệ nhiễm tự nhiên là 7,14%.

3. Trong điều kiện thực nghiệm, sau bao lâu thì virus WSSV bắt đầu nhân lên trong tế bào của cáy đỏ và tôm gai?
Kỹ thuật RT-PCR xác định WSSV bắt đầu nhân lên trong tế bào của cáy đỏ (Uca arcuata) sau 4,5 ngày và trong tế bào của tôm gai (Exopalaemon carinicauda) sau 5 ngày kể từ thời điểm gây nhiễm nhân tạo.

4. Bệnh đốm trắng ở tôm nuôi nước lợ tại các tỉnh miền Bắc nghiên cứu bùng phát cao nhất vào những tháng nào?
Kết quả điều tra dịch tễ cho thấy bệnh đốm trắng bùng phát mạnh nhất vào hai thời điểm trong năm: tháng 3 với tỷ lệ 21,9% và tháng 9 với tỷ lệ 25,4%.

5. Luận án ghi nhận loài sinh vật nào lần đầu tiên trên thế giới mang virus đốm trắng?
Luận án đã bổ sung cáy đỏ (Uca arcuata) là loài mới đầu tiên trên thế giới được ghi nhận có khả năng mang và nhân lên virus đốm trắng (WSSV).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Thị Mỹ Hạnh đã giải quyết mục tiêu xác định các yếu tố nguy cơ dịch tễ học và sinh vật thủy sinh mang virus đốm trắng (WSSV) tại Quảng Ninh, Nam Định và Nghệ An. Công trình đã chỉ ra 8 yếu tố nguy cơ dịch bệnh, ghi nhận 16 loài thủy sinh xuất hiện chủ yếu và xác định 3 loài giáp xác bản địa mang và truyền lan WSSV sang tôm chân trắng gồm Macrobrachium nipponense, Uca arcuata và Exopalaemon carinicauda. Những kết quả này bổ sung 3 loài mới vào danh mục sinh vật mang WSSV tại Việt Nam và 1 loài mới cho thế giới (Uca arcuata), tạo cơ sở khoa học để xây dựng các giải pháp an toàn sinh học nhằm hạn chế dịch bệnh đốm trắng trong nghề nuôi tôm nước lợ.