CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN ĐÈ TÀI 1. Phương pháp luận Macxit Đề tài này dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lénin. Đây là cơ sở phương pháp luận có tính nguyên tắc, đóng vai trò nền tảng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Cụ thể là: - Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, nghiên cứu bản thân sự vật, hiện tượng như chúng đang tồn tại trong thực tế, không phán đoán chủ quan, các kết luận phải được phản ánh từ thực tế.
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự phát triển: Mỗi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển của nó. Vì vậy, khi nghiên cứu cần nhìn nhận sự tôn tại của sự vật trong một giai đoạn cu thể và trong cả quá trình vận động, phát triển của nó. - Nguyên tắc nghiên cứu sự vật trong một chỉnh thé toàn vẹn. Đề tải nghiên cứu được đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế thế giới với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng.
Và đồng thời với những giá trị mới của xã hội hiện đại, sự du nhập của văn hóa phương Tây vào Việt Nam đang từng ngày từng giờ tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội, đến mọi tầng lớp nhân dân nói chung và đặc biệt hơn cả là vị thành niên, một nhóm xã hội đặc biệt, vì đây là nhóm tuổi ở giai đoạn thay đổi một cách toàn diện cả về thể chất, tâm lý và nhân cách. VỊ thành niên là lứa tuổi rất nhạy cảm và có nhiều đột biến, chịu sự tác động hết sức mạnh mẽ từ nhiều phía như gia đình, nhà trường và xã hội. Các lý thuyết xã hội học 1. Lý thuyết xã hội hóa Xã hội hóa là quá trình mà qua đó các cá nhân nội hóa những nguyên tắc, chuẩn mực và giá tri của một xã hội.
Sau đó, cá nhân sẽ ngoại hóa những gi hấp thụ và học được qua hành động xã hội của mình. Xã hội hóa trước hết được hiểu như là 14 một quá trình theo đó đứa trẻ lớn lên trong xã hội. Nhưng theo một nghĩa rộng hơn, xã hội hóa chính là khả năng hội nhập của cá nhân vào một cộng đồng xã hội. Khi nghiên cứu thái độ xã hội của cộng đồng đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên, lý thuyết xã hội hóa có thể giải thích cho chúng ta hiểu được rằng trước những chuẩn mực xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên hiện nay thì thái độ, phản ứng của cộng đồng trước tình huống có vấn đề về sức khỏe sinh sản, và hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên như thế nào? Lý thuyết xã hội hóa được dùng làm cơ sở dé nhìn nhận và lý giải van dé trong những hoàn cảnh cụ thé.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa. Căn cứ vào tính chủ động của cá nhân trong quá trình xã hội hóa, chúng ta có thé chia thành hai loại: - Loại 1: Ít đề cập đến tinh chủ động của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội. Các cá nhân vị khuôn sẵn vào các chuẩn mực. Một đại diện cho cách hiểu này là Neil Smelser.
Ông cho rằng “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình”, nghĩa là vai trò cá nhân chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá tri, chuẩn mực. - Loại 2: Khang định tính tích cực, sang tao cua cá nhân trong quá trình xã hội hóa. Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình tạo ra những kinh nghiệm xã hội. - Nhà xã hội học Mỹ J.
Fichter đã chú ý hơn tới tính tích cực của cá nhân khi ông cho rằng xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này với người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó.Andreeva, xã hội hóa là quá trình hai mặt. Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bang cách thâm nhập môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tai san xuất một cách chủ động các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội. Như vậy, cá nhân trong quá trình xã hội hóa không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn chuyên hóa nó thành những giá tri, xu hướng của cá nhân đê 15 tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội.
Mặt thứ nhất của quá trình xã hội hóa là thu nhận kinh nghiệm xã hội thé hiện sự tác động của con người tới môi trường thông qua hoạt động của mình. Áp dụng vào đề tài này cho thấy nhận thức, thái độ của cộng đồng về hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên được hình thành trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm, giá tri, chuẩn mực của môi trường sống của xã Liêm Cần — huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Bản thân họ cũng có khả năng tác động trở lại làm biến đôi những giá trị, chuẩn mực đó. Nhận thức, thái độ của cộng đồng chịu sự tác động của các môi trường xã hội hóa: gia đình, nhà trường, nhóm bạn bè, cộng đồng nơi sinh sống và các phương tiện truyền thông.
Lý thuyết gan nhãn Người đưa ra những quan điểm và phân tích có tính chất nền móng cho lý thuyết gan nhãn là nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ George Herbert Mead. Mead phân tích rang cdi tdi là nền tang của sự tồn tại của con người, nó chính là nhận thức của cá nhân về tình trạng là một thực thể khác biệt trong xã hội [28, tr. Theo ông, con người cũng có khả năng tưởng tượng, phán đoán phản ứng của người khác đối với mình và qua đó nhìn nhận bản thân mình như người khác đang làm điều đó. Người đã có công định hình và phô biến lý thuyết gán nhãn hiệu là nhà xã hội học người Mỹ Howard Becker (1928).
Ông khẳng định rằng sự lệch lạc chỉ có thể định nghĩa như “hành vi mà con người được gọi nhự thé" [28, tr.265] vì sự lệch lạc có tính tương đối và phụ thuộc vào tình huống tương tác xã hội cụ thể. Ông cho rằng, lý thuyết dan nhãn tập trung vào sự phản ứng của người khác và ảnh hưởng của những phản ứng đó. Chính điều đó tạo ra sự sai lệch. Khi bị gắn với những hành vi lệch lạc, họ sẽ bị tách ra khỏi xã hội và bị chính xã hội gắn cho một cái “mác”.
Ví dụ như “gái điểm”, “kẻ nghiện ngập”. Theo ông: Sự chia tách lớn này tạo ra xu thế “người ngoài cuộc”.[28] Gắn nhãn là do những hành vi lệch lạc của mỗi cá nhân. Lý thuyết gán nhãn (Labeling Theory) là lý thuyết nghiên cứu hành vi ứng xử của con người theo phương pháp phân tích tương tác biểu tượng qua đó khang định 16 hành vi tuân thủ hay lệch lạc của một người là do kết quả của quá trình người khác xác định hay gan nhãn hiệu. Lý thuyết này nhấn mạnh đến tính tương đối trong việc đánh giá hành vi lệch lạc, cùng một hành vi có thể định nghĩa khác nhau trong các tình huống khác nhau.
+ Qua trình dan nhãn « Việc gan cho một người là lệch lạc hay phạm tội có nghĩa là chủ thể và những người xung quanh phải tự thích nghỉ với một “bản sắc bị tước đoạt”. Nó dé lại hậu quả quan trọng đối với sự tham gia xã hội thêm vào đó là hình ảnh tự thân Của Con người. " Một quá trình bêu xấu xảy ra, họ bị dán nhãn là một loại người nào đó. - Hành vi trong quá khứ của chủ thé được xem xét trong cái nhìn hoàn toàn mới, còn tương lai được dự báo trên cơ sở lệch lạc hiện tại.
>> Kết quả của quá trình này là khóa các cá nhân vào những vai trò sai lệch và hướng họ theo những tiến trình lệch lạc >> Sản sinh ra sự lệch lạc nhiều hơn là ngăn chặn nó “khuyếch đại lệch lạc” (Lemert) + Hanh vi bị dán nhãn Lệch lạc sơ cấp: - Là hành vi của cá nhân bị lệch lạc đi nhưng chỉ là lệch lạc tạm thời và không lặp đi lặp lại có tính chất định kì. - Cá nhân có hành vi lệch lạc sơ cấp là những cá nhân mà xã hội cho rằng có thể chấp nhận được. - Sự dan nhãn ở xu hướng lệch lạc sơ cấp là rất quan trọng vì nó làm cho các hiện tượng bề ngoài có vẻ giống nhau có thể tách thành những gì mà xã hội chấp nhận hoặc không chấp nhận được. Lệch lạc thứ cấp: - Lệch lạc thứ cấp là hành vi lệch lạc của cá nhân có tính đặc trưng và cá nhân tô chức đời sống của mình xung quanh hành vi lệch lạc đó, tiến đến mức cao hơn so với lệch lạc sơ cấp.
- Xã hội nói chung không chấp nhận những hành vi lệch lạc như vậy. 17 - Những áp lực xã hội mạnh mẽ có xu hướng thúc đây hành vi cá nhân cho phù hợp với cái nhãn. Nhãn xã hội có thể phân chia thành các cấp độ khác nhau: - Nhãn xã hội mang ý nghĩa tiêu cực: gán cho hành vi sai lệch bị cộng đồng phê phán, trái với chuẩn mực đạo đức, văn hoá của cộng đồng. Ví dụ, con điểm, thằng nghiện.
- Nhãn xã hội mang ý nghĩa trung tính: chỉ những biệt danh gán cho cá nhân dựa trên những đặc điểm riêng biệt của người đó (hình dáng, nghề nghiệp). Nhãn này phan lớn có tính hài hước. Vi dụ: Giang còi, Thang mũi to, v. - Nhãn xã hội mang ý nghĩa tích cực: chỉ những người có hành vi khác thường nhưng không trái với chuẩn mực văn hoá, đạo đức, mà còn hàm ý khen ngợi.
Ví dụ, đãng trí bác học, quái nhân, v.