Tổng quan luận án

Công trình khoa học được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Khắc Thạc với đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất vị trí hợp lý của cửa lấy nước vào sông Đáy đảm bảo yêu cầu cấp nước và tạo dòng chảy thường xuyên cho sông Đáy", bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Thủy lợi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Hương Lan và TS. Tan Soon Keat. Luận án thuộc chuyên ngành Thủy văn học, mã số 9440224, giải quyết bài toán kỹ thuật thủy văn và chỉnh trị sông ngòi phục vụ tái lập dòng chảy và an toàn đê điều.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu cùng với các hoạt động khai thác, vận hành hồ chứa ở thượng nguồn sông Đà và sông Hồng đã làm thay đổi sâu sắc chế độ dòng chảy hạ lưu. Các hồ chứa phía Trung Quốc trong giai đoạn 2007–2009 giữ lại từ 10% đến 20% lượng nước, đặc biệt vào thời kỳ chuyển tiếp mùa (tháng 5–6/2009) giữ lại hơn 30%, dẫn đến tình trạng suy giảm nghiêm trọng nguồn nước hạ du. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội có chiều dài 37 km, lưu lượng trung bình nhiều năm đạt 2.640 $\text{m}^3/\text{s}$ với tổng lượng dòng chảy trung bình 83,5 triệu $\text{m}^3$. Vào mùa kiệt, mực nước hạ thấp sâu, điển hình năm 2010 mực nước tại Hà Nội xuống mức kỷ lục +0,1 m, gây tê liệt hàng loạt công trình thủy lợi lấy nước tự chảy.

Sông Đáy là phân lưu quan trọng của sông Hồng với chiều dài 240 km, bắt đầu từ Hát Môn và đổ ra biển qua cửa Như Tân. Từ năm 1937, khi chính quyền Đông Dương xây dựng đập Đáy để ngăn lũ bảo vệ đồng bằng, dòng sông bị cắt đứt nguồn cấp nước thường xuyên, khiến đoạn sông 23 km từ đập Đáy đến cầu Mai Lĩnh suy thoái nghiêm trọng. Nhằm khôi phục dòng chảy, cụm công trình đầu mối Cẩm Đình – Hiệp Thuận được xây dựng từ năm 2002 và hoàn thành năm 2004 với lưu lượng thiết kế mùa kiệt $Q_{\text{TK}} = 36,24\text{ }\text{m}^3/\text{s}$, mùa lũ $Q_{\text{TK}} = 70\text{ }\text{m}^3/\text{s}$. Tuy nhiên, công trình hầu như không thể lấy nước trong mùa kiệt do mực nước sông Hồng hạ thấp và hiện tượng bồi lắng diễn ra nghiêm trọng. Khảo sát thực địa năm 2014 cho thấy đoạn kênh dẫn thượng lưu cống Cẩm Đình dài 700 m bị bồi lắng trung bình 1,03 m so với cao trình thiết kế.

Nghị định số 04/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc xóa bỏ vùng phân chậm lũ sông Đáy, đồng thời đặt ra yêu cầu cải tạo lòng dẫn để chủ động đưa nước thường xuyên từ sông Hồng vào sông Đáy với lưu lượng mùa kiệt từ 30 đến 100 $\text{m}^3/\text{s}$, mùa lũ từ 500 đến 800 $\text{m}^3/\text{s}$, và đảm nhiệm phân lũ khẩn cấp tối đa 2.500 $\text{m}^3/\text{s}$. Trước yêu cầu cấp bách này, các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào giải pháp chỉnh trị hoặc thoát lũ cục bộ bằng mô hình 1D, 2D mà chưa xem xét toàn diện cơ sở thủy lực 3 chiều phân tầng và tương tác bồi xói để xác định vị trí cửa lấy nước thích hợp. Do đó, việc nghiên cứu đề xuất vị trí lấy nước hợp lý vào sông Đáy là một yêu cầu khoa học và thực tiễn cấp bách.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung chính:

  1. Nghiên cứu đề xuất các tiêu chí lựa chọn vị trí cửa lấy nước hợp lý, đảm bảo yêu cầu lấy nước mùa kiệt và thoát lũ.
  2. Nghiên cứu xác định vị trí cửa lấy nước hợp lý khu vực cửa vào sông Đáy đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cửa lấy nước trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội và hệ thống tiêu chí kỹ thuật xác định vị trí cửa lấy nước thích hợp trên sông ngòi đồng bằng.
  • Phạm vi không gian: Đoạn sông Hồng dài 27 km từ Km30 đến Km47+500 thuộc tuyến đê hữu sông Hồng (khu vực cửa vào sông Đáy).
  • Phạm vi tài liệu và thời gian: Chuỗi số liệu địa hình, khí tượng, thủy văn và bùn cát thực đo trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình và sông Đáy, tập trung kiểm định vào các năm kiệt điển hình (2001, 2003, 2003–2004) và các trận lũ lịch sử (1971, 1996, 2002).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Các công trình quốc tế đã tiếp cận vấn đề công trình lấy nước (CTLN) qua nhiều khía cạnh kỹ thuật:

  • Phân loại công trình lấy nước: Avery, P. (1989) phân loại CTLN thành cống lấy nước bên cạnh (dòng vào vuông góc $90^\circ$ với dòng chính), cống chính diện (dòng vào song song dòng chính), cống có đập và cống không đập có điều tiết. GTZ (1989) phân loại theo cửa lấy nước bên hông (Lateral Intake) và cửa lấy nước đáy (Tyrolean/Bottom Intake). Abbasi (2003) phân tích cửa lấy nước có đập dâng và cửa lấy nước đáy cho vùng sông núi có độ dốc từ 1% đến 10%.
  • Nghiên cứu diễn biến bồi lắng và mô hình hóa: và nnk (2002) khảo sát bồi lắng tại kênh dẫn trạm bơm ven sông ở Nam Phi. Mehdi Karami Moghadam (2010) dùng mô hình vật lý sông Ohio xác định kênh lấy nước hợp góc $30^\circ$ cho lưu lượng lớn nhất và bùn cát nhỏ nhất với số Froude từ 0,35 đến 0,4. S và nnk (1999) ứng dụng mô hình số trị 3D giải phương trình Navier-Stokes với mô hình rối Wilcox cho kênh chữ T. Moussa (2010) dùng mô hình CCHE2D đánh giá bồi lắng trạm bơm Rowd El-Farag. Elmoustafa (2011) dùng mô hình 2D RMA2 trên sông Nile ở Assuit với lưới chữ nhật $20\text{ m} \times 20\text{ m}$. Shahidan và nnk (2012) kết hợp HEC-RAS và CCHE2D trên sông Ijok (Malaysia). Ashari và nnk (2015) dùng phương pháp khối lượng hữu hạn (FVM) với mô hình rối $k\text{-}\varepsilon$ tiêu chuẩn và RNG. Martin (2015) dùng mô hình 2D tại British Columbia chỉ ra việc mở thêm cửa cống phụ làm tăng vận tốc dòng và giảm lắng đọng bùn cát. Các nghiên cứu chỉnh trị sông Rhine (2006) sau lũ năm 1993, 1995 cũng đề xuất hệ thống kè bờ kết hợp cảnh quan sinh thái.
  • Xác định vị trí và góc lấy nước: Gango Schmid (2000) nghiên cứu các cửa lấy nước trên sông Río Mameyes, Miradero (sông Añasco), Fajardo, Blanco và chỉ ra vị trí tối ưu ở bờ lõm đoạn sông cong. Ali Akbar Salehi (2008) kiến nghị góc lấy nước từ $60^\circ$ đến $90^\circ$. Alireza Masjedi (2011) đề xuất góc $45^\circ$. Afrouza (2015) xác định góc thích hợp trên đoạn sông thẳng là $30^\circ \div 45^\circ$. Montaseri (2015) dùng mô hình Reynolds Stress trong phần mềm Fluent xác định góc lấy nước tối ưu từ $17^\circ$ đến $20^\circ$ (trong khoảng $15^\circ \div 30^\circ$).
  • Giải pháp công trình nâng cao hiệu quả: Avery (1989), (1998) đề xuất giải pháp đẩy dòng chủ lưu ra xa bờ. Ma You guo (2001) ứng dụng bẫy cát và góc lấy nước $30^\circ \div 60^\circ$ trên sông Yili Hashi. Azade Jamshidi và nnk (2016) sử dụng các tấm lái phân dòng ngập nước với góc lệch $15^\circ, 20^\circ, 25^\circ, 30^\circ$, giúp tăng lưu lượng vào cống từ 30,72% đến 36,34%.

Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nhiều tổ chức và nhà khoa học đã triển khai các đề tài liên quan đến hệ thống sông Hồng và sông Đáy:

  • Nghiên cứu bồi lắng và nâng cao hiệu quả lấy nước: Trung tâm Động lực sông – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2008–2009) điều tra 4 cống lớn trên sông Hồng (Thanh Điềm, Liên Mạc, Xuân Quan, Phù Sa) và cống Ấp Bắc trên sông Đáy, đề xuất tường chắn và quy trình lấy nước đầu lũ. Nguyễn Thọ Sáo (2005) dùng mô hình 1D tính toán thủy lực cửa cống. Phạm Đức Thắng (2010) dùng mô hình 3D đề xuất đập chắn cát 3 khoang 4 tầng cho cống Xuân Quan nhưng chỉ tính trong mùa lũ khi đóng cống. Nguyễn Quốc Dũng (2006) kết hợp mô hình EFDC và MIKE 11 nghiên cứu cống Xuân Quan. Nguyễn Hữu Huế (2013) dùng HEC-RAS đánh giá cống Liên Mạc 1 và Cẩm Đình. Dương Đức Tiến (2015) tính toán bể lắng cát kích thước $24\text{ m} \times 18,8\text{ m} \times 2\text{ m}$ cho trạm bơm Phù Sa bằng mô hình CRESS. Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội (2015) khảo sát 5 trạm bơm tưới lớn (Phù Sa, Đan Hoài, Xuân Phú, Ấp Bắc, Thanh Điềm) trên địa bàn 11 quận, huyện.
  • Nghiên cứu thoát lũ và quy hoạch sông Đáy: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2001) so sánh 3 vị trí đặt cống Cẩm Đình (Hát Môn, Vân Phú, đầu kè Cẩm Đình). Viện Khí tượng Thủy văn (2001) đánh giá hệ thống phân lũ sông Đáy chỉ chuyển được $3.727\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ (đạt 74,5% thiết kế $5.000\text{ }\text{m}^3/\text{s}$), thực tế lũ năm 1971 qua đập Đáy chỉ đạt $2.300\text{ }\text{m}^3/\text{s}$. Vũ Tất Uyên (2001) tính toán các kịch bản thoát lũ cửa Đáy khi gặp triều cường và nước dâng bão cao 1,67 m. Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2001, 2003, 2005) đề xuất chỉnh trị các cụm Hải Bối – Cửa Dâu – Tầm Xá, Phú Gia – Tứ Liên, Bát Tràng và nâng khả năng thoát lũ sông Đáy lên $2.400\text{ }\text{m}^3/\text{s}$. Nguyễn Tuấn Anh và nnk (2002) thí nghiệm mô hình vật lý cụm Vân Cốc – Hát Môn. Đề tài KC-08/11 (2002–2004) dự báo xói lở bồi lắng đoạn Sơn Tây – Trung Hà – Bá Giang. HEC (2006) thiết kế cải tạo sông Đáy với $Q = 36\text{ }\text{m}^3/\text{s}$. Đoàn Thị Tuyết Nga (2007) dùng MIKE 11 và QUAL2E đánh giá chất lượng nước. Hà Văn Khối và nnk (2009) kiến nghị phân lũ sông Đáy tối đa $2.000\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ khi mực nước Hà Nội vượt +12,50 m và nạo vét lòng dẫn $B = 150\text{ m}, h = 6,5\text{ m}$ để dẫn $800\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ không ngập bãi. Viện Quy hoạch Thủy lợi (2009) đề xuất cống phân lũ mới tại Cẩm Đình $B = 88\text{ m}, Z_{\text{đ}} = +9,0\text{ m}, Q_{\max} = 2.500\text{ }\text{m}^3/\text{s}$, kênh dẫn rộng 150 m và lưu lượng kiệt $106\text{ }\text{m}^3/\text{s}$. Phạm Đình và nnk (2010) ứng dụng MIKE21 FM-ST mô phỏng xói bồi sau 5 năm tại Cẩm Đình. Lương Phương Hậu (2010) và Nguyễn Tiền Giang và nnk (2010) đánh giá các bậc thềm chỉnh trị thoát lũ. Phạm Thị Hương Lan (2012) áp dụng MIKE11ST và MIKE21FM nghiên cứu ổn định cửa vào sông Đáy theo Nghị định 04.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây còn tồn tại các hạn chế:

  1. Đa số chỉ sử dụng mô hình 1 chiều (MIKE 11, HEC-RAS) hoặc 2 chiều (MIKE 21, CCHE2D) với lưới thô, không mô tả được dòng chảy phân tầng theo chiều sâu và cấu trúc hoàn lưu ba chiều tại khu vực phân lưu.
  2. Mô hình 3D trước đây (Phạm Đức Thắng, 2010) chỉ xét trong mùa lũ khi cống đóng, chưa tính toán cho mùa kiệt khi cống mở lấy nước.
  3. Chưa thiết lập một bộ tiêu chí khoa học định lượng kết hợp giữa thủy lực, hình thái sông và yêu cầu vận hành để định vị chính xác tuyến công trình lấy nước vừa đảm bảo cấp nước mùa kiệt, vừa đảm bảo phân thoát lũ an toàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Lý thuyết dòng phân tầng (dòng dị trọng): Tại khu vực cửa lấy nước bên sông, dòng chảy bị phân nhánh tạo ra gradien vận tốc và gradien nồng độ bùn cát theo phương thẳng đứng và phương ngang. Hệ phương trình cơ bản mô tả dòng chảy phân tầng gồm:
    • Phương trình chuyển động: Mô tả biến thiên động lượng của các lớp chất lưu có mật độ khác nhau dưới tác dụng của trọng lực, gradien áp suất và ứng suất nhớt ma sát.
    • Phương trình liên tục: Bảo toàn khối lượng cho từng pha lỏng và pha bùn cát.
    • Phương trình hoàn lưu của dòng phân tầng: Xác định cấu trúc dòng chảy xoắn ốc (vorticity) tại vùng phân lưu và đoạn sông cong, giải thích sự dịch chuyển của lớp bùn cát đáy về phía cửa lấy nước.
  • Khung phân tích lựa chọn mô hình toán: Sử dụng mô hình toán thủy động lực học ba chiều phi cấu trúc (MIKE 3FM) kết hợp mô hình một chiều mạng lưới sông (MIKE 11). Mô hình 3D giải hệ phương trình Navier-Stokes 3 chiều lớp nước nông phân tầng theo phương thẳng đứng bằng phương pháp thể tích hữu hạn, cho phép mô phỏng chi tiết trường vận tốc và nồng độ bùn cát lơ lửng, bùn cát đáy tại vùng cửa vào.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp khoa học:

  • Phương pháp tiếp cận hệ thống và khảo sát thực địa: Thu thập tài liệu địa hình, địa chất, khí tượng thủy văn đoạn sông Hồng qua Hà Nội; điều tra đo đạc thực tế tình trạng bồi lắng kênh Cẩm Đình – Hiệp Thuận năm 2014 và hiện trạng vận hành các cống Liên Mạc, Xuân Quan, Phù Sa.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý chuỗi số liệu mực nước, lưu lượng, hàm lượng bùn cát mùa kiệt và mùa lũ qua nhiều năm; thống kê số đợt chảy ngược và thiếu hụt cột nước tại các công trình lấy nước.
  • Phương pháp mô hình toán:
    • Thiết lập mô hình MIKE 11 mô phỏng mạng thủy lực và vận chuyển bùn cát mùa kiệt/mùa lũ cho toàn hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình để tạo số liệu biên lưu lượng và mực nước.
    • Thiết lập mô hình MIKE 3FM trên lưới phi cấu trúc linh hoạt (Flexible Mesh) gồm các phần tử tam giác và tứ giác, chia nhiều lớp theo chiều sâu dòng chảy cho đoạn sông Hồng 27 km.
    • Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình với số liệu thực đo: lũ năm 1996, lũ năm 2002; mùa kiệt năm 2001, mùa kiệt năm 2003 và thời đoạn 2003–2004 tại các trạm Thượng Cát, Hà Nội và mặt cắt MC-1.
  • Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, tiếp thu ý kiến chuyên môn của các chuyên gia Viện DHI – Đại học Công nghệ Nanyang (NTU, Singapore) và Trường Đại học Thủy lợi trong việc thiết lập mô hình 3D và xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tài liệu địa hình lòng dẫn sông Hồng đoạn Km30 ÷ Km47+500, bình đồ địa hình cụm công trình đầu mối Cẩm Đình – Hiệp Thuận.
  • Chuỗi số liệu khí tượng thủy văn của 13 trạm khí tượng, 36 trạm đo mưa và các trạm thủy văn Thượng Cát, Hà Nội, Sơn Tây, Ba Thá, Phủ Lý.
  • Tài liệu kỹ thuật, hồ sơ hoàn công và quy trình vận hành cống Liên Mạc, Xuân Quan, Cẩm Đình, Hiệp Thuận, trạm bơm Phù Sa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về công trình lấy nước trên sông

Chương này tổng kết có hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước về CTLN trên sông, đồng thời phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu:

  • Đặc điểm lưu vực sông Đáy: Lưu vực có diện tích khoảng $5.000\text{ }\text{km}^2$, trải dài trên 6 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa). Hướng dốc địa hình từ Tây Bắc xuống Đông Nam: cao trình thượng nguồn Hát Môn dao động $+3,0 \div +10,0\text{ m}$, hạ lưu Như Tân $+0,3 \div +5,0\text{ m}$. Đê tràn Vân Cốc có cao trình $+15,0 \div +17,3\text{ m}$; mặt đê Ngọc Tảo tại K2 đạt $+17,0\text{ m}$, đáy Vực Sanh sâu $-2,0\text{ m}$.
  • Địa chất, địa mạo và thủy văn: Trầm tích lòng sông chủ yếu là cát mịn đến hạt thô, đường kính hạt trung bình đoạn Sơn Tây là $d_{50} = 0,029\text{ mm}$. Tầng chứa nước ngầm có hệ số thấm lớn $K = 5 \cdot 10^{-3}\text{ cm/s}$, mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu $4,5 \div 6,5\text{ m}$. Khí hậu nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình năm $23,3^\circ\text{C} \div 23,5^\circ\text{C}$; lượng mưa mùa hạ chiếm 80% tổng lượng cả năm; mưa 1 ngày lớn nhất đạt $300 \div 550\text{ mm}$, 3 ngày lớn nhất đạt $450 \div 770\text{ mm}$, 5 ngày lớn nhất đạt $500 \div 836\text{ mm}$.
  • Hiện trạng cụm công trình Cẩm Đình – Hiệp Thuận:
    • Cống Cẩm Đình: Cống hở 2 tầng bằng bê tông cốt thép, dài 24 m, gồm 2 khoang lấy nước kích thước $b \times h = 6\text{ m} \times 5\text{ m}$ và 1 khoang thông thuyền rộng $B = 8\text{ m}$. Tầng dưới lấy nước mùa kiệt có cao trình ngưỡng $+3,0\text{ m}$; tầng trên lấy nước mùa lũ có cao trình ngưỡng $+9,5\text{ m}$.
    • Cống Hiệp Thuận: Gồm 2 khoang lấy nước $6\text{ m} \times 5\text{ m}$ và 1 khoang thuyền $B = 8\text{ m}$, cao trình ngưỡng $+2,0\text{ m}$, chiều dài thân cống 36 m, rộng móng 28 m.
    • Kênh dẫn Cẩm Đình – Hiệp Thuận: Dài 11.295 m, mặt cắt hình thang, đáy rộng $B = 22\text{ m}$, cao trình đáy đầu kênh $+3,0\text{ m}$, cuối kênh $+2,0\text{ m}$, lưu lượng thiết kế $Q = 36,24\text{ }\text{m}^3/\text{s}$.
    • Thực trạng bồi lắng: Kênh dẫn thượng lưu cống Cẩm Đình dài 700 m bị bồi lắng trung bình 1,03 m (khảo sát năm 2014), cống hầu như không thể vận hành tự chảy trong mùa kiệt.

Chương 2: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn lựa chọn vị trí lấy nước hợp lý đảm bảo yêu cầu lấy nước mùa kiệt và thoát lũ

Chương 2 tập trung đánh giá nguyên nhân suy giảm khả năng lấy nước của các cống hiện có dọc sông Hồng và thiết lập cơ sở lý thuyết cùng bộ tiêu chí xác định vị trí CTLN:

  • Đánh giá các cống hiện trạng trên địa bàn Hà Nội:
    • Cống Liên Mạc: Nằm tại K53+400 đê hữu sông Hồng, gồm 4 cửa rộng 3 m và 1 cửa âu 6 m, cao trình đáy $+1,0\text{ m}$, $Q_{\text{TK}} = 36,25\text{ }\text{m}^3/\text{s}$, phục vụ tưới 61.000 ha. Mực nước thiết kế tưới thượng lưu $+3,77\text{ m}$, nhưng từ năm 2001 đến 2013 mực nước mùa kiệt thường xuyên thấp hơn thiết kế từ 0,6 đến 1,5 m. Do góc lấy nước quá lớn (khoảng $120^\circ$) và xuất hiện bãi bồi trước cửa, cống bị bồi lấp và xảy ra hiện tượng nước chảy ngược từ sông Nhuệ ra sông Hồng (56 đợt năm 2011).
    • Cống Xuân Quan: Nằm tại bờ tả sông Hồng, gồm 4 cửa $3,5\text{ m}$ và 1 âu $5\text{ m}$, cao trình đáy $-1,0\text{ m}$, $Q_{\text{TK}} = 75\text{ }\text{m}^3/\text{s}$, lấy nước cho hệ thống Bắc Hưng Hải.
    • Trạm bơm Phù Sa: Bị bồi lắng mạnh tại bể hút và kênh dẫn do vận tốc dòng chảy $0,5 \div 1,0\text{ m/s}$ mang theo hàm lượng cát lớn.
  • Bộ tiêu chí kỹ thuật lựa chọn vị trí cửa lấy nước: Tác giả đề xuất bộ tiêu chí định lượng làm cơ sở so chọn vị trí công trình:
Nhóm tiêu chí Các thông số kỹ thuật và yêu cầu cụ thể
Vị trí hình thái sông Đặt tại bờ lõm của đoạn sông cong ổn định, nơi có dòng chủ lưu áp sát bờ, tránh bãi bồi di động và vùng xoáy lắng đọng bùn cát.
Góc lấy nước ($\alpha$) Góc hợp bởi trục kênh dẫn và phương dòng chảy sông chính tối ưu trong khoảng $30^\circ \div 60^\circ$ (tránh các góc tù $>90^\circ$ gây tách dòng).
Cao trình ngưỡng cống Thấp hơn mực nước kiệt thiết kế tối thiểu để đảm bảo khả năng lấy nước tự chảy $Q = 30 \div 100\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ mà không bị bồi lấp ngưỡng.
Kích thước kênh dẫn Chiều rộng đáy kênh $B$ và chiều dài kênh dẫn $L$ phải đảm bảo duy trì vận tốc không gây xói lở bờ kênh nhưng đủ lớn để không lắng đọng bùn cát lơ lửng.
Yêu cầu thoát lũ Đảm bảo khả năng phân lưu thoát lũ từ $500 \div 800\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ (mùa lũ thường) đến $2.500\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ (phân lũ khẩn cấp) không gây ngập úng thượng lưu.

Chương 3: Nghiên cứu lựa chọn vị trí cửa lấy nước vào sông Đáy

Chương 3 trình bày việc thiết lập mô hình, mô phỏng các kịch bản và đề xuất vị trí tối ưu cho cửa lấy nước sông Đáy:

  • Thiết lập và kiểm định mô hình MIKE 3FM:
    • Miền tính toán gồm 27 km sông Hồng qua cửa Đáy, chia lưới tam giác/tứ giác mịn tại khu vực công trình và kênh dẫn.
    • Biên lưu lượng và mực nước được trích xuất từ mô hình mạng thủy lực MIKE 11 toàn hệ thống.
    • Kết quả hiệu chỉnh mô hình thủy lực với trận lũ 1996 và kiểm định với trận lũ 2002; hiệu chỉnh mùa kiệt 2001 và kiểm định mùa kiệt 2003, chuỗi 5 tháng mùa kiệt 2003–2004 (từ 1/12 đến 30/4 năm sau) cho thấy tương quan rất sát giữa mực nước, lưu lượng và lưu lượng bùn cát tính toán so với thực đo tại trạm Thượng Cát, Hà Nội và mặt cắt MC-1.
Thời đoạn tính toán Loại hình dòng chảy Trạm / Vị trí kiểm tra Kết quả đánh giá mô hình
Lũ năm 1996 Dòng lũ lớn Thượng Cát, Hà Nội, MC-1 Hiệu chỉnh thông số thủy lực và lưu lượng bùn cát
Lũ năm 2002 Dòng lũ kiểm định Thượng Cát, Hà Nội, MC-1 Kiểm định thông số vận chuyển bùn cát và mực nước
Kiệt 2001 Dòng chảy kiệt Thượng Cát, Hà Nội Hiệu chỉnh mực nước và lưu lượng kiệt
Kiệt 2003 Dòng chảy kiệt Thượng Cát, Hà Nội Kiểm định chế độ thủy lực kiệt
Kiệt 2003–2004 (1/12–30/4) 5 tháng kiệt liên tục Cửa cống Cẩm Đình Đánh giá khả năng lấy nước và bồi xói lòng dẫn
  • Mô phỏng các kịch bản vị trí lấy nước: Luận án tính toán so sánh 3 vị trí công trình:
    • Vị trí 1 (Cẩm Đình hiện trạng): Cửa cống nằm trong vùng nước quẩn và bãi bồi phát triển mạnh, lưu lượng lấy vào trong 5 tháng mùa kiệt 2003–2004 không đạt yêu cầu thiết kế $30\text{ }\text{m}^3/\text{s}$, kênh dẫn bị bồi lắng sâu.
    • Vị trí 2 (Cẩm Đình mới – dịch về hạ lưu 600 m): Cửa lấy nước đặt tại vị trí bờ lõm có động lực dòng chảy thuận lợi, dòng chủ lưu áp sát mép bờ. Khi mở cống lấy nước với các cấp lưu lượng $Q = 30\text{ }\text{m}^3/\text{s}, 100\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ (mùa kiệt) và $Q = 450\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ kết hợp sông Tích $60\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ (mùa lũ), phân bố trường vận tốc đồng đều, giảm thiểu lắng đọng phù sa trước cửa vào và duy trì ổn định lòng dẫn kênh dẫn.
    • Vị trí 3 (phương án so sánh hạ lưu khác): Điều kiện địa chất và nối tiếp kênh dẫn kém thuận lợi hơn vị trí 2.
  • Đề xuất vị trí và giải pháp công trình:
    • Luận án kiến nghị lựa chọn Vị trí 2 (cách cống Cẩm Đình cũ 600 m về phía hạ lưu) là vị trí hợp lý nhất để xây dựng cụm công trình đầu mối lấy nước sông Đáy.
    • Giải pháp công trình bổ trợ: Xây dựng tuyến cống mới kết hợp âu thuyền; hạ thấp cao trình đáy kênh dẫn; nạo vét lòng dẫn kênh Cẩm Đình – Hiệp Thuận đạt bề rộng $B = 150\text{ m}$; xây dựng hệ thống kè hướng dòng tại bờ hữu sông Hồng để ổn định luồng chủ lưu.
    • Giải pháp phi công trình: Phối hợp quy trình vận hành liên hồ chứa thượng nguồn (Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang) xả tăng cường lưu lượng trong các đợt đổ ải vụ Đông Xuân; lập kế hoạch nạo vét định kỳ bùn cát trước mùa kiệt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Thiết lập cơ sở khoa học về động lực học dòng chảy ba chiều phân tầng (dòng dị trọng) và hoàn lưu ngang tại khu vực cửa lấy nước bên sông chịu ảnh hưởng của bồi lắng bùn cát.
  2. Xây dựng bộ tiêu chí khoa học định lượng (gồm hình thái sông, góc lấy nước, cao trình ngưỡng, kích thước kênh dẫn và tương quan thủy lực bùn cát) phục vụ công tác quy hoạch và thiết kế các công trình lấy nước trên sông đồng bằng có chế độ mực nước biến đổi mạnh.
  3. Ứng dụng thành công chuỗi mô hình tích hợp 1D (MIKE 11) và 3D phi cấu trúc (MIKE 3FM) trong việc mô phỏng chi tiết trường vận tốc ba chiều và diễn biến bồi xói đáy sông vùng phân lưu cửa Đáy.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Làm rõ nguyên nhân gây bồi lắng nghiêm trọng và mất khả năng lấy nước mùa kiệt của cống Cẩm Đình hiện trạng (do góc lấy nước không phù hợp, đặt trong vùng bãi bồi và dòng chủ lưu lệch xa bờ).
  2. Đề xuất vị trí hợp lý để xây dựng cửa lấy nước mới vào sông Đáy (tại Vị trí 2, cách cống cũ 600 m về phía hạ lưu), đáp ứng yêu cầu cấp nước thường xuyên mùa kiệt ($30 \div 100\text{ }\text{m}^3/\text{s}$), mùa lũ ($500 \div 800\text{ }\text{m}^3/\text{s}$) và đảm bảo an toàn phân lũ tối đa $2.500\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ theo Nghị định 04/2011/NĐ-CP.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả lấy nước mùa kiệt và tăng cường năng lực thoát lũ cho cụm công trình đầu mối sông Đáy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Phạm vi mô hình 3D chi tiết tập trung chủ yếu trên đoạn sông Hồng dài 27 km (Km30 đến Km47+500), chưa mở rộng mô phỏng 3 chiều cho toàn bộ chiều dài sông Đáy đến Ba Thá và Phủ Lý.
    • Tài liệu đo đạc thực tế về phân bố độ đục và hàm lượng bùn cát lơ lửng theo các tầng độ sâu trong các đợt kiệt còn hạn chế, chủ yếu dựa vào số liệu quan trắc tại các trạm thủy văn chính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu chi tiết hơn về kết cấu công trình chỉnh trị ngầm và ngưỡng chắn cát phân tầng tại cửa vào cống mới để kiểm soát bùn cát đáy xâm nhập vào kênh dẫn.
    • Cập nhật kịch bản vận hành liên hồ chứa thượng nguồn sông Hồng theo các quy trình vận hành liên hồ mới nhất để tối ưu hóa thời gian mở cống lấy nước.

Giá trị tham khảo

Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực chuyên môn:

  • Cơ quan quản lý và quy hoạch (Bộ Nông nghiệp và PTNT, Viện Quy hoạch Thủy lợi, Sở NN&PTNT Hà Nội): Sử dụng các số liệu tính toán và vị trí đề xuất để lập dự án đầu tư xây dựng, cải tạo cụm công trình đầu mối Hát Môn – Đập Đáy và nạo vét lòng dẫn sông Đáy theo Nghị định 04/2011/NĐ-CP.
  • Đơn vị tư vấn thiết kế công trình thủy lợi: Tham khảo bộ tiêu chí kỹ thuật và phương pháp xác định góc lấy nước, cao trình ngưỡng và mặt cắt kênh dẫn để áp dụng cho các dự án công trình lấy nước dọc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và các sông đồng bằng khác.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Thủy văn, Kỹ thuật tài nguyên nước, Xây dựng công trình thủy: Tham khảo phương pháp luận ứng dụng mô hình số trị 3 chiều MIKE 3FM kết hợp mô hình 1 chiều MIKE 11 trong việc giải quyết các bài toán thủy động lực học sông ngòi phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao cống Cẩm Đình hiện trạng không lấy được nước trong mùa kiệt?

Cống Cẩm Đình được thiết kế với lưu lượng kiệt $Q_{\text{TK}} = 36,24\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ và cao trình ngưỡng đáy tầng kiệt $+3,0\text{ m}$. Tuy nhiên, mực nước sông Hồng trong mùa kiệt những năm gần đây hạ thấp sâu (năm 2010 tại Hà Nội xuống tới $+0,1\text{ m}$), khiến cột nước trước cống không đủ để tự chảy. Thêm vào đó, vị trí cống hiện trạng nằm ở vùng dòng chảy có xu thế tách xa bờ, tạo bãi bồi lắng đọng phù sa trước cửa vào; kết quả khảo sát năm 2014 cho thấy kênh thượng lưu cống bị bồi cao trung bình 1,03 m, làm tắc nghẽn luồng dẫn nước.

2. Nghị định số 04/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định các chỉ tiêu cấp nước và phân lũ vào sông Đáy như thế nào?

Nghị định quy định việc xóa bỏ khu phân chậm lũ trên lưu vực sông Đáy và cải tạo lòng dẫn để chủ động đưa nước thường xuyên từ sông Hồng vào sông Đáy với các mức lưu lượng:

  • Mùa kiệt: từ $30\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ đến $100\text{ }\text{m}^3/\text{s}$.
  • Mùa lũ: từ $500\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ đến $800\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ (lưu lượng thường xuyên).
  • Phân lũ khẩn cấp: sử dụng sông Đáy làm cầu chì chuyển lưu lượng tối đa $2.500\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ từ sông Hồng sang sông Đáy để bảo vệ an toàn cho thủ đô Hà Nội khi mực nước sông Hồng vượt mức thiết kế.

3. Vị trí cửa lấy nước mới được luận án đề xuất nằm ở đâu và có ưu điểm gì so với vị trí cũ?

Luận án đề xuất xây dựng cửa lấy nước tại Vị trí 2, cách vị trí cống Cẩm Đình cũ khoảng 600 m về phía hạ lưu. Vị trí này nằm sát bờ lõm của đoạn sông cong ổn định, nơi có dòng chủ lưu áp sát bờ hữu, vận tốc dòng chảy lớn giúp hạn chế bồi lắng phù sa trước cửa cống, đảm bảo điều kiện lấy đủ lưu lượng mùa kiệt $30 \div 100\text{ }\text{m}^3/\text{s}$ và thuận lợi cho việc kết nối tuyến phân lũ mùa lũ.

4. Luận án đã sử dụng những mô hình toán nào và kiểm định trên chuỗi số liệu thủy văn nào?

Luận án sử dụng mô hình thủy lực 1 chiều MIKE 11 để mô phỏng toàn mạng lưới sông Hồng – Thái Bình nhằm cung cấp số liệu biên, kết hợp mô hình 3 chiều phi cấu trúc MIKE 3FM để tính toán thủy động lực và bùn cát chi tiết trên đoạn sông Hồng 27 km qua cửa Đáy. Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định qua số liệu thực đo của các trận lũ năm 1996, 2002 và các mùa kiệt năm 2001, 2003, chuỗi kiệt 5 tháng liên tục 2003–2004 (từ 1/12 đến 30/4 năm sau).

5. Hiện tượng nước chảy ngược tại cống Liên Mạc được luận án ghi nhận có diễn biến ra sao?

Tại cống Liên Mạc (K53+400 đê hữu sông Hồng), do mực nước sông Hồng hạ thấp sâu và góc lấy nước của cống quá lớn (khoảng $120^\circ$), cống không thể lấy nước tự chảy mà còn xuất hiện hiện tượng nước chảy ngược từ sông Nhuệ ra sông Hồng: năm 2009 có 2 đợt, năm 2010 có 1 đợt và năm 2011 xuất hiện 56 đợt chảy ngược liên tục vào các tháng đầu năm, làm mất hoàn toàn khả năng cấp nước tưới cho 61.000 ha đất canh tác.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Khắc Thạc đã giải quyết thành công bài toán khoa học và thực tiễn về xác định vị trí cửa lấy nước hợp lý vào sông Đáy trên cơ sở ứng dụng lý thuyết dòng phân tầng và mô hình số trị ba chiều MIKE 3FM kết hợp MIKE 11. Công trình đã làm rõ nguyên nhân bồi lấp, mất khả năng cấp nước của cống Cẩm Đình hiện trạng, đồng thời đề xuất vị trí xây dựng công trình lấy nước mới cách vị trí cũ 600 m về phía hạ lưu cùng bộ tiêu chí kỹ thuật định lượng có độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện Nghị định 04/2011/NĐ-CP nhằm khôi phục dòng chảy sông Đáy, bảo đảm an ninh nguồn nước mùa kiệt và an toàn phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội.