CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ TUYẾN GIÁP 1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý tuyến giáp Tuyến giáp là một tuyến nội tiết lớn nhất trong cơ thể, trọng lượng khoảng 12 - 20 gam. Tuyến giáp có 2 thùy: thùy phải và thùy trái, nối với nhau bởi eo giáp.
Đôi khi có thêm thùy tháp, nằm lệch sang trái so với đường giữa và nối với xương móng bằng một dải xơ, là dấu vết của ống giáp lưỡi. Cấu trúc vi thể tuyến giáp: được tạo bởi các nang tuyến, cấu tạo bởi các tế bào biểu mô tuyến, xếp thành nang và ngoài cùng là lớp vỏ xơ bao bọc, đó là bao tuyến. Nang tuyến là đơn vị hoạt động chức năng của tuyến giáp. Tuyến giáp có hệ thống mạng lưới lympho phong phú, khi tổ chức tuyến giáp bị ung thư, tế bào ung thư dễ dàng di căn vào hệ hạch cổ [39.
Tuyến giáp được cố định bởi: bao tạng dính chặt tuyến giáp vào khung thanh quản. Dây chằng treo trước từ mặt giữa trên của mỗi thùy tới sụn giáp và sụn nhẫn. Mặt sau giữa dính vào cạnh của sụn nhẫn, vòng khí quản thứ nhất và thứ hai bởi dây chằng Berry. Thần kinh quặt ngược, mạch máu, tổ chức liên kết cũng tham gia vào cố định tuyến giáp.
Tế bào biểu mô tuyến giáp tiết ra hormon là Thyroxin (T4) và Triiodo- thyronine (T3). 2 loại hormon này có chức năng tăng hoạt động chuyển hóa của tế bào, tăng tốc độ các phản ứng hóa sinh, tăng sử dụng oxy, chuyển hóa cơ sở, phát triển cơ thể, trí tuệ và biệt hóa tổ chức, làm tăng quá trình tổng hợp, đồng hóa protein, tác dụng lên chuyển hóa lipid, glucid, có tác dụng ảnh hưởng đến hệ tim mạch, tiêu hóa, xương khớp, thần kinh. Các tế bào cận nang tiết ra calcitonin làm tăng lắng đọng canxi ở xương và tăng hấp thu canxi ở thận, do đó làm giảm canxi trong máu [14. Chức năng chính của nội tiết tố tuyến giáp là phát triển cơ thể và biệt hoá 3 Luan van tổ chức thông qua việc làm cho sụn liên hợp chuyển thành xương, thúc đẩy sự trưởng thành, phát triển của não trong thời kỳ bào thai và trong những năm đầu sau khi sinh.
Tham gia vào quá trình điều hoà chuyển hoá của tế bào, điều hoà thần kinh giao cảm, phó giao cảm, điều hoà thân nhiệt, nhịp tim. Bệnh nhân cường giáp có biểu hiện tăng chuyển hoá: tăng thân nhiệt, ra mồ hôi nhiều, tim đập nhanh, tăng nhu động dạ dày - ruột, teo cơ. Hệ thần kinh bị kích thích: bồn chồn, mất ngủ, dễ bị xúc cảm, tay chân run. Hoạt động của tuyến giáp được duy trì bình thường nhờ cân bằng hoạt động của trục dưới đồi (hypothalamus), thùy trước tuyến yên và tuyến giáp.
TRH (thyrotropin releasing hormone) tiết ra từ dưới đồi, sẽ tác dụng kích thích tuyến yên và bị kìm hãm bởi cơ chế ngược của nội tiết tố tuyến giáp. Hệ thống nội tiết - thần kinh cũng tác động tới chức năng tuyến giáp. TSH kích thích tổng hợp, giải phóng các hormon T3, T4 vào máu ngoại vi và kích thích tế bào tuyến phát triển. Tăng tiết TSH quá mức sẽ dẫn đến tăng kích thước tuyến giáp (sinh bướu).
Bệnh lý ung thư tuyến giáp UTTG là bệnh ung thư phổ biến nhất của hệ nội tiết (chiếm 90%), tỷ lệ tử vong chiếm 63% trong số tử vong do ung thư tuyến nội tiết. Trong toàn bộ các loại ung thư thì UTTG chiếm 1% [16. Tần suất mắc bệnh giữa các vùng có khác nhau. Tỷ lệ mắc bệnh ở Mỹ là 3,3/100.000 dân ở nữ giới, ở Hawaiian là 9,1/100.000 dân ở nữ giới, ở Việt Nam là 10,5/100.000 dân ở nữ giới, ở Philippin là 14,6/100.000 dân ở nữ giới.
Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất từ 30 - 45 [39. Tỷ lệ mắc UTTG có xu hướng tăng nhanh. Ở Mỹ, năm 2001 có 9500 bệnh nhân mới mắc UTTG và 1300 bệnh nhân chết, năm 2007 có 33.550 người được chẩn đoán UTTG và có 1530 người chết vì bệnh này [25. Các yếu tố nguy cơ ung thư tuyến giáp Hiện nay, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của UTTG còn cần phải nghiên cứu tìm hiểu kỹ thêm, một số yếu tố nguy cơ gây UTTG thường được đề cập tới: Bệnh nhân có tiền sử chiếu xạ điều trị các bệnh vùng đầu cổ, tuyến giáp trẻ em bị chiếu xạ có nguy cơ cao UTTG, thường là loại biệt hoá rõ, hầu hết là thể nhú [50.
Bệnh nhân sử dụng 131I để chẩn đoán, điều trị ít thấy có nguy cơ bị ung thư hoá. Sau sự cố Chernobyl tại Ukraina (1986) hay sau vụ bom nguyên tử của Mỹ ở Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản), người ta thấy trong vùng có iốt phóng xạ và một số đồng vị phóng xạ ngắn này tăng cao đã gây ra UTTG ở trẻ em dưới 10 tuổi. Nguy cơ UTTG phụ thuộc vào tuổi và liều phóng xạ, nếu liều chiếu xạ càng cao thì nguy cơ UTTG càng tăng [6. Bệnh tăng theo thời gian ở cả 2 giới, gặp ở nữ nhiều hơn nam, nhất là ở thời kỳ có thai [60.
Người sống lâu năm ở vùng có bướu cổ địa phương, UTTG dễ phát triển trên nền một bướu giáp, đặc biệt bướu nhân và bướu hỗn hợp (80 - 90%). Thiếu iốt và bướu giáp địa phương phối hợp tăng các yếu tố nguy cơ carcinoma tuyến giáp và sarcoma mạch. Bệnh nhân sống gần biển, có đủ hàm lượng iốt trong lương thực thực phẩm, khi có u đơn nhân giáp trạng thì dễ bị UTTG hơn so với nơi thiếu iốt. Có tới trên 80% UTTG biệt hoá và trong số đó 60 - 80% thể nhú [14.
Khoảng 20 - 50% UTTG thể tủy là do di truyền hoặc do một loại gen bất thường gây ra, gia đình có người mắc bệnh nội tiết. UTTG thể nhú ở bệnh nhân viêm tuyến giáp Hashimoto, gia đình có người bị UTTG [50. Tiến bộ về sinh học phân tử đã làm sáng tỏ cơ chế bệnh sinh UTTG. Những biến đổi mang tính trội trên nhiễm sắc thể của các chromosomes trên các gen 10q11- q12 và 1q32 - q41 có liên quan đến bệnh sinh UTTG.
Những đột biến điểm kích hoạt gen RAS gặp nhiều trong adenoma tuyến giáp và carcinoma thể nang. Sự phát 5 Luan van triển UTTG thể nang trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, sự hoạt hoá các gen RET/D10S170 có thể kích thích tăng sinh tế bào biểu mô của các nang, tạo thành nhân giáp lành tính, đến một lúc nào đó có thể bị ung thư [14. Phân loại mô bệnh học ung thư tuyến giáp Theo tổ chức Y tế thế giới (1988) [16.], mô bệnh học UTTG được chia ra: - UTTG thể nhú (papillary thyroid cancer - PTC) hay gặp nhất, chiếm 60 - 80% các loại UTTG, thường gặp ở những người dưới 40 tuổi, kể cả trẻ em, chủ yếu là nữ giới, tiến triển chậm, tiên lượng tốt. Khi phẫu tích tử thi người ta còn phát hiện thấy một tỷ lệ có PTC vi thể, thường là những tổn thương rất nhỏ, khó nhận biết trên lâm sàng.
Tỷ lệ sống 10 năm khoảng 95%, ở Mỹ thời gian gần đây tỷ lệ này lên đến 98%. PTC thường là nhiều ổ, xâm lấn trong tuyến giáp hoặc ra ngoài tuyến. Đặc điểm tế bào học là có nhân dính, hình thành các cấu trúc gai, có xu thế phát triển theo hệ bạch huyết, có thể di căn xa vào phổi và xương [8. - UTTG thể nang (follicular thyroid cancer - FTC) ít gặp hơn, chiếm khoảng 10 - 20% tổng số bệnh nhân UTTG.
Bệnh thường gặp ở người đứng tuổi, nữ nhiều hơn nam. Bệnh gặp nhiều hơn ở vùng thiếu hụt iốt và có bướu cổ lưu hành. Bệnh cũng tiến triển chậm như thể nhú, giai đoạn cuối hay di căn theo đường máu đến xương (nhiều khi gãy xương là triệu chứng đầu tiên), phổi và hệ thần kinh trung ương [ 8. Di căn theo đường bạch huyết vào thuỳ bên của tuyến giáp, vào các hạch bạch huyết vùng cổ.
Tiên lượng xấu hơn PTC. Có khoảng 20% UTTG thể hỗn hợp nhú - nang, tiến triển chậm, tiên lượng gần như thể nhú[19]. - Ung thư tế bào Hurthle: thường được xếp vào cùng với ung thư thể nang, nhưng đó là một loại tế bào khác. U tế bào Hurthle cũng có u lành tính và u ác tính.
Có khi phải chờ vài ngày sau phẫu thuật làm xét nghiệm tiêu bản để thấy rõ có xâm lấn hay không mới xác định ác tính 6 Luan van hay lành tính. Ung thư tế bào Hurthle thường xảy ra ở người lớn tuổi; tuổi trung bình của bệnh nhân là 55, cao hơn 10 tuổi so với bệnh nhân ung thư thể nang. Ung thư tế bào Hurthle ít khi lan ra hạch bạch huyết (10%) nhưng có thể tái phát tại chỗ và di căn vào phổi hoặc xương[19]. - UTTG thể tủy (medullary thyroid cancer- MTC): chiếm 5 -10% trong số bệnh nhân UTTG.
Biểu hiện của bệnh là một nhân giáp ở tuyến giáp, thường phối hợp với các bệnh lý hạch bạch huyết. Đó là khối u có nhiều tế bào hình thoi và ít dính với nhau. Bệnh thường có liên quan tới gia đình (25%), thường trong gia đình có những người bị tân sinh đa nội tiết (multiple endocrine neoplasia - MEN 2A hoặc 2B) và những hội chứng gia đình khác (non MEN). UTTG thể tủy có thể tiết ra calcitonin và các chất peptide khác.
Định lượng calcitonin rất có ích cho chẩn đoán và theo dõi kết quả điều trị. Bằng phương pháp định lượng miễn dịch phóng xạ, có thể phát hiện calcitonin tăng cao khi chưa sờ nắn thấy nhân giáp. Nhân giáp còn tiết ra nhiều chất khác như: histamin, serotonin, prostaglandin. Bệnh nhân thường bị đau đầu và ỉa lỏng.
Bệnh tiến triển chậm, tỷ lệ tồn sinh trong 10 năm là 50 - 65%. Những yếu tố tiên lượng xấu bao gồm: tuổi già, giai đoạn muộn, có phối hợp với MEN 2B[19]. Những thành viên trong gia đình cần phải được kiểm tra lượng calcitonin và những đột biến về RET protooncogene để phát hiện bệnh. Kiểm tra những đột biến về RET bằng kiểm định ADN là chắc chắn hơn việc định lượng calcitonin.
Nếu những thành viên trong gia đình có dấu hiệu về đột biến gen đó thì nên phẫu thuật tuyến giáp sớm để dự phòng. - UTTG không biệt hoá: chiếm khoảng 15% các trường hợp UTTG, thường xảy ra ở người cao tuổi (từ 70 - 80). Bệnh xuất hiện với một nhân giáp to nhanh, thường kèm theo khàn giọng, khó nuốt, khó thở. Carcinoma tế bào vảy và carcinosarcoma có thể coi như biến thể của ung thư biểu mô không biệt hoá.
Về mô học có 2 loại: loại tế bào nhỏ và loại 7 Luan van tế bào khổng lồ. Loại tế bào khổng lồ có độ ác tính cao nhất, khoảng 50% bệnh nhân tử vong trong 6 tháng.