Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học với đề tài "Vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Nhâm thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (trong văn bản ghi: Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Nguyễn Đình Tấn, bảo vệ năm 2014, mã số chuyên ngành 62 31 30 01.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Truyền thông đại chúng (TTĐC) đóng vai trò vừa là động lực, vừa là công cụ tổ chức, quản lý và nâng cao dân trí trong xã hội; tạo tương tác xã hội, hình thành các liên kết xã hội, hướng dẫn và định hướng nhận thức, thái độ và hành vi cho công chúng. Trong xã hội thông tin, TTĐC (với trung tâm là báo chí) trở thành một tác nhân xã hội hóa không chính thức quan trọng. Tại Việt Nam, TTĐC được Đảng và Nhà nước ưu tiên sử dụng cho công tác tuyên truyền bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt sau khi Việt Nam ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) ngày 20-02-1990 (quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn) và ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2004).

Tuy nhiên, thực tế cho thấy tình trạng vi phạm quyền trẻ em vẫn diễn biến phức tạp với các hành vi như bạo hành, xâm hại tình dục, lao động sớm, thiếu chăm sóc sức khỏe. Về phía các phương tiện truyền thông, bên cạnh các tác động tích cực trong việc phanh phui các vụ bạo hành và kêu gọi trợ giúp cộng đồng, hoạt động truyền thông về quyền trẻ em vẫn tồn tại nhiều bất cập: tuyên truyền chưa thấu đáo dẫn đến nhận thức sai lệch, một số trường hợp lạm dụng hình ảnh, câu chuyện trẻ em nhằm mục đích giật gân, câu khách, thu hút quảng cáo hoặc thương mại hóa.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Ở Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu vận dụng lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng, thuyết kiến tạo xã hội và lý thuyết vai trò xã hội để đánh giá một cách toàn diện quá trình truyền thông về quyền trẻ em, đo lường sự tương tác giữa vai trò kỳ vọng của công chúng và vai trò thực tế của báo chí tại một địa bàn cụ thể vẫn chưa được tiến hành đầy đủ và có hệ thống. Quyền trẻ em dưới góc nhìn xã hội học truyền thông vẫn là một lĩnh vực còn bỏ ngỏ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận, từ đó phân tích thực trạng vai trò của các phương tiện TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay và đề xuất các giải pháp tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
    1. Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
    2. Thứ hai: Phân tích thực trạng vai trò của các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay.
    3. Thứ ba: Phân tích các nhân tố tác động đến vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay; đưa ra các dự báo xu hướng biến đổi vai trò.
    4. Thứ tư: Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em trong thời gian tới.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu:

  1. TTĐC có vai trò gì để thúc đẩy tiến trình thực hiện quyền trẻ em?
  2. Người dân đánh giá thế nào về vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em?
  3. Nhân tố nào tác động đến vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em?
  4. Vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em có xu hướng biến đổi ra sao?
  5. Cần làm gì để tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em khi vai trò của TTĐC ngày càng được khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa, dân chủ hóa đời sống xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 nội dung:

  • Giả thuyết 1: TTĐC thực hiện được vai trò vận động, khuyến khích và được công chúng đánh giá cao nhất. Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục được thực hiện tốt hơn vai trò giám sát. Vai trò giám sát không thực hiện tốt bằng vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. TTĐC thực hiện vai trò giải trí cho trẻ em hạn chế nhất.
  • Giả thuyết 2: Việc thực hiện các vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em phụ thuộc vào đặc điểm nhân khẩu xã hội, nhận thức, thái độ về quyền trẻ em và hành vi tác nghiệp của cán bộ truyền thông.
  • Giả thuyết 3: Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em bị chi phối bởi tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức của cơ quan truyền thông, các hoạt động truyền thông cũng như chính sách về TTĐC, quyền trẻ em và vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em và điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong việc thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay.
  • Khách thể nghiên cứu: Các cơ quan TTĐC của tỉnh được lựa chọn nghiên cứu; cán bộ truyền thông thuộc các cơ quan TTĐC được nghiên cứu; công chúng người lớn và công chúng trẻ em trên địa bàn khảo sát.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Bình Phước. Địa bàn khảo sát chọn 4 đơn vị cấp huyện đại diện cho các mức độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau: thị xã Đồng Xoài (trung tâm kinh tế - xã hội phát triển), huyện biên giới mới thành lập Bù Gia Mập (đặc biệt khó khăn), huyện miền núi Bù Đăng (còn nhiều khó khăn), huyện Đồng Phú (đang phát triển khá mạnh). Tại mỗi huyện/thị chọn 2 xã/phường/thị trấn (tổng số 8 đơn vị cơ sở gồm: xã Tân Thành và phường Tân Phú thuộc thị xã Đồng Xoài; xã Tân Lợi và thị trấn Tân Phú thuộc huyện Đồng Phú; xã Thọ Sơn và thị trấn Đức Phong thuộc huyện Bù Đăng; xã Phú Riềng và xã Long Hà thuộc huyện Bù Gia Mập).
  • Phạm vi loại hình truyền thông: Khảo sát 4 loại hình báo chí thuộc tỉnh (báo in, truyền hình, phát thanh, báo mạng điện tử) và hệ thống truyền thanh cấp huyện. Cụ thể gồm: Báo Bình Phước (báo in và báo điện tử); Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; 4 Đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu thực địa tiến hành trong giai đoạn 2010 - 2013. Thời gian chọn mẫu phân tích sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012 (bao gồm tháng 6 là Tháng hành động vì trẻ em, tháng 7 và tháng 8 là tháng hè, tháng 9 là đầu năm học mới, tháng 10 có Tết Trung thu).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Tác giả phân loại và điểm luận các nghiên cứu quốc tế theo các nhánh học thuyết và thực nghiệm:

  • Tiếp cận chức năng luận và vai trò xã hội của truyền thông: Max Weber luận chứng về phương pháp luận của xã hội học báo chí, phân tích yêu cầu xã hội đối với nhà báo và hiệu quả báo chí trong việc xây dựng con người. Robert K. Merton phân định chức năng công khai, chức năng tiềm ẩn và hiệu quả thực sự của TTĐC. Harold Lasswell đề xuất mô hình truyền thông 5W (Ai nói, Nói cái gì, Qua kênh nào, Cho ai, Hiệu quả ra sao) và 3 chức năng: kiểm soát môi trường xã hội, liên kết các bộ phận xã hội, truyền tải di sản xã hội. Charles Wright bổ sung chức năng giải trí. Daniel Lerner luận giải sự chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang hiện đại gắn liền với sự chuyển dịch từ truyền thông miệng sang TTĐC. Elisabeth Noelle-Neumann và Hertog nhấn mạnh TTĐC là công cụ kiểm soát xã hội qua áp lực dư luận. Michael Schudson xác định 7 vai trò của hệ thống truyền thông phục vụ nền dân chủ. Theodore Peterson phát triển lý thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí với 6 trách nhiệm và 5 đòi hỏi từ xã hội.
  • Hiệu ứng truyền thông và sự bất bình đẳng xã hội: Tichenor và đồng nghiệp đưa ra giả thuyết "hố chênh lệch kiến thức" (Knowledge Gap Hypothesis), chỉ ra tầng lớp có vị thế kinh tế - xã hội cao tiếp nhận thông tin nhanh và nhiều hơn, làm giãn rộng khoảng cách xã hội. J. Klapper nhận định truyền thông củng cố thái độ có sẵn hơn là làm thay đổi căn bản, hiệu quả phụ thuộc vào uy tín nguồn phát và mạng lưới quan hệ của người nhận. Jock Young chỉ ra vai trò của truyền thông trong việc phóng đại hình ảnh tội phạm và định kiến xã hội. Lý thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger được ứng dụng để xem xét cách truyền thông kiến tạo hiện thực. Newbold và cộng sự, tổ chức Children Now (Mỹ) nghiên cứu tác động của hình ảnh truyền thông đến nhận thức về giới và quyền lực. McCombs và Shaw nghiên cứu chức năng "Thiết lập chương trình nghị sự" (Agenda-Setting).
  • Cơ chế vận hành và tiếp nhận truyền thông: Cơ chế "người gác cổng" (gate-keeping) kiểm soát dòng tin tức dưới áp lực của thể chế chính trị, kinh tế và đạo đức nghề nghiệp; Michael de Coster xem thông điệp là sự thỏa hiệp giữa tác giả và người sản xuất; Paul Lazarsfeld, Berelson, Gaudet và Katz nghiên cứu vai trò của thủ lĩnh dư luận và dòng chảy truyền thông hai bước; Greg Philo phân tích vai trò của nền tảng văn hóa và kinh nghiệm cá nhân trong việc giải mã thông điệp.
  • Các nghiên cứu thực nghiệm về truyền thông và trẻ em tại châu Á: Báo cáo "Children in the news" do Anura Goonasekera chủ biên khái quát: dù trẻ em chiếm khoảng 40% dân số các nước châu Á, dung lượng truyền thông dành cho trẻ em rất nhỏ, chủ yếu vì mục đích thương mại, nội dung thiên về giật gân, bi thảm hóa, thiếu sự đào tạo chuyên sâu cho người làm truyền thông. Ubonrat Siriyuvasak và Metta Vivattananukul nghiên cứu tại Thái Lan chỉ ra việc truyền thông bóp méo hình ảnh trẻ em, vi phạm quyền riêng tư và bỏ rơi trẻ em nông thôn. Toshiko Miyazaki nghiên cứu tại Nhật Bản cảnh báo việc kịch tính hóa bạo lực liên quan đến trẻ em dẫn đến tình trạng công chúng bị chai lì cảm xúc. Helena Thorfinn đề xuất khung 3 chữ P (Protection - Bảo vệ, Provision - Cung cấp, Participation - Tham gia), đồng thời phê phán sự định kiến, rập khuôn trong việc phản ánh hình ảnh trẻ em trên báo chí.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các công trình xã hội học truyền thông tập trung vào các hướng:

  • Lý luận về vai trò, chức năng của thiết chế TTĐC: Mai Quỳnh Nam tiếp cận TTĐC như một thiết chế xã hội cơ bản có chức năng chuẩn mực hóa, tạo dựng khuôn hình văn hóa, thiết lập dư luận xã hội; phân tích tác động hai chiều từ hệ thống pháp luật/cơ quan quản lý và từ công chúng; xác định các rào cản khiến thông tin không chuyển hóa trực tiếp thành hành vi (hiệu ứng không diễn ra theo kiểu "truyền máu"). Lê Thanh Bình khái quát 10 vai trò của TTĐC trong đời sống xã hội. Đỗ Chí Nghĩa nhấn mạnh chức năng thông tin là nền tảng cốt lõi chi phối các chức năng giáo dục, giám sát, giải trí. Trương Xuân Trường xác lập 4 dấu hiệu nhận diện vai trò TTĐC.
  • Phương pháp phân tích nội dung định lượng trong xã hội học: Các công trình của Nguyễn Hồng Thái, Mai Quỳnh Nam, Phạm Hương Trà ứng dụng kỹ thuật mã hóa và phân tích thông điệp truyền thông nhằm lượng hóa các chiều kích nội dung xã hội.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy: các công trình quốc tế chủ yếu phân tích bối cảnh truyền thông thương mại hóa ở các nước phát triển hoặc các quốc gia Đông Nam Á có thể chế truyền thông khác biệt; các nghiên cứu trong nước phần lớn dừng ở việc phân tích chức năng báo chí nói chung hoặc lồng ghép lý luận vào các đề tài diện rộng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát thực nghiệm có hệ thống vai trò của TTĐC đối với việc thực hiện quyền trẻ em tại một tỉnh miền núi, biên giới (Bình Phước), đồng thời bao quát cả 4 loại hình báo chí và kênh truyền thanh cấp huyện, kết hợp phân tích nội dung thông điệp truyền thông với điều tra xã hội học trên cả hai nhóm công chúng (người lớn và trẻ em) cùng đội ngũ cán bộ truyền thông.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: Luận chứng TTĐC thuộc kiến trúc thượng tầng, vận hành trên nền tảng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhất định và có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng thông qua việc điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của các nhóm xã hội.
  2. Mô hình truyền thông chu kỳ của Roman Jakobson: Xem xét truyền thông là một chu kỳ tương tác đa chiều có sự tham gia của các yếu tố nguồn phát, thông điệp, kênh truyền, người nhận, bối cảnh và mã hóa/giải mã, khắc phục sự thụ động của mô hình 5W tuyến tính một chiều.
  3. Thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger: Xem truyền thông đại chúng là tác nhân chủ chốt tham gia kiến tạo thực tại xã hội; các thông điệp truyền thông định hình khuôn mẫu tư duy, giá trị chuẩn mực và nhận thức của công chúng về quyền trẻ em.
  4. Lý thuyết trung gian về vai trò - tập hợp của Robert K. Merton: Phân tích sự tương tác giữa "vai trò kỳ vọng" của công chúng và "vai trò thực tế" của các cơ quan báo chí trong thực hiện quyền trẻ em.
  5. Cách tiếp cận dựa trên quyền (Rights-based approach): Căn cứ theo Công ước CRC và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, phân loại quyền trẻ em thành 4 nhóm quyền cơ bản (quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển, quyền được tham gia) để đánh giá nội dung truyền thông.

Khung phân tích và hệ thống biến số

Khung phân tích của luận án kết nối 3 nhóm biến số:

  • Biến số độc lập: Đặc điểm cơ quan truyền thông (tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức hoạt động); Hoạt động truyền thông về trẻ em (loại hình truyền thông, thời điểm truyền thông); Đặc điểm xã hội của cán bộ truyền thông (nhân khẩu xã hội, trình độ chuyên môn, nhận thức, thái độ về quyền trẻ em, hành vi tác nghiệp).
  • Biến số phụ thuộc: Việc thực hiện các vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em gồm 4 nhóm vai trò chính: 1) Thông tin, tuyên truyền, giáo dục; 2) Hình thành và thể hiện dư luận xã hội; 3) Vận động, khuyến khích; 4) Giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em; bên cạnh vai trò giải trí cho trẻ em.
  • Biến số can thiệp: Hệ thống chính sách, pháp luật về TTĐC và quyền trẻ em (Công ước CRC, văn bản luật); Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương (dân trí, tập quán, địa bàn biên giới, thành phần dân tộc).
  • Chỉ báo đo lường vai trò: Đo bằng số lượng và tỷ lệ sản phẩm truyền thông thể hiện vai trò qua phân tích thông điệp; đo bằng chất lượng nội dung, hình thức thể hiện (ưu điểm, hạn chế); đo bằng mức độ hài lòng, mức độ ứng dụng và ý kiến đánh giá của công chúng.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

  1. Phân tích nội dung định lượng (Content Analysis):
    • Xây dựng bộ công cụ phiếu mã hóa thông điệp truyền thông về đề tài trẻ em trên các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước.
    • Quy mô khảo sát: 1.222 sản phẩm truyền thông đăng phát từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012 trên Báo Bình Phước (in và điện tử), Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước, 4 đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện (Đồng Xoài, Bù Đăng, Đồng Phú, Bù Gia Mập). Dữ liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS.
  2. Phỏng vấn tiêu chuẩn bằng bảng hỏi cấu trúc:
    • Mẫu công chúng người lớn: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống tại 8 xã, phường thuộc 4 huyện/thị (tổng quy mô dân số của 8 địa bàn là N = 19.088 người; hệ số tin cậy t = 1,96 tương ứng độ tin cậy 95%; sai số cho phép d = 4%). Tiêu chí chọn mẫu là cha/mẹ trong gia đình có trẻ em và có theo dõi các chương trình về trẻ em của truyền thông địa phương. Tổng số phát ra là 582 phiếu; số phiếu đạt yêu cầu hợp lệ là 535 phiếu (đạt tỷ lệ 91,9%).
    • Mẫu công chúng trẻ em (từ 12 đến dưới 16 tuổi): Tổng thể học sinh N = 26.184; t = 1,96; sai số d = 6%. Khảo sát học sinh tại các trường tiểu học và THCS ở thị xã Đồng Xoài và huyện Đồng Phú có theo dõi đài tỉnh. Tổng số phát ra là 264 phiếu; số phiếu hợp lệ là 206 phiếu (đạt tỷ lệ 78,0%).
    • Mẫu cán bộ truyền thông: Chọn mẫu ngẫu nhiên 185 người là lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên tại các cơ quan khảo sát. Số phiếu hợp lệ là 164 phiếu (đạt tỷ lệ 88,6%).
  3. Phỏng vấn sâu: Thực hiện 29 cuộc phỏng vấn sâu, cơ cấu gồm: 3 lãnh đạo và 4 cán bộ cơ quan báo chí; 3 lãnh đạo và 2 cán bộ đài truyền thanh cấp huyện; 1 lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; 1 lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông; 1 lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; 7 công chúng người lớn và 7 công chúng trẻ em.
  4. Thảo luận nhóm: Tổ chức 4 cuộc thảo luận nhóm đối với phóng viên, biên tập viên để thu thập thông tin về thuận lợi, khó khăn và quy trình tác nghiệp đề tài trẻ em.
  5. Phương pháp quan sát và phân tích tài liệu: Quan sát hành vi tiếp nhận truyền thông tại cơ sở; phân tích các văn kiện chính sách, báo cáo chuyên ngành và nghiên cứu lý luận liên quan.

Đặc điểm mẫu điều tra thực địa

Dữ liệu nhân khẩu xã hội của 3 nhóm khách thể điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc được tổng hợp trong bảng dưới đây:

Tiêu chí nhân khẩu xã hội Nhóm công chúng người lớn (N = 535) Nhóm công chúng trẻ em (N = 206) Nhóm cán bộ truyền thông (N = 164)
Độ tuổi trung bình 43,3 tuổi 13,6 tuổi 34,0 tuổi
Tỷ lệ giới tính (Nam) 52,0% 44,3% 50,0%
Thành phần dân tộc thiểu số 8,2% 2,6% Văn bản không nêu
Trình độ học vấn / Phân lớp - Sau đại học: 0,4%
- Đại học: 27,2%
- Cao đẳng: 3,8%
- Trung cấp: 8,5%
- Tốt nghiệp THPT: 18,7%
- Tốt nghiệp THCS: 22,8%
- Hết tiểu học: 4,0%
- Chưa hết tiểu học: 0,5%
- Học sinh lớp 9: 20,0%
- Học sinh lớp 8: 54,7%
- Học sinh lớp 7: 25,3%
- Trên đại học: 2,4%
- Đại học: 80,5%
- Cao đẳng: 6,1%
- Trung cấp: 22,6% [ghi theo văn bản]
- Chuyên môn báo chí: 57,7%
- Chuyên ngành khác: 42,3%
Cơ cấu nghề nghiệp - Công chức: 51,1%
- Nông dân: 27,7%
- Cán bộ hưu trí: 7,5%
- Giáo viên: 5,0%
- Công nhân: 3,7%
- Buôn bán, DN: 2,3%
- Nội trợ: 2,1%
- Làm thuê: 0,6%
Học sinh phổ thông Cán bộ quản lý, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên
Tỷ lệ tiếp cận kênh TTĐC địa phương - Báo Bình Phước in: 74,8%
- Truyền thanh huyện: 61,1%
- Báo điện tử: 30,0%
Đón xem Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước Trực tiếp sản xuất sản phẩm truyền thông

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài.

  • Về nghiên cứu nước ngoài: Điểm luận toàn diện các giai đoạn phát triển của lý thuyết xã hội học truyền thông từ Max Weber, Robert K. Merton, Harold Lasswell, Charles Wright, Daniel Lerner, Elisabeth Noelle-Neumann, Michael Schudson, Theodore Peterson cho đến các mô hình truyền thông (Lasswell, Shannon - Weaver, David Berlo, Osgood - Schramm, Kincaid, Roman Jakobson). Tác giả làm rõ các nghiên cứu về hiệu ứng truyền thông của J. Klapper, hiện tượng "hố chênh lệch kiến thức" của Tichenor, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự của McCombs & Shaw, thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger, cơ chế người gác cổng (gate-keeping) và người lãnh đạo dư luận (Paul Lazarsfeld). Đồng thời, chương này tổng kết các báo cáo thực nghiệm về trẻ em trên truyền thông châu Á (Anura Goonasekera), Thái Lan (Ubonrat Siriyuvasak & Metta Vivattananukul), Nhật Bản (Toshiko Miyazaki) và nghiên cứu của Helena Thorfinn về khung 3P (Bảo vệ, Cung cấp, Tham gia), chỉ ra tình trạng giật gân hóa, thương mại hóa và sự thiếu vắng tiếng nói thực tế của trẻ em.
  • Về nghiên cứu trong nước: Đánh giá các công trình lý luận và thực nghiệm của Mai Quỳnh Nam, Lê Thanh Bình, Đỗ Chí Nghĩa, Trương Xuân Trường, Nguyễn Hồng Thái, Phạm Hương Trà. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước đã khẳng định vị trí của TTĐC như một thiết chế xã hội quan trọng, làm rõ chức năng thông tin, giáo dục và dư luận xã hội nhưng còn thiếu vắng các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm chuyên biệt về việc thực hiện quyền trẻ em tại các địa bàn cụ thể có tính chất đặc thù như tỉnh miền núi, biên giới Bình Phước.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2 xác lập khung khổ khái niệm, mô hình phân tích và đặc điểm thực tiễn của địa bàn.

  • Cơ sở lý luận: Luận án vận dụng quan điểm Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về báo chí cách mạng và bảo vệ chăm sóc trẻ em. Tác giả kết hợp 4 khung lý thuyết: mô hình truyền thông chu kỳ của Roman Jakobson, thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger, lý thuyết vai trò - tập hợp của Robert K. Merton và cách tiếp cận dựa trên quyền của Công ước CRC.
  • Cơ sở thực tiễn: Khái quát điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Bình Phước - một địa bàn đa dân tộc (có 8,2% dân tộc thiểu số trong mẫu điều tra người lớn), có đường biên giới, đời sống nhân dân ở các huyện vùng sâu như Bù Đăng, Bù Gia Mập còn nhiều khó khăn. Hệ thống truyền thông địa phương bao gồm Báo Bình Phước (báo in và báo điện tử), Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, cùng hệ thống đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện đóng vai trò cầu nối thông tin tới cơ sở.

Chương 3: Thực trạng vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay

Chương 3 là phần thực nghiệm nòng cốt, đối chiếu giữa kết quả phân tích nội dung 1.222 sản phẩm truyền thông (từ tháng 6 đến tháng 10/2012) với ý kiến đánh giá của 535 công chúng người lớn, 206 công chúng trẻ em và 164 cán bộ truyền thông.

  • Khái quát sản phẩm truyền thông theo địa bàn và thời điểm:
    • Tỷ trọng sản phẩm phân bổ không đồng đều giữa các đơn vị: Đài thị xã Đồng Xoài chiếm 176 sản phẩm (7,9% mẫu thống kê theo cơ cấu hiển thị), Đài huyện Bù Gia Mập chiếm 39 sản phẩm (1,8%), phần còn lại phân bổ ở Đài Bù Đăng, Đồng Phú, Báo in, Báo điện tử và Đài tỉnh.
    • Tần suất phát sóng mang tính thời điểm cao: tập trung đột biến vào tháng cao điểm (tháng 6: Tháng hành động vì trẻ em và tháng 9: khai giảng năm học mới), giảm mạnh vào các tháng thường (tháng 7, 8 và tháng 10), đúng như giả định nghiên cứu ban đầu.
  • Thực trạng thực hiện 4 nhóm vai trò cơ bản:
    • Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục: Chiếm số lượng sản phẩm lớn nhất, tập trung vào phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em và các hoạt động phong trào; có 74,8% công chúng người lớn theo dõi qua báo in và 61,1% qua truyền thanh huyện; tỷ lệ hài lòng đạt mức khá nhưng nội dung còn một chiều, khô cứng.
    • Vai trò vận động, khuyến khích: Thực hiện rõ nét và hiệu quả nhất thông qua các sản phẩm kêu gọi giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tuyên dương người tốt việc tốt, nhân rộng gương vượt khó học giỏi, được công chúng đánh giá cao nhất về ý nghĩa xã hội và tính thiết thực.
    • Vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội: Đã phản ánh được một số vụ việc xâm phạm quyền trẻ em, tạo luồng dư luận bảo vệ quyền lợi của trẻ, nhưng chưa chủ động định hướng và điều hòa dư luận trước các vấn đề xã hội phức tạp liên quan đến thanh thiếu niên.
    • Vai trò giám sát: Số lượng tác phẩm mang tính giám sát, điều tra, phát hiện sai phạm còn hạn chế; báo chí địa phương gặp khó khăn về cơ chế và nghiệp vụ khi thực hiện chức năng giám sát tình hình thực hiện chính sách quyền trẻ em của các cơ quan chức năng.
    • Vai trò giải trí cho trẻ em: Thực hiện hạn chế nhất; các chương trình giải trí chuyên biệt cho thiếu nhi trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh còn nghèo nàn về thời lượng và thể loại, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của nhóm công chúng trẻ em (độ tuổi 12 đến dưới 16 tuổi).

Chương 4: Yếu tố tác động; xu hướng biến đổi và giải pháp tăng cường vai trò của truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em

Chương 4 phân tích các nhân tố quy định hiệu quả truyền thông, dự báo xu thế và đề xuất các nhóm giải pháp.

  • Các yếu tố tác động:
    1. Yếu tố thể chế và tổ chức cơ quan báo chí: Tôn chỉ, mục đích, định hướng chính trị, sự bố trí kinh phí và trang thiết bị kỹ thuật của các cơ quan báo chí và đài truyền thanh cấp huyện chi phối trực tiếp dung lượng và hình thức chuyển tải đề tài trẻ em.
    2. Yếu tố cán bộ truyền thông: Đội ngũ cán bộ khảo sát có tuổi đời trung bình 34 tuổi, 80,5% có trình độ đại học, tuy nhiên chỉ có 57,7% được đào tạo chuyên môn báo chí, còn lại 42,3% thuộc các chuyên ngành khác. Sự thiếu hụt kiến thức chuyên sâu về tâm lý học lứa tuổi và kiến thức pháp luật về quyền trẻ em dẫn đến tình trạng phóng viên khi tác nghiệp còn lúng túng, rập khuôn cách tiếp cận của người lớn.
    3. Yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội địa phương: Địa bàn rộng, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số và lao động nông nghiệp cao (nông dân chiếm 27,7% mẫu khảo sát), điều kiện kinh tế không đồng đều giữa khu vực đô thị (Đồng Xoài) và biên giới (Bù Gia Mập) tạo ra rào cản trong việc tiếp cận các phương tiện truyền thông hiện đại như báo điện tử (chỉ đạt 30,0% người lớn theo dõi).
  • Dự báo xu hướng biến đổi: Xu hướng đa phương tiện hóa và số hóa truyền thông; sự gia tăng nhu cầu dân chủ hóa và tham gia của công chúng vào giám sát thực thi quyền trẻ em; áp lực cạnh tranh thông tin đòi hỏi báo chí truyền thống phải thay đổi cách tiếp cận đối với đề tài trẻ em.
  • Nhóm giải pháp tăng cường vai trò:
    • Nâng cao nhận thức lý luận và chuyên môn cho cán bộ truyền thông thông qua tập huấn kỹ năng tác nghiệp đề tài quyền trẻ em và đạo đức báo chí.
    • Đổi mới nội dung và hình thức: giảm tính chất hành chính hóa, tăng cường các chương trình phản biện xã hội, điều tra giám sát việc thực thi quyền trẻ em.
    • Mở rộng diễn đàn để trẻ em trực tiếp tham gia sản xuất sản phẩm truyền thông, tạo không gian thể hiện tiếng nói của trẻ em thay vì để người lớn nói thay.
    • Tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan truyền thông với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Thông tin và Truyền thông.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án ứng dụng và kiểm chứng các lý thuyết xã hội học hiện đại (mô hình truyền thông chu kỳ của Roman Jakobson, thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger, lý thuyết trung gian về vai trò - tập hợp của Robert K. Merton) vào việc phân tích hoạt động truyền thông đại chúng đối với quyền trẻ em tại Việt Nam.
  • Góp phần làm sáng tỏ cơ chế tác động của thông điệp truyền thông đối với quá trình kiến tạo nhận thức, thái độ và hành vi xã hội về quyền trẻ em tại cấp độ địa phương, chỉ ra khoảng cách giữa "vai trò kỳ vọng" của công chúng và "vai trò thực tế" của thiết chế báo chí.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Là công trình nghiên cứu xã hội học đầu tiên tại Việt Nam khảo sát đồng bộ cả 4 loại hình báo chí (báo in, truyền hình, phát thanh, báo điện tử) cùng hệ thống truyền thanh cấp huyện trong việc thực hiện quyền trẻ em tại một tỉnh cụ thể.
  • Cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm xác thực gồm 1.222 sản phẩm truyền thông qua phân tích nội dung bằng phần mềm SPSS và kết quả khảo sát 905 đối tượng (535 công chúng người lớn, 206 trẻ em, 164 cán bộ truyền thông).
  • Kiểm chứng thực tế giả thuyết nghiên cứu: xác nhận vai trò vận động, khuyến khích được thực hiện nổi trội và hiệu quả nhất; vai trò thông tin tuyên truyền duy trì dung lượng lớn nhưng nặng tính phong trào; vai trò giám sát và vai trò giải trí cho trẻ em bộc lộ nhiều điểm hạn chế nhất.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và định hướng báo chí (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội): Cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành cung cấp thông tin kịp thời về tình hình trẻ em; ban hành hướng dẫn nghiệp vụ và chuẩn mực đạo đức khi thông tin về các vụ việc xâm hại trẻ em.
  • Đối với các cơ quan TTĐC địa phương: Đổi mới cấu trúc nội dung, tăng thời lượng các chương trình thường kỳ thay vì chỉ tập trung vào các tháng cao điểm; đào tạo bồi dưỡng kiến thức quyền trẻ em cho 42,3% cán bộ có chuyên môn khác báo chí; nâng cấp nội dung giải trí và xây dựng các chuyên mục cho trẻ em tham gia đối thoại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Giới hạn về thời gian phân tích nội dung: Dữ liệu phân tích thông điệp truyền thông chỉ khảo sát trong khung thời gian 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012), dù bao quát được các thời điểm nhạy cảm nhưng chưa phản ánh được sự biến động xuyên suốt cả chu kỳ năm.
  • Giới hạn địa bàn khảo sát công chúng trẻ em: Khảo sát công chúng trẻ em chỉ tiến hành đối với học sinh từ 12 đến dưới 16 tuổi tại hai địa bàn (thị xã Đồng Xoài và huyện Đồng Phú), chưa mở rộng khảo sát nhóm trẻ em vùng sâu, vùng xa, biên giới (huyện Bù Đăng, Bù Gia Mập) và trẻ em ngoài nhà trường.
  • Giới hạn loại hình: Đề tài tập trung khảo sát hệ thống truyền thông địa phương thuộc tỉnh Bình Phước, chưa phân tích mức độ tác động đan xen của các cơ quan báo chí trung ương đóng trên địa bàn và các nền tảng mạng xã hội mới xuất hiện.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh liên tỉnh hoặc giữa các vùng kinh tế - xã hội khác nhau về vai trò của truyền thông trong việc bảo vệ quyền trẻ em.
  • Khảo sát tác động của truyền thông số, mạng xã hội và các hình thức truyền thông tương tác trực tuyến đối với việc thực thi và bảo vệ quyền trẻ em trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên:
    • Hữu ích cho các chuyên ngành Xã hội học (đặc biệt là Xã hội học truyền thông đại chúng, Xã hội học gia đình và trẻ em), Báo chí học, Truyền thông đại chúng và Công tác xã hội.
    • Khung lý thuyết tích hợp (Jakobson, Berger, Merton) và hệ thống bảng hỏi, phiếu mã hóa nội dung bằng SPSS (mã hóa 1.222 sản phẩm) là tài liệu mẫu đáng tham khảo về mặt thao tác hóa khái niệm và kỹ thuật xử lý dữ liệu hỗn hợp.
  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách:
    • Cung cấp căn cứ thực tiễn cho Ban Tuyên giáo, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền, định hướng nội dung về quyền trẻ em và phân bổ ngân sách cho hệ thống truyền thanh cơ sở.
  • Đối với các cơ quan báo chí và người làm truyền thông:
    • Giúp ban biên tập, phóng viên, biên tập viên nhận diện các ranh giới đạo đức, tránh tình trạng giật gân, thương mại hóa hình ảnh trẻ em; định hình phương thức tiếp cận dựa trên quyền trong quy trình sản xuất tin bài.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát các cơ quan truyền thông đại chúng nào tại tỉnh Bình Phước?

Luận án khảo sát các cơ quan báo chí cấp tỉnh và hệ thống truyền thanh cấp huyện, bao gồm: Báo Bình Phước (cả báo in và báo điện tử); Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; cùng 4 Đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện đại diện cho các vùng kinh tế - xã hội gồm: thị xã Đồng Xoài, huyện Bù Gia Mập, huyện Bù Đăng và huyện Đồng Phú.

2. Quy mô mẫu khảo sát thực địa của luận án gồm bao nhiêu đối tượng và phân bổ ra sao?

Mẫu khảo sát thực địa gồm 3 nhóm đối tượng với tổng cộng 905 người trả lời hợp lệ:

  • Công chúng người lớn: 535 người hợp lệ (trên tổng số 582 phiếu phát ra, đạt 91,9%) tại 8 xã/phường thuộc 4 huyện/thị.
  • Công chúng trẻ em (từ 12 đến dưới 16 tuổi): 206 em hợp lệ (trên 264 phiếu phát ra, đạt 78,0%) tại thị xã Đồng Xoài và huyện Đồng Phú.
  • Cán bộ truyền thông: 164 người hợp lệ (trên 185 phiếu phát ra, đạt 88,6%) là lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên.
  • Ngoài ra, luận án thực hiện 29 cuộc phỏng vấn sâu và 4 cuộc thảo luận nhóm.

3. Phương pháp phân tích nội dung thông điệp được thực hiện trên cỡ mẫu bao nhiêu và trong khoảng thời gian nào?

Phương pháp phân tích nội dung định lượng được thực hiện trên tổng số 1.222 sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em, được thu thập trong khoảng thời gian 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012) trên tất cả các kênh báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình của tỉnh và 4 đài cấp huyện; dữ liệu được mã hóa theo phiếu và xử lý bằng phần mềm SPSS.

4. Kết quả kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu của luận án ra sao?

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh giả thuyết:

  • Vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em được thể hiện rõ nét và công chúng đánh giá cao nhất.
  • Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục chiếm số lượng lớn nhất, thực hiện tốt hơn vai trò giám sát.
  • Vai trò giám sát thực hiện kém hơn vai trò hình thành dư luận xã hội; số lượng bài viết điều tra, giám sát thực thi chính sách còn ít.
  • Vai trò giải trí cho trẻ em bị hạn chế nhất, thời lượng và chương trình giải trí dành riêng cho thiếu nhi còn nghèo nàn.

5. Thực trạng trình độ của đội ngũ cán bộ truyền thông tham gia đề tài trẻ em có đặc điểm gì nổi bật?

Khảo sát 164 cán bộ truyền thông cho thấy độ tuổi trung bình là 34, tỷ lệ nam chiếm 50,0%. Về trình độ học vấn, 80,5% có trình độ đại học và 2,4% trên đại học. Tuy nhiên, về mặt chuyên môn nghiệp vụ, chỉ có 57,7% cán bộ có chuyên môn báo chí, trong khi có tới 42,3% có chuyên môn thuộc các ngành khác, tạo ra hạn chế về kỹ năng tác nghiệp chuyên biệt đối với đề tài quyền trẻ em.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Nhâm là công trình khoa học chuyên ngành Xã hội học, phân tích thực nghiệm vai trò của hệ thống truyền thông đại chúng đối với việc thực thi quyền trẻ em tại tỉnh Bình Phước. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết xã hội học hiện đại với phương pháp phân tích nội dung 1.222 sản phẩm truyền thông và điều tra xã hội học trên 905 cá nhân cùng 29 cuộc phỏng vấn sâu, luận án đã phác họa bức tranh toàn diện về các mặt được và hạn chế của báo chí địa phương. Kết quả nghiên cứu khẳng định ưu thế của vai trò vận động, tuyên truyền, đồng thời chỉ rõ sự thiếu hụt trong chức năng giám sát, phản biện và giải trí cho trẻ em, từ đó cung cấp hệ thống giải pháp thiết thực cho công tác quản lý và nghiệp vụ báo chí.