CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1- CÁC KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT, CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI 1.1- Định nghĩa khái niệm Trong nghiên cứu này có 2 khái niệm cần được định nghĩa để làm cơ sở nghiên cứu là cơ cấu xã hội và biến đổi cơ cấu xã hội.1- Cơ cấu xã hội Trong các tài liệu về Triết học và Xã hội học, có nhiều định nghĩa về cơ cấu xã hội. Một điều dễ nhận thấy là mặc dù xuất phát từ các góc nhìn khác nhau, song các định nghĩa này đều có những điểm chung nhất định. Dưới đây xin giới thiệu một số định nghĩa như thế. Từ điển xã hội học của T.Houll (Mỹ), định nghĩa cơ cấu xã hội như sau: “Cơ cấu xã hội biểu thị: a) các mối quan hệ tương đối ổn định, tồn tại giữa các phương diện của đời sống xã hội, và b) sự tổ chức tình thế đặc thù của cá nhân hay của nhóm mà mỗi một trong số đó đều có một địa vị đặc biệt” 1.
Trong Từ điển xã hội học của Đức, định nghĩa: “Cơ cấu xã hội là: a) cơ cấu của xã hội hay, dưới dạng chung hơn, của hệ thống xã hội, và b) Tổ chức những người chủ chốt vào các quan hệ có trật tự thiết chế mà những tham số về cơ cấu quan trọng nhất là tình thế, vai trò và địa vị” (Redklif - Braun Hagel và cộng sự) 2.Ionin, Sociologija Kultury, M.Ionin, Sociologija Kultury, M.Logos, 1996, trang 229-231 11 Bách khoa toàn thư triết học của Nga thời hậu Xô viết định nghĩa về cơ cấu xã hội: “Theo nghĩa rộng của từ, cơ cấu xã hội biểu thị tổng thể những quan hệ giữa các nhóm xã hội khác nhau (các giai cấp, các cộng đồng, các tổ chức) và các thiết chế xã hội bảo đảm tính ổn định tương đối trong xã hội. Theo nghĩa hẹp - tổ hợp những địa vị xã hội có liên hệ với nhau, mỗi một trong số đó đều có các quyền và các nghĩa vụ xác định, cần thiết để hoàn thành vai trò xã hội. Cơ cấu xã hội bảo đảm tính ổn định của hệ thống xã hội; sự tái sản xuất bình thường của nó” 3. Ở nước ta, trong tác phẩm Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, tác giả Nguyễn Đình Tấn định nghĩa: “Cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhất định - biểu hiện như là sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất cấu thành hệ thống xã hội.
Những thành phần này tạo ra bộ khung cho tất cả các xã hội loài người. Những thành tố cơ bản của cơ cấu xã hội là nhóm với vị thế, vai trò xã hội, mạng lưới xã hội và các thiết chế 4. Như vậy, ngoài những điểm chung như là “hình thức tổ chức bên trong”, là “các mối quan hệ tương đối ổn định”, “có trật tự”, các định nghĩa còn cho thấy mạng lưới cơ cấu xã hội ở nhiều cấp độ: cấp độ vĩ mô (của toàn quốc gia - dân tộc), cấp độ trung mô (vùng miền, cộng đồng, đoàn thể), và cấp độ vi mô (các nhóm nhỏ như gia đình, nhóm bạn. Hơn thế, các định nghĩa như trên còn cho thấy các đặc trưng cơ bản của cơ cấu xã hội.
Theo chúng tôi, dù xét dưới cấp độ nào, song nếu phân tích một cách khái quát các định nghĩa cơ cấu xã hội nêu trên, có thể thống nhất hai đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, về mặt tổ chức - hệ thống, cơ cấu xã hội là hệ thống những quan hệ tổ chức xã hội hợp thành một chỉnh thể thống nhất, là cái giữ xã hội thành một khối, không cho phép nó phân chia ra thành những yếu tố riêng biệt (như các nhóm, các tổ hợp, hay là các cá nhân tách biệt). Thứ hai, về mặt phân tầng, cơ cấu xã hội - đó là tổng thể các địa vị, các nhóm, các tầng lớp hay các giai cấp được tổ chức theo một trật tự có 3 L.Ionin, Sociologija Kultury, M.Logos, 1996, trang 229-231 4 Nguyễn Đình Tấn, Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, Nxb Lý luận chính trị, 2005, trang 12 phân cấp, tức là không bình đẳng trong việc sử dụng những nguồn dự trữ mà hệ thống xã hội có được. Trên thực tế, bất kỳ sự phân tích và mô tả nào về cơ cấu xã hội cũng đều đã và đang là sự mô tả các hệ thống bất bình đẳng xã hội. Nhưng, chính yếu tố bất bình đẳng - như kinh nghiệm chỉ ra - lại thiết định sự phát triển và sự biến đổi của cơ cấu xã hội.
Về cơ bản, những phân tích về cơ cấu xã hội trên đây phù hợp với quan niệm của chúng tôi trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, để nhận thức sâu sắc hơn về mặt lý luận, qua đó giúp cho việc phân tích xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội Việt Nam, cũng cần phải làm rõ các yếu tố cấu thành cơ cấu xã hội. Nhóm xã hội: Đó là một tập hợp người có liên hệ với nhau về vị thế, vai trò, nhu cầu, lợi ích và những định hướng xã hội nhất định. Nhóm xã hội thường được chia thành 2 loại: Nhóm nhỏ và nhóm lớn.
Nhóm nhỏ là một tập hợp gồm ít người, các thành viên quan hệ với nhau trực tiếp và ổn định với tư cách cá nhân. Nhóm lớn là tập hợp các cộng đồng nhóm, được hình thành bởi những dấu hiệu xã hội chung có liên quan đến đời sống trên cơ sở của một hệ thống quan niệm xã hội hiện có. Bên cạnh đó, người ta còn phân chia thành các cặp nhóm khác nhau như: nhóm chính và nhóm phụ, chủ yếu và thứ yếu, căn bản và không căn bản… Trong các lý thuyết xã hội học về nhóm, chúng ta còn bắt gặp sự phận chia nhóm thành nhóm quy ước và nhóm tự nhiên. Nhóm quy ước là loại nhóm do con người tạo lập vì những mục đích nhất định.
Nhóm tự nhiên là những nhóm tồn tại thực một cách không hề tuân theo một chủ ý riêng trong đời sống xã hội. Nhóm quy ước mang tính ước lệ, tạm thời không bền vững và phụ thuộc vào ý muốn của người tạo ra nó. Nhóm tự nhiên tồn tại, vận động và phát triển theo những qui luật khách quan. Nghiên cứu cơ cấu xã hội cần nhận thức đúng hai loại nhóm này bởi lẽ cơ cấu xã hội được tạo nên chỉ bởi các nhóm tự nhiên.
Vị thế xã hội: Vị thế hay còn được gọi thông thường là vị trí trong cơ cấu xã hội. Tuy nhiên, vị thế còn nói lên thế và lực của chủ thể. Vị thế quyết định chỗ đứng và phương thức ứng xử của mỗi cá nhân hay nhóm xã hội. Tùy theo các góc độ khác nhau mà mỗi cá nhân hay nhóm xã hội có những vị thế khác nhau.
Trong quan hệ xã hội, thường vị thế nghề nghiệp mang ý nghĩa quan trọng hơn cả, nó qui định những đặc trưng của cá nhân hay nhóm xã hội. 13 Vị thế xã hội có các đặc điểm: Không nhất thiết gắn với người có uy tín và địa vị cao; không phụ thuộc vào ý kiến của mỗi người về bản thân; vị thế của mỗi người cần đối chiếu hay gắn với những tiêu chuẩn khách quan của xã hội; vị thế của mỗi người là vị trí xã hội của người đó được xã hội thừa nhận và suy tôn; vị thế mang tính ổn định tương đối… Vị thế xã hội có các nguồn gốc: Dòng dõi, của cải, nghề nghiệp, chức vụ và quyền lực; trình độ học vấn và các cấp bậc, chức sắc tôn giao, thân tộc… Vị thế xã hội thường được chia làm 4 loại: Vị thế tự nhiên là những đặc trưng, thiên chức mang tính chất mặc định khó có thể thay thế như chủng tộc, giới tính, tuổi; Vị thế xã hội là những đặc trưng, vai trò, nghĩa vụ thuộc về đời sống văn hóa xã hội, con người ta đạt được trong quá trình sản xuất và sinh sống của mình; Vị thế then chốt có thể do chính bản thân tạo ra nhưng cũng có thể do sự ưu tiên nào đó (như đẳng cấp, dòng dõi, thừa kế…) của xã hội; Vị thế không then chốt đó là những vị thế không đóng vai trò quyết định đặc điểm hay hành vi ứng xử xã hội của chủ thể. Vai trò xã hội: đó là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế cụ thể. Vai trò là sự thể hiện một cách sinh động của vị thế trong những quan hệ nhất định.
Một vị thế, có thể có nhiều vai trò khác nhau và vai trò sẽ thay đổi trong các quan hệ khác nhau cũng như vai trò sẽ thay đổi khi vị thế thay đổi. Xã hội học về vai trò xã hội thường tập trung nghiên cứu các nội dung: một vai trò xã hội có thể có nhiều mức độ biểu hiện hay sắc thái khác nhau; vai trò không chỉ biểu hiện thành hành vi bên ngoài mà còn thể hiện những nội dung tinh thần bên trong; bất kỳ vai trò nào cũng tồn tại trong sự gắn bó với các vai trò khác; vai trò bao giờ cũng trong một khuôn khổ giới hạn nhất định, ngoài giới hạn đó, nó không còn là vai trò nữa; sự không phù hợp vai trò của chủ thể dẫn đến căng thẳng và xung đột xã hội; vai trò và nhân cách gắn bó mật thiết và quy định nhau trong quan hệ xã hội; mỗi chủ thể bao giờ cũng có nhiều vai trò khác nhau;. Có 4 loại vai trò xã hội: Vai trò chỉ định là vai trò được qui định một cách mặc định, chủ thể dù muốn hay không cũng không có quyền từ chối; Vai trò lựa chọn là vai trò có được do nỗ lực của chủ thể, chủ thể dành được nó trong đời sống xã hội; Vai trò then chốt là vai trò quan trọng nhất trong nhóm các vai trò của chủ thể tại một thời điểm cụ thể nào đó; Vai trò tổng quát đó là sự phối hợp các vai trò khác nhau của chủ 14 thể tạo nên một vai trò chung bao hàm trong đó ý nghĩa của nhiều vai trò khác. Mạng lưới xã hội: Xã hội là tổng hợp của các mối quan hệ.
Mạng lưới là phức hợp các mối quan hệ của cá nhân, nhóm, cộng đồng, các tổ chức. Tất cả các mối quan hệ của xã hội tạo nên mạng lưới xã hội. Không cá nhân, nhóm, cộng đồng, tổ chức hay đoàn thể nào có thể đứng ngoài mạng lưới xã hội.