Chương 1: Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia trong thu hút ODA và các nhân tố tác động tới thu hút/ODA của/Nhật Bản. Chƣơng 2: Vận dụng lý thuyết về lợi thế cạnh tranh trong“thu hút ODA của Nhật Bản vào Việt”Nam. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm đẩy mạnh thu/hút ODA của Nhật Bản/vào Việt Nam theo lý thuyết lợi thế cạnh tranh. 6 CHƢƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA TRONG THU HÚT ODAVÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI THU HÚT ODA CỦA NHẬT BẢN 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Cạnh tranh Các học“thuyết kinh tế thị trường, dù trường phái nào, đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi có sự cung ứng hàng hoá, dịch vụ của ít nhất hai người kinh doanh trong cùng một điều kiện giống nhau. Để tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh như là lựa chọn duy nhất. Canh tranh chính là một trong những quy luật cơ bản và động lực phát triển của nền kinh tế thị trường, là linh hồn sống của thị”trường.
Cạnh“tranh có một số đặc trung cơ bản sau:” Thứ“nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.” Thứ“hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn tranh giành (một cơ hội, một sản phẩm, một dự án…) hoặc một loạt điều kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng…). Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao.” Thứ“ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh…” Thứ“tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm hay bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm…” 7 Từ“những đặc điểm trên, theo Từ điểm Kinh tế, ta có khái”niệm: “Cạnh tranh quá trình ganh đua hoặc tranh giành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình,đạt được lợi ích tối đa”.“Nói chung, cạnh tranh là động lực thúc đẩy các DN không ngừng cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Vì vậy, cạnh tranh cũng là động lực nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi nền kinh tế. Để đạt được những lợi thế trong cạnh tranh, DN phải dựa trên những năng lực cạnh tranh nhất định.
Lợi thế cạnh tranh Các“học giả cũng như các tổ chức trên thế giới đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về lợi thế cạnh tranh. Điều đó cho thấy tính phổ biến cũng như tính đa dạng của vấn đề này. Khái niệm lợi thế cạnh tranh là một khái niệm phức hợp, được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau: lợi thế cạnh tranh quốc gia, lợi thế cạnh tranh của DN và lợi thế cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ.“Lợi thế cạnh tranh quốc gia” Đại“học kinh doanh IMD (Thụy Sĩ) và Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), hai cơ quan hàng năm vẫn đưa ra các báo cáo về lợi thế cạnh tranh quốc gia, có quan điểm khác nhau khi đưa ra định nghĩa về lợi thế cạnh tranh quốc gia cũng như các phương thức đánh giá lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.” Theo“Đại học IMD, lợi thế cạnh tranh quốc gia là “khả năng tạo ra giá trị gia tăng và nhờ đó là giàu tài sản quốc gia”. IMD cũng nhấn mạnh rằng, không nên đơn giản hóa khái niệm lợi thế cạnh tranh chỉ đơn thuần như GDP và năng suất lao động.” Còn theo/WEF: “Lợi thế cạnh tranh là khả năng nâng cao mức sống một cách nhanh và bền vững, tức là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, được đo lường bằng mức độ thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người qua các năm”.
Hai“cơ quan này cũng xây dựng các nhóm nhân tố khác nhau để xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia: Mô hình của IMD bao gồm 4 nhóm nhân tố lớn, còn WEF bao gồm 12 nhóm nhân tố. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia IMD (2001) WEFF (2000) 1. Hoạt động/kinh tế 1. Các chỉ/số về hoạt/động của quốc gia 7.
Môi trường vĩ mô 2. Hiệu quả/hoạt 2. Thể chế,/luật pháp 8. Tham?nhũng động của chính/phủ 3.
Hoạt/động và/chiến/lược công ty 9. Cạnh?tranh trong?nước 3. Hiệu/quả hoạt/ 4. Cơ/sở hạ/tầng 10.
Phát?triển các nhóm ngành động của/các DN 5. Đổi mới và phổ biến công nghệ 11. CNTT?và viễn/thông 4. Chính/sách về/môi trường 12.
Thể chế?dân sự Nguồn: http://www.kr/english/research/ncr/summary.“Lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp” Đối“với một DN, lợi thế cạnh tranh là khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Trong khu vực thương mại, điều này có nghĩa là DN phải duy trì được thành công trên thị trường quốc tế mà không cần phải có bảo hộ hay trợ cấp. Mặc dù chị phí vận chuyển có thể giúp các DN của một quốc gia cạnh tranh thành công trong thị trường nội địa hay thị trường của các nước láng giềng, nhưng lợi thế cạnh tranh lại có liên quan tới lợi thế đạt được nhờ năng suất lao động cao hơn.” Tiêu“chuẩn đánh giá lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại bao gồm khả năng sinh lời của DN, kim ngạch xuất khẩu và thị phần của DN trong khu vực cũng như trên toàn cầu. Trong ngành thương mại, hoat động của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế cũng chính là thước đo trực tiếp khả năng cạnh tranh của DN đó.
Còn trong ngành dịch vụ, năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng chiến thắng các DN hàng đầu thế giới về giá cả cũng như chất lượng dịch vụ. Chính vì vậy, rất khó để đánh giá lợi thế cạnh tranh của DN trong lĩnh vực dịch vụ. Các tiêu chuẩn được dùng để đánh giá lợi thế cạnh tranh của DN trong ngành dịch vụ bao gồm: khả năng sinh lời của DN và các chỉ tiêu về giá cả, chất lượng.“Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm” Đối“với khái niệm này, cho đến nay các tác giả, nhà nghiên cứu kinh tế cũng chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất. Các khái niệm mà các tác giả đưa ra dựa trên khái niệm về lợi thế cạnh tranh của quốc gia, của DN.” Theo“một số tác giả, lợi thế cạnh tranh của một loại sản phẩm hay hàng hóa hay dịch vụ nào đó trên thị trường trong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt hay tính hơn hẳn của nó cả về định tính và định lượng với các chỉ tiêu như: chất lượng sản phẩm, thương hiệu, mức độ vệ sinh công nghiệp hay vệ sinh thực phẩm; khối lượng và sự ổn định chất lượng của sản phẩm; kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm; môi trường thương mại, mức độ giao dịch và uy tín của sản phẩm trên thị trường; sự ổn định về môi trường kinh tế vĩ mô và chính sách thương mại như thuế, tỷ giá, tín dụng, đầu tư, mức độ bảo hộ; các chỉ tiêu về giá thành và giá cả sản xuất.
và cuối cùng, tổng quát nhất là sự phản ứng của người tiêu dùng thể hiện qua việc mua hay không mua sản phẩm đó.” Một“số tác giả khác lại cho rằng: lợi thế cạnh tranh của sản phẩm”chính là khả năng nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một thị trường và thời gian nhất định. Như vậy, mặc dù chưa có sự thống nhất khái niệm, song có thể hiểu rằng“cạnh tranh giữa các sản phẩm trên thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn tiêu dùng của các sản phẩm đối với khách hàng trên một thị trường cụ thể và trong một thời gian nhất định. Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm có thể gắn với một DN, một quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả các quốc gia, doanh nghiệp.” Ba cấp/độ trên của lợi thế cạnh tranh có mối quan hệ qua lại, mật thiết với nhau. Đối với một DN hoặc một ngành, một sản phẩm, lợi thế cạnh tranh gắn với mục tiêu duy trì sự tồn tại và thu được lợi nhuận trên thị trường.
Còn một quốc gia hay nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt sẽ giúp cho các DN tạo dựng được năng lực cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Nói cách khác,“lợi thế cạnh tranh 10 quốc gia là một nguồn hình thành lợi thế cạnh tranh của DN. Khi các DN có lợi thế cạnh tranh, nó sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao thu nhập và tác động tích cực đến môi trường cạnh tranh và do đó, nó góp phần vào việc nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh 1.
Nội dung lý thuyết Khái niệm lợi thế cạnh tranh quốc gia mới chỉ xuất hiện từ thập niên 80“của thế kỷ XX nhưng những nỗ lực nhằm giải thích nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc tế đã xuất hiện từ thế kỷ XV với những học thuyết ra đời sau đó có thể kể tới như Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Adam Smith, thế kỷ XVIII), Lý thuyết về lợi thế so sánh (David Ricardor, thế kỷ XVIII) hay Lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố (Heckscher Ohlin, thế kỷ XX). Cuộc thảo luận về thuật ngữ cạnh tranh quốc gia có thể bắt đầu bằng lý thuyết về lợi thế so sánh của một quốc gia cũng như sự khác biệt về công nghệ giữa các ngành. Lý thuyết này cho rằng, một quốc gia sẽ có lợi thế so sánh trong những ngành sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dồi dào. Và chỉ cần có lợi thế so sánh thì quốc gia đó có thể thu được lợi ích từ ngoại thương cho dù năng suất của quốc gia đó thấp trên tất cả các ngành.
Tuy nhiên những giả thiết làm cơ sở cho lý thuyết này không thực tiễn trong hầu hết các ngành như giả thiết về công nghệ đồng nhất giữa các quốc gia, không có lợi thế kinh tế theo quy mô, các yếu tố sản xuất không dịch chuyển giữa các quốc gia.