Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ với đề tài "Pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật học (chuyên sâu về Luật Kinh tế và pháp luật tài chính - ngân hàng). Công trình được triển khai theo hướng tiếp cận định tính, tập trung nghiên cứu lý luận pháp lý, phân tích quy phạm và đánh giá thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG).

Về tính cấp thiết, tác giả xác định hệ thống ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế, giữ chức năng thu hút và luân chuyển nguồn lực tài chính cho toàn xã hội. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn đối mặt với các rủi ro nội tại như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro hối đoái, cùng các rủi ro từ môi trường vĩ mô như khủng hoảng kinh tế, suy thoái, hay thay đổi chính sách pháp luật. Nguy cơ mất khả năng thanh toán của một tổ chức tín dụng có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền "domino", đe dọa sự an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính. Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), số lượng tổ chức tín dụng trong và ngoài nước tăng nhanh, sự cạnh tranh thu hút khách hàng diễn ra khốc liệt. Đối tượng người gửi tiền cá nhân với quy mô nhỏ lẻ cần được bảo đảm quyền lợi hợp pháp nhằm củng cố niềm tin và duy trì sự ổn định xã hội.

Về khoảng trống nghiên cứu, tại thời điểm tác giả triển khai đề tài, khung pháp lý về BHTG ở Việt Nam chủ yếu tồn tại dưới hình thức các văn bản dưới luật, mang tính tản mạn và chưa đồng bộ, khởi đầu từ Quyết định số 101/TC-QĐ-BH ngày 01/01/1994 của Bộ Tài chính. Các công trình khoa học trong nước trước đó phần lớn tiếp cận BHTG dưới giác độ kinh tế - tài chính, nghiệp vụ ngân hàng hoặc chỉ dừng lại ở các bài viết chuyên khảo khái quát. Chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về cơ sở lý luận, bản chất pháp lý của hoạt động BHTG, tiêu chí phân định với bảo hiểm thương mại (BHTM), cũng như khía cạnh pháp lý của các mô hình BHTG để phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện Luật Bảo hiểm tiền gửi (được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012).

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ BHTG; đánh giá thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật BHTG Việt Nam; từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể qua sáu nội dung:

  1. Nghiên cứu những yếu tố tác động đến sự ra đời và phát triển của hoạt động BHTG và pháp luật về hoạt động BHTG.
  2. Nghiên cứu và làm sáng tỏ nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động BHTG ở Việt Nam.
  3. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật về hoạt động BHTG.
  4. Nghiên cứu ở góc độ pháp lý các mô hình hoạt động BHTG trên thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam.
  5. Phân tích và làm sáng tỏ thực trạng pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành.
  6. Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào: Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động BHTG và pháp luật BHTG; Thực trạng pháp luật về hoạt động BHTG của Việt Nam và tham chiếu pháp luật một số quốc gia về địa vị pháp lý của tổ chức BHTG (trọng tâm là Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - BHTGVN), mô hình hoạt động, công cụ và nội dung hoạt động BHTG; Các định hướng, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật BHTG ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập:

  • Về phạm vi văn bản và thời gian: Luận án tập trung khảo cứu hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động BHTG của Việt Nam từ năm 1994 (mốc ban hành Quyết định số 101/TC-QĐ-BH ngày 01/01/1994 của Bộ Tài chính về Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của Quỹ tín dụng nhân dân đối với khoản tiền gửi có kỳ hạn) đến Luật Bảo hiểm tiền gửi được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012.
  • Về phạm vi không gian và luật học so sánh: Luận án nghiên cứu các văn bản pháp luật BHTG của Mỹ (từ Luật BHTG năm 1829 và hoạt động của Tổng công ty BHTG Hoa Kỳ - FDIC), các quốc gia châu Á (Hàn Quốc với Luật BHTG năm 2005 và tổ chức KDIC, Đài Loan, Singapore) và châu Âu (Đức, Canada với tổ chức CDIA).
  • Về phạm vi tài liệu khoa học: Khảo sát các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc giác độ kinh tế, tài chính và pháp lý.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai phân nhóm chính:

Các nghiên cứu quốc tế:

  • Cuốn Deposit Insurance around the world - A date base [109] đã tổng hợp, phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật BHTG tại 68 quốc gia trên thế giới, đánh giá ưu điểm và hạn chế trong thiết kế hệ thống, mô hình và nội dung hoạt động BHTG.
  • Công trình Deposit insurance and the appropriate institutions của Gillian G. Garcia (2002) [105] phân tích sâu sắc về sự cần thiết, vai trò của BHTG đối với hệ thống tài chính - ngân hàng và chia sẻ kinh nghiệm thiết lập định chế BHTG phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước.
  • Công trình Structuring a deposit insurance system from the Asian perspective của Choi J. [103] luận giải cơ sở thiết kế quy định pháp luật BHTG từ góc độ đặc thù về kinh tế, văn hóa, tập quán và lịch sử của các quốc gia châu Á.

Các nghiên cứu trong nước dưới giác độ kinh tế - tài chính:

  • Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Thị Kim Oanh (2004) tại Học viện Ngân hàng về đề tài "Giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" [58] phân tích các điều kiện kinh tế, xã hội tác động đến BHTG và đề xuất phương hướng nâng cao hoạt động BHTG.
  • Luận án tiến sĩ của Đào Văn Tuấn (2005) tại Học viện Ngân hàng về "Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" [89] tập trung vào giải pháp chiến lược nâng cao hiệu quả BHTG trong bối cảnh cạnh tranh ngân hàng mở rộng.
  • Luận văn thạc sĩ kinh tế của Bùi Thu Hương (2010) về "Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong thời kì hội nhập" [31].
  • Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Hiển (2008) về "Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam" [25].
  • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện của Học viện Ngân hàng (2009) mang tên "Bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo đảm an toàn tài chính quốc gia tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp".
  • Các bài viết, tham luận của các chuyên gia kinh tế, nhà quản lý như PGS.TS Lê Hoàng Nga, TS Lê Thị Kim Oanh, ThS Thúy Sen trên Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Tài chính tiền tệ.

Các nghiên cứu trong nước dưới giác độ pháp lý:

  • Chuyên khảo Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam của TS Lê Thị Thu Thủy (2008, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) [89] là công trình quy mô nhất thời điểm đó về BHTG, đề cập khái quát sự hình thành, nội dung pháp luật và khảo sát thực trạng, nhưng chưa xây dựng hệ thống lý luận pháp luật toàn diện và chưa phân tích sâu bản chất pháp lý của hoạt động BHTG.
  • Các công trình của TS Đinh Dũng Sỹ gồm: bài viết "Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện nay và những vấn đề quan tâm khi xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi" [79]; bài viết "Địa vị pháp lí của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam" [80] (đề xuất tính độc lập tương đối của BHTGVN); bài viết "Bảo hiểm tiền gửi và vấn đề an toàn tín dụng" [78].
  • Bài viết của TS Lê Thị Thu Thủy: "Bàn về mô hình bảo hiểm tiền gửi trong thời kì hội nhập quốc tế" [88].
  • Bài viết của GS.TSKH Đào Trí Úc (2007) trên Thông tin BHTGVN số 3 về "Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền theo pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện" [95].
  • Chuyên đề nghiên cứu "Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền và bảo đảm an sinh xã hội" [94].
  • Luận án tiến sĩ của Bùi Hữu Toàn (tháng 8/2012) tại Học viện Khoa học xã hội về "Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế".
  • Hồ sơ Dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi xây dựng từ tháng 9/2011 đến thời điểm thông qua ngày 18/6/2012.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước được thực hiện khi Việt Nam chưa ban hành Luật BHTG, các quy định nằm rải rác ở văn bản dưới luật. Về mặt lý luận, chưa có công trình nào phân tích thấu đáo tính đặc thù của quan hệ BHTG, bản chất pháp lý của hoạt động BHTG, sự phân định dứt khoát giữa BHTG và BHTM, cũng như các khía cạnh pháp lý của các mô hình BHTG gắn với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng hệ thống lý luận pháp lý hoàn chỉnh, khảo sát thực tiễn áp dụng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật BHTG mang tính đồng bộ, phục vụ yêu cầu thể chế hóa mục tiêu chính sách công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật, cùng đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế.

Khung phân tích lý thuyết của luận án vận dụng các lý thuyết và khái niệm công cụ:

  • Bản chất kinh tế của BHTG: Cơ chế phân tán rủi ro dựa trên nguyên lý "số đông bù số ít".
  • Bản chất pháp lý của BHTG: Mối quan hệ ba bên giữa tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền thụ hưởng; hoạt động BHTG là công cụ thực hiện mục tiêu chính sách công phi lợi nhuận của Nhà nước.
  • Các lý thuyết về rủi ro tài chính: Hiện tượng rút tiền hàng loạt (bank run), rủi ro hệ thống, rủi ro đạo đức (moral hazard) phát sinh từ sự ỷ lại của tổ chức tín dụng hoặc người gửi tiền, và rủi ro lựa chọn đối nghịch (adverse selection) trong cơ chế tham gia bảo hiểm.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp duy vật biện chứng: Sử dụng để đánh giá các yếu tố kinh tế, xã hội, thị trường tác động đến sự hình thành, phát triển của hoạt động BHTG và pháp luật BHTG, cũng như phân tích hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật BHTG.
  • Phương pháp duy vật lịch sử: Sử dụng để nghiên cứu tiến trình phát triển của hệ thống quy phạm pháp luật BHTG Việt Nam từ năm 1994 qua từng thời kỳ điều chỉnh.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa: Phân tích cụ thể các quy phạm pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý, quyền hạn, công cụ và nội dung nghiệp vụ BHTG; tổng hợp, khái quát hóa thành các nhóm vấn đề lý luận và thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh luật học: Vận dụng để đối chiếu quy định pháp luật BHTG của các quốc gia (Mỹ, Canada, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore) về mô hình tổ chức, cơ chế phí, cách thức tham gia, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Quyết định số 101/TC-QĐ-BH, các nghị định về BHTG, Luật BHTG năm 2012, các văn bản của NHNN và Bộ Tài chính); văn bản pháp luật BHTG quốc tế; số liệu thực tế về sụp đổ ngân hàng và xử lý tài sản của FDIC (Mỹ) trong cuộc khủng hoảng năm 2008; các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo và kỷ yếu hội thảo chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan Đề tài

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến BHTG và pháp luật BHTG. Tác giả phân chia các công trình thành hai hướng tiếp cận: hướng kinh tế - tài chính và hướng pháp lý. Đánh giá chung cho thấy các công trình đã chỉ ra được vai trò bảo vệ người gửi tiền và an toàn tài chính, tuy nhiên các nghiên cứu pháp lý trước đây còn tản mạn do bối cảnh Việt Nam chưa có luật chuyên ngành. Chương này xác định rõ tính cấp thiết của đề tài trong việc bổ khuyết các khoảng trống lý luận pháp lý, đồng thời công bố ba nhóm đóng góp mới của luận án về mặt khoa học, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.

Chương 2: Những vấn đề lí luận cơ bản về hoạt động bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý luận nền tảng cho hoạt động BHTG và pháp luật BHTG.

Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: Hoạt động BHTG là một loại hình hoạt động bảo hiểm, theo đó tổ chức BHTG bảo đảm thực hiện chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gốc và tiền lãi của các khoản tiền gửi cho người gửi tiền được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách công của nhà nước.

Nội dung hoạt động BHTG bao gồm sáu nhóm:

  1. Xác lập quan hệ BHTG (cấp Giấy chứng nhận BHTG hoặc ký kết hợp đồng).
  2. Tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ BHTG (thu phí, đầu tư gia tăng quỹ, chi trả bảo hiểm, hỗ trợ tài chính).
  3. Kiểm tra, giám sát chủ thể tham gia BHTG và cảnh báo rủi ro sớm.
  4. Hỗ trợ tài chính đối với tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn (cho vay ưu đãi, bảo lãnh khoản vay).
  5. Tham gia xử lý tổ chức bị chấm dứt hoạt động (tái cơ cấu, thu hồi tiền bảo hiểm đã chi trả).
  6. Chấm dứt quan hệ BHTG (thu hồi Giấy chứng nhận BHTG hoặc thanh lý hợp đồng).

Luận án khẳng định hoạt động BHTG có năm vai trò chủ yếu:

  1. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đặc biệt là người gửi tiền nhỏ thiếu thông tin.
  2. Duy trì và nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, ngăn chặn hiện tượng rút tiền ồ ạt.
  3. Giảm thiểu rủi ro, duy trì sự an toàn và ổn định của hệ thống tài chính quốc gia thông qua giám sát từ xa và can thiệp sớm.
  4. Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức nhận tiền gửi quy mô nhỏ với các ngân hàng lớn.
  5. Góp phần tái cấu trúc ngân hàng (chứng minh qua thực tiễn FDIC tại Mỹ xử lý 12 ngân hàng phá sản tính đến hết tháng 9/2008 thông qua cơ chế ngân hàng bắc cầu mà không làm gián đoạn giao dịch của khách hàng).

Luận án phân tích sâu sắc sự khác biệt bản chất giữa BHTG và BHTM qua 5 tiêu chí:

Tiêu chí so sánh Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) Bảo hiểm thương mại (BHTM)
Mục tiêu hoạt động Phi lợi nhuận; thực hiện mục tiêu chính sách công, bảo vệ người gửi tiền, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Mục tiêu lợi nhuận; tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm.
Chủ thể thực hiện Tổ chức tài chính đặc thù của Nhà nước (Cơ quan BHTG, Công ty BHTG) có thẩm quyền giám sát, xử lý rủi ro. Doanh nghiệp bảo hiểm thành lập theo Luật Doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty TNHH) thuộc nhiều thành phần sở hữu.
Chủ thể tham gia và cách thức Bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi (một số ít trường hợp tự nguyện); không có sự thỏa thuận. Cá nhân, tổ chức tham gia trên cơ sở tự nguyện, tự do thể hiện ý chí (trừ một số loại hình bắt buộc vì bên thứ ba).
Phí bảo hiểm Do pháp luật quy định mức phí và phương thức nộp; các bên không được tự thỏa thuận. Do các bên thỏa thuận trên cơ sở quy định pháp luật và mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm.
Chủ thể thụ hưởng Người gửi tiền được bảo hiểm (bên thứ ba cho tổ chức tín dụng vay tài sản), không phải tổ chức đóng phí. Người tham gia bảo hiểm hoặc người thứ ba được chỉ định cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm.

Về phân loại hoạt động BHTG, luận án trình bày bốn cách phân loại:

  • Phân loại theo thẩm quyền và mục tiêu:
    1. Mô hình chuyên chi trả (Paybox): Chỉ thu phí và chi trả tiền bảo hiểm khi tổ chức sụp đổ; không có quyền giám sát (tương tự hoạt động Bảo Việt thực hiện theo Quyết định 101/TC-QĐ-BH).
    2. Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng (Paybox with extended powers): Bổ sung quyền kiểm tra tại chỗ, giám sát từ xa, cảnh báo sớm và tham gia xử lý tài sản (áp dụng tại Việt Nam, Đài Loan).
    3. Mô hình giảm thiểu rủi ro (Risk minimizer): Thẩm quyền toàn diện bao gồm thanh tra, giám sát, hỗ trợ tài chính, can thiệp nội bộ và tái cấu trúc (áp dụng tại Mỹ - FDIC, Canada - CDIA).
  • Phân loại theo hình thức sở hữu: Tổ chức BHTG nhà nước (thông dụng nhất, bảo đảm niềm tin công chúng), tư nhân (do Hiệp hội ngân hàng thành lập Quỹ bảo toàn tiền gửi mang tính tương hỗ), hoặc liên kết nhà nước - tư nhân.
  • Phân loại theo cách thức tham gia: Bắt buộc (tối ưu hóa chia sẻ rủi ro, loại trừ rủi ro lựa chọn đối nghịch) và Tự nguyện (thông qua hợp đồng BHTG nhưng tiềm ẩn rủi ro khi ngân hàng lớn rút lui).
  • Phân loại theo cách thức thực hiện hoạt động BHTG.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề pháp lí đặt ra

Chương 3 phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh BHTG tại Việt Nam từ năm 1994 đến thời điểm chuẩn bị và ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012. Tác giả khảo cứu ba nhóm nội dung trọng tâm:

  • Về chủ thể thực hiện và mô hình hoạt động: Pháp luật Việt Nam định hình BHTGVN là tổ chức tài chính nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, địa vị pháp lý của BHTGVN chưa thực sự độc lập; mối quan hệ phối hợp giữa BHTGVN, NHNN và cơ quan giám sát tài chính còn thiếu cơ chế chia sẻ thông tin định chế. Mô hình BHTG của Việt Nam dừng lại ở mức chi trả với quyền hạn mở rộng, chưa có đầy đủ công cụ pháp lý để thực hiện can thiệp sớm và hỗ trợ tài chính hiệu quả.
  • Về nội dung hoạt động BHTG: Đánh giá quy định về cấp và thu hồi Giấy chứng nhận BHTG; cơ chế thu nộp phí BHTG (tồn tại bất cập trong việc áp dụng mức phí đồng nhất thay vì phân hóa theo mức độ rủi ro); cơ chế quản lý, đầu tư và sử dụng quỹ BHTG; hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi còn thấp, chưa phản ánh đầy đủ quy mô tiền gửi của người dân; các biện pháp kiểm tra, giám sát và cảnh báo sớm còn hạn chế về quyền lực thực thi.
  • Về giải quyết tranh chấp: Pháp luật chưa quy định rõ ràng trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết các khiếu nại, tranh chấp phát sinh giữa người gửi tiền, tổ chức tham gia BHTG và BHTGVN, đặc biệt là khi xảy ra sự kiện BHTG và xử lý tài sản của tổ chức tín dụng.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật BHTG:

  • Yêu cầu và định hướng: Phù hợp với đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính thống nhất với Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và các luật kinh doanh liên quan; đáp ứng các nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI).
  • Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Nâng cao địa vị pháp lý và bảo đảm tính độc lập tương đối cho tổ chức BHTGVN; từng bước hoàn thiện các điều kiện pháp lý để chuyển đổi từ mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng sang mô hình giảm thiểu rủi ro.
    • Hoàn thiện quy định về phí BHTG: Nghiên cứu lộ trình chuyển đổi từ cơ chế phí đồng nhất sang cơ chế thu phí trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro của từng tổ chức tín dụng.
    • Điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG phù hợp với sự phát triển kinh tế vĩ mô và mức độ gia tăng của các khoản tiền gửi dân cư.
    • Tăng cường thẩm quyền kiểm tra, giám sát, tiếp cận thông tin giám sát từ xa của BHTGVN và quy định rõ cơ chế hỗ trợ tài chính, cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng gặp khó khăn thanh khoản.
    • Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động BHTG nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.
  • Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện: Tăng cường năng lực tài chính cho quỹ BHTG; hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy, phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu; xây dựng quy chế phối hợp, trao đổi thông tin chặt chẽ giữa BHTGVN, NHNN và Bộ Tài chính; đẩy mạnh tuyên truyền chính sách pháp luật BHTG đến công chúng.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án đã phát triển và hoàn thiện cơ sở lý luận của pháp luật về BHTG trong khoa học pháp lý Việt Nam; xác lập định nghĩa hoàn chỉnh về hoạt động BHTG với tư cách là hoạt động thực hiện chính sách công.
  • Luận giải rõ bản chất kinh tế (phân tán rủi ro theo nguyên lý số lớn bù số ít) và bản chất pháp lý đặc thù (quan hệ pháp luật ba bên, phi lợi nhuận) của hoạt động BHTG.
  • Thiết lập hệ thống năm tiêu chí phân định dứt khoát giữa hoạt động BHTG và hoạt động BHTM (mục tiêu, chủ thể thực hiện, chủ thể tham gia, phí bảo hiểm, chủ thể thụ hưởng).
  • Hệ thống hóa các mô hình hoạt động BHTG trên thế giới, chỉ rõ ưu điểm và điều kiện áp dụng của từng mô hình theo các tiêu chí phân loại về thẩm quyền, sở hữu và cách thức tham gia.

Về mặt thực tiễn và giải pháp:

  • Đánh giá có hệ thống thực trạng hệ thống văn bản pháp luật BHTG tại Việt Nam từ năm 1994 đến thời điểm ban hành Luật BHTG năm 2012, chỉ rõ những bất cập về địa vị pháp lý của BHTGVN, mô hình hoạt động và nội dung nghiệp vụ.
  • Tham chiếu kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Mỹ, Canada, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore) để đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật BHTG phù hợp với điều kiện Việt Nam.
  • Đưa ra các kiến nghị cụ thể về hoàn thiện cơ chế thu phí theo rủi ro, nâng hạn mức chi trả, mở rộng thẩm quyền giám sát và thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Luận án tập trung phân tích hệ thống văn bản pháp luật BHTG giai đoạn trước và tại thời điểm Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 được ban hành, nên chưa có điều kiện khảo sát thực tiễn áp dụng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật này sau khi có hiệu lực.
  • Do giới hạn nguồn tài liệu tiếp cận, việc phân tích pháp luật quốc tế tập trung chủ yếu vào các nền kinh tế phát triển và một số thị trường châu Á điển hình (Mỹ, Canada, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore), chưa khảo sát sâu toàn diện các quốc gia có mô hình chuyển đổi tương đồng với Việt Nam.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực thi của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 và các nghị định hướng dẫn trong thực tiễn tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.
  • Đi sâu nghiên cứu xây dựng các tiêu chí kỹ thuật và điều kiện pháp lý để áp dụng cơ chế tính phí bảo hiểm tiền gửi phân hóa theo mức độ rủi ro (risk-based premium) cho các ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng nhân dân.
  • Nghiên cứu quy chế phối hợp liên ngành giữa tổ chức BHTG với mạng an toàn tài chính quốc gia trong xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém và kiểm soát rủi ro hệ thống.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm tiền gửi và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Giới nghiên cứu và đào tạo luật học: Là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo phục vụ giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng trong việc tiếp cận lý luận và phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật BHTG.
  • Các tổ chức tín dụng và người gửi tiền: Hỗ trợ nhận thức rõ về địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ và cơ chế bảo hộ tiền gửi, từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất trong công trình là hệ thống lý luận phân định BHTG với BHTM, phân tích khía cạnh pháp lý của ba mô hình BHTG (Chương 2) và hệ thống luận chứng về chuyển đổi mô hình BHTG gắn với thẩm quyền giám sát rủi ro của BHTGVN (Chương 3 và Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm hoạt động bảo hiểm tiền gửi được tác giả luận án xác định như thế nào? Tác giả định nghĩa hoạt động BHTG là một loại hình hoạt động bảo hiểm, theo đó tổ chức BHTG bảo đảm thực hiện chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gốc và tiền lãi của các khoản tiền gửi cho người gửi tiền được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách công của nhà nước.

2. Điểm khác biệt mấu chốt giữa bảo hiểm tiền gửi và bảo hiểm thương mại theo luận án là gì? Sự khác biệt cốt lõi thể hiện ở năm khía cạnh: BHTG mang mục tiêu chính sách công phi lợi nhuận (BHTM tìm kiếm lợi nhuận); chủ thể thực hiện BHTG là tổ chức tài chính đặc thù của Nhà nước (BHTM là doanh nghiệp bảo hiểm); việc tham gia BHTG của tổ chức tín dụng mang tính bắt buộc luật định (BHTM chủ yếu tự nguyện); phí BHTG do pháp luật quy định, không được thỏa thuận (BHTM do các bên thỏa thuận); và người thụ hưởng BHTG là người gửi tiền - bên thứ ba (BHTM chủ yếu là chính người tham gia hoặc người được chỉ định).

3. Luận án phân chia các mô hình hoạt động BHTG theo thẩm quyền và mục tiêu gồm những loại nào? Luận án phân loại thành ba mô hình: Mô hình chuyên chi trả (chỉ thu phí và chi trả khi tổ chức phá sản, không có quyền giám sát); Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng (có thêm quyền kiểm tra tại chỗ, giám sát từ xa, cảnh báo sớm và tham gia xử lý tài sản); và Mô hình giảm thiểu rủi ro (thẩm quyền rộng nhất, bao gồm thanh tra, giám sát, hỗ trợ tài chính, can thiệp nội bộ và tái cấu trúc).

4. Vì sao luận án ủng hộ cơ chế bắt buộc tham gia BHTG đối với các tổ chức nhận tiền gửi? Luận án phân tích rằng dịch vụ BHTG là loại dịch vụ công không thuần túy có tính thụ hưởng không loại trừ, mang lại lợi ích chung cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Hình thức bắt buộc giúp bảo đảm năng lực tài chính cho quỹ BHTG thông qua đóng góp của số đông, tối ưu hóa cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các tổ chức lớn và nhỏ, đồng thời loại trừ được rủi ro lựa chọn đối nghịch (tránh tình trạng các ngân hàng lớn rút lui làm suy yếu quỹ).

5. Luận án dẫn chứng thực tiễn xử lý ngân hàng của FDIC (Mỹ) trong cuộc khủng hoảng năm 2008 nhằm chứng minh vai trò gì của BHTG? Luận án nêu dữ kiện tính đến hết tháng 9/2008 đã có 12 ngân hàng của Mỹ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động, nhưng chỉ vài ngày sau, toàn bộ tài khoản tiền gửi của khách hàng đã được tiếp nhận thông qua ngân hàng bắc cầu do FDIC thành lập hoặc ngân hàng khác được thỏa thuận trước. Dữ kiện này chứng minh vai trò của BHTG trong việc phản ứng nhanh chóng, ngăn ngừa hoang mang dư luận và trực tiếp tham gia tái cấu trúc ngân hàng mà không làm đình trệ giao dịch của người gửi tiền.

Kết luận

Luận án "Pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về phương diện pháp lý của hoạt động BHTG tại Việt Nam từ mốc khởi đầu năm 1994 đến thời điểm ban hành Luật BHTG năm 2012. Công trình đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý của quan hệ BHTG, hệ thống hóa các mô hình BHTG quốc tế và phân định rõ ràng giữa BHTG với BHTM. Trên cơ sở chỉ ra các điểm bất cập trong thực tiễn pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý, thẩm quyền giám sát và cơ chế phí, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính - ngân hàng quốc gia.