Tổng quan luận án
Đề tài "Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thương Huyền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hoàng Ngọc Thiết và TS. Trần Đình Hảo, bảo vệ năm 2002 tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 5.15.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN VỀ LUẬN ÁN |
+----------------------+----------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài | Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế giá trị gia tăng ở |
| | Việt Nam |
| Tác giả | Nguyễn Thị Thương Huyền |
| Chuyên ngành | Luật Kinh tế (Mã số: 5.15) |
| Cơ quan đào tạo | Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật |
| Cơ sở lưu trữ | Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội |
| Cán bộ hướng dẫn | 1. Hoàng Ngọc Thiết; 2. Trần Đình Hảo |
| Năm hoàn thành | 2002 |
+----------------------+----------------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một sắc thuế gián thu hiện đại đã được áp dụng tại hơn 120 quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra định hướng tiếp tục đổi mới chính sách thuế theo hướng bảo đảm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN), khuyến khích sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tiết kiệm và áp dụng thuế GTGT thay thế cho thuế doanh thu.
Sau gần 3 năm triển khai áp dụng Luật thuế GTGT kể từ ngày có hiệu lực, thực tiễn đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc. Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đó mới chỉ tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế - tài chính hoặc kỹ thuật quản lý tình thế. Các khía cạnh pháp lý cốt lõi liên quan đến cơ chế điều chỉnh pháp luật và bảo đảm thực thi chưa được giải quyết thấu đáo. Tình trạng gian lận, chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT từ NSNN với quy mô lên tới hàng trăm tỷ đồng qua kẽ hở khấu trừ và hoàn thuế đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu có hệ thống mô hình điều chỉnh pháp luật thuế GTGT dưới lăng kính khoa học pháp lý.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về áp dụng thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật thực định và đưa ra hệ thống phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng cơ chế bảo đảm thực hiện tại Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ khoa học:
- Xây dựng hệ thống lý luận về áp dụng thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT, tập trung vào các nội dung chủ yếu trong sự điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT.
- Đánh giá thực trạng điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT và triển khai áp dụng ở Việt Nam thông qua phân tích các quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành.
- Phân tích các yêu cầu khách quan, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp và các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện Luật thuế GTGT và cơ chế bảo đảm thực thi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình điều chỉnh pháp luật và thực thi nghĩa vụ thuế GTGT; hệ thống quy phạm pháp luật thuế GTGT và cơ chế bảo đảm thực hiện.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn tập trung vào 4 mảng vấn đề pháp lý trọng tâm:
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT;
- Thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT;
- Mức độ (phạm vi) nghĩa vụ thuế GTGT (căn cứ tính thuế, thuế suất, phương pháp tính, khấu trừ và hoàn thuế);
- Cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật thuế GTGT tại Việt Nam từ giai đoạn chuẩn bị, thí điểm đến giai đoạn triển khai thực tế gần 3 năm (tính đến năm 2002), có so sánh đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong quá trình chuẩn bị áp dụng và ban hành sắc thuế này, tại Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học được công bố:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính (1993): "Mô hình áp dụng thuế trị giá gia tăng ở Việt Nam".
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện Khoa học Tài chính – Bộ Tài chính (1993): "Thuế trị giá gia tăng và vấn đề áp dụng ở Việt Nam".
- Báo cáo khảo sát của Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính (1993): "Báo cáo khảo sát về thuế trị giá gia tăng ở các nước: Pháp, Thụy Điển, Trung Quốc".
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Mai Ngọc Lý (1996): "Khả năng áp dụng thuế trị giá gia tăng trong điều kiện Việt Nam hiện nay".
- Công trình của PTS. Nguyễn Xuân Nhựt (1997): "Thuế GTGT trên thế giới và mô hình áp dụng tại Việt Nam" (NXB Tài chính).
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Dung (2000): "Hoàn thuế GTGT - thực trạng và giải pháp".
- Luận văn thạc sĩ luật học của Lê Thị Bích Liên (2001): "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam".
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Phần lớn các công trình trên thuộc lĩnh vực kinh tế - tài chính, tập trung phân tích ưu nhược điểm kinh tế, khả năng động viên ngân sách, so sánh với thuế doanh thu hoặc kinh nghiệm quản lý thu thuế. Các khía cạnh pháp lý hầu như còn bỏ ngỏ hoặc chưa được lý giải thỏa đáng. Một số nghiên cứu luật học trước đó ở cấp cử nhân hoặc thạc sĩ mới dừng lại ở việc tìm hiểu nội dung quy định thực định, thiếu vắng mảng lý luận điều chỉnh pháp luật hoàn chỉnh để làm thước đo đánh giá. Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền là công trình chuyên khảo tiến sĩ đầu tiên tiếp cận và giải quyết toàn diện vấn đề dưới góc độ và phương pháp luận của khoa học pháp lý.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận điều chỉnh pháp luật, kết hợp với các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới kinh tế và cải cách hệ thống thuế.
Các khái niệm và cơ sở lý thuyết trọng tâm gồm:
- Khái niệm thuế dưới góc độ pháp lý: Thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá nhân phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào NSNN khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành do luật thuế quy định.
- Bản chất pháp lý của GTGT: Phân định rõ giữa GTGT về mặt lý thuyết (bao gồm tiền công và lợi nhuận) với GTGT được thiết kế trong luật thuế (đánh vào giá trị trao đổi tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi có hành vi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc cung cấp dịch vụ).
- Khái niệm áp dụng thuế GTGT: Là tổng thể các hoạt động nhằm đưa thuế GTGT vào cuộc sống, bao gồm hoạt động xây dựng, ban hành luật, tổ chức thực hiện luật và cơ chế bảo đảm thực hiện (thực chất là nghiên cứu sự điều chỉnh pháp luật).
- Lý thuyết về sự kiện pháp lý và 4 thuộc tính của hình thức cung ứng chịu thuế (dựa trên quan điểm của GS. Richard Krever, Đại học Deakin):
- Nhà cung ứng là đối tượng có đăng ký;
- Hoạt động cung ứng được thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh;
- Hoạt động cung ứng thực hiện trên cơ sở có đi có lại (có nghiệp vụ thanh toán);
- Hoạt động cung ứng không thuộc diện miễn thuế.
- Phân loại 4 nhóm hình thức cung ứng trong pháp luật:
- Hình thức cung ứng chịu thuế GTGT;
- Hình thức cung ứng ngoài diện chịu thuế;
- Hình thức cung ứng được miễn trừ thuế;
- Hình thức cung ứng áp dụng thuế suất 0%.
+----------------------------------------------------------------------------------------+
| BỐN NHÓM HÌNH THỨC CUNG ỨNG TRONG PHÁP LUẬT THUẾ GTGT |
+---------------------+-------------------------------+----------------------------------+
| Phân loại cung ứng | Thuế đầu ra | Khấu trừ / Hoàn thuế đầu vào |
+---------------------+-------------------------------+----------------------------------+
| Chịu thuế tiêu chuẩn| Tính theo thuế suất quy định | Được khấu trừ thuế đầu vào |
| Ngoài diện chịu thuế| Không thuộc phạm vi điều chỉnh| Không thuộc phạm vi khấu trừ |
| Miễn trừ thuế | Không phải thu thuế đầu ra | Không được khấu trừ thuế đầu vào |
| Thuế suất 0% | Thuế suất 0% khi xuất bán | Được hoàn toàn bộ thuế đầu vào |
+---------------------+-------------------------------+----------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp cụ thể: Phương pháp tư duy trừu tượng, phân tích - tổng hợp, so sánh luật học, đối chiếu, diễn giải, quy nạp và kiểm chứng thực tiễn.
- Tư liệu và dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp 1992, Luật thuế GTGT 1997, Luật thuế Doanh thu cũ, Bộ luật Dân sự 1995, các Nghị định, Thông tư, Công văn hướng dẫn của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan); các số liệu thực tiễn quản lý thu, hoàn thuế tại Việt Nam; tài liệu và kinh nghiệm lập pháp quốc tế của các nước Pháp, Thụy Điển, Canada, Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Singapore và Hoa Kỳ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về áp dụng thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị gia tăng
Chương 1 dày 66 trang, tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho toàn bộ luận án:
- Bản chất và các đặc trưng pháp lý của thuế GTGT:
- Đặc trưng 1: Thuế chỉ đánh vào giá trị trao đổi tăng thêm ở từng khâu luân chuyển chứ không đánh vào toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ. Tác giả chỉ ra sự thoái ly tương đối giữa giá trị và giá trị trao đổi, khẳng định luật thực định buộc phải dựa vào giá trị trao đổi (thể hiện qua giá bán) làm căn cứ tính thuế.
- Đặc trưng 2: Thuế GTGT là thuế gián thu đánh trên diện rộng. Phân biệt rõ tư cách pháp lý độc lập giữa người nộp thuế (chủ thể kinh doanh, đóng vai trò trung gian thu hộ nhà nước) và người chịu thuế (người tiêu dùng cuối cùng). Luận án phân tích ngưỡng chịu thuế ở các nước nhằm giảm chi phí hành chính (Thái Lan: 600.000 Baht, Philippines: 200.000 Peso, Thụy Điển: 200.000 SEK, Canada: 30.000 CAD). Phân tích sự khác biệt giữa áp dụng toàn phần (Pháp, Thụy Điển) và áp dụng từng phần theo ngành (Trung Quốc giai đoạn 1980 - 1986, Indonesia giai đoạn 1985 - 1993).
- Đặc trưng 3: Tính liên hoàn và trung lập kinh tế cao. Thuế đầu ra của bên bán là thuế đầu vào của bên mua. Thuế không cấu thành chi phí của doanh nghiệp và không phụ thuộc vào số lượng các khâu trung gian trong chu trình kinh tế.
- Khái niệm và điều kiện áp dụng thuế GTGT:
- Khái niệm áp dụng thuế GTGT bao quát từ khâu lập pháp đến khâu tổ chức thực hiện và cơ chế bảo đảm.
- 5 điều kiện áp dụng khắt khe: (1) Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường; (2) Trình độ quản lý và sử dụng sổ sách, hóa đơn chứng từ; (3) Ý thức chấp hành pháp luật của người dân và doanh nghiệp; (4) Năng lực cán bộ và hiện đại hóa công nghệ thông tin ngành thuế; (5) Môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn thiện.
- Lược sử phát triển: Đề xuất ban đầu của Carl Friedrich von Siemens (Đức, 1918), công trình của TS. Chao (Mỹ, 1947), dự thảo luật tại Nhật Bản (1953), chính thức áp dụng đầu tiên tại Pháp (1954), mở rộng sang hơn 120 nước. Luận án cũng lý giải nguyên nhân Mỹ chưa áp dụng thuế GTGT do cơ cấu thuế doanh thu của các tiểu bang và thuế chỉ đánh ở khâu bán lẻ.
- Các nội dung chủ yếu trong sự điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT:
- Sự kiện pháp lý: Là hành vi chuyển giao hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ có thanh toán.
- Thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế: Luận án phân tích 3 phương án xác định thời điểm:
- Thời điểm giao hàng/cung cấp dịch vụ: Không đồng nhất với chuyển quyền sở hữu (dẫn chứng Bộ luật Dân sự 1995 Điều 432; các trường hợp cho thuê tài sản, gia công, gửi giữ, điều chuyển nội bộ, đại lý môi giới). Nếu xác định nghĩa vụ thuế khi chưa thanh toán sẽ buộc người kinh doanh phải ứng trước tiền nộp thay người tiêu dùng khi chưa có thu nhập.
- Thời điểm xuất hóa đơn: Là căn cứ pháp lý xác lập quyền đòi tiền và ghi nhận thu nhập.
- Thời điểm thanh toán: Phù hợp với bản chất thu nhập nhưng làm mất tính chất động viên kịp thời của thuế gián thu.
- Kết luận của tác giả: Đối với chuyển giao hàng hóa, thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế là thời điểm xuất hóa đơn (gắn liền với hành động chuyển giao hàng hóa thực tế). Đối với dịch vụ (do tính chất phi vật thể, tiêu dùng đồng thời khi cung cấp), thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế gắn liền với thời điểm thanh toán (thu tiền).
- Mức độ nghĩa vụ thuế: Phân tích cơ sở tính thuế (giá chưa thuế và giá đã gồm thuế), ưu - nhược điểm của hệ thống một mức thuế suất chuẩn so với hệ thống nhiều mức thuế suất (thuế suất tiêu chuẩn 10 - 20%, ưu đãi 5 - 7%, đặc biệt ưu đãi dưới 5%, điều tiết trên 20%).
Chương 2: Thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế giá trị gia tăng và việc triển khai áp dụng ở Việt Nam
Chương 2 phân tích thực trạng pháp luật thực định và đánh giá 3 năm thi hành Luật thuế GTGT tại Việt Nam:
- Khái lược quá trình lập pháp: Đánh giá bước chuyển từ Luật thuế Doanh thu sang Luật thuế GTGT, việc ban hành các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính và hệ thống Công văn hướng dẫn nghiệp vụ.
- Đánh giá phạm vi điều chỉnh và đối tượng chịu thuế: Tồn tại sự chồng chéo, chưa rõ ràng giữa các nhóm hàng hóa thuộc diện chịu thuế, không chịu thuế và miễn thuế.
- Thực trạng căn cứ tính thuế, thuế suất và phương pháp tính: Phản ánh sự phức tạp khi áp dụng đồng thời nhiều mức thuế suất và hai phương pháp tính thuế (phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp trên GTGT), gây lúng túng cho cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ.
- Bất cập trong cơ chế khấu trừ và hoàn thuế: Luận án chỉ ra kẽ hở lớn trong quản lý hóa đơn chứng từ dẫn đến hiện tượng thành lập doanh nghiệp "ma", mua bán hóa đơn GTGT khống nhằm chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng tiền hoàn thuế từ NSNN.
- Thực trạng đăng ký, kê khai, nộp thuế và quản lý hóa đơn: Công tác quản lý hành chính còn nặng tính thủ công, thiếu kết nối mạng dữ liệu liên thông giữa cơ quan thuế, hải quan và kho bạc nhà nước.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng và cơ chế bảo đảm thực hiện
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện trên hai phương diện lập pháp và tổ chức thi hành:
+----------------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THEO ĐỀ XUẤT CỦA LUẬN ÁN |
+----------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ GTGT |
| - Sửa đổi, bổ sung phạm vi điều chỉnh và phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế. |
| - Bổ sung quy định rõ ràng về thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế (tách riêng hàng |
| hóa và dịch vụ). |
| - Tinh giản biểu thuế suất, mở rộng diện áp dụng thuế suất chuẩn, hạn chế diện miễn.|
| - Hoàn thiện căn cứ tính thuế, chuẩn hóa quy trình khấu trừ và siết chặt hoàn thuế.|
| - Cải tiến quy định đăng ký, kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế. |
+----------------------------------------------------------------------------------------+
| 2. HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN |
| - Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ quản lý thuế. |
| - Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm hoàn thuế. |
| - Hiện đại hóa công tác quản lý thuế bằng công nghệ tin học, kết nối mạng dữ liệu. |
| - Tăng cường quản lý, phát hành và kiểm soát hóa đơn, chứng từ GTGT. |
| - Phát triển mạng lưới dịch vụ tư vấn thuế (TVT) chuyên nghiệp. |
+----------------------------------------------------------------------------------------+
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về thuế GTGT dưới góc độ khoa học pháp lý.
- Phân tích và làm rõ bản chất pháp lý của thuế GTGT, chứng minh sự khác biệt mang tính quy luật giữa khái niệm GTGT trong kinh tế học và GTGT được lượng hóa qua giá trị trao đổi trong luật thực định.
- Xây dựng khái niệm khoa học về áp dụng thuế GTGT, xác lập khung lý luận điều chỉnh pháp luật gồm 4 cấu phần: sự kiện pháp lý, thời điểm phát sinh nghĩa vụ, mức độ nghĩa vụ và cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế.
- Về mặt thực tiễn:
- Nhận diện chính xác các lỗ hổng lập pháp trong cơ chế khấu trừ, hoàn thuế và quản lý hóa đơn chứng từ ở giai đoạn đầu áp dụng Luật thuế GTGT tại Việt Nam.
- Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Đề xuất mô hình dịch vụ tư vấn thuế (đại lý thuế) và lộ trình tin học hóa quản lý thuế tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu trong phạm vi 4 mảng vấn đề pháp lý chủ yếu dựa trên thực tiễn gần 3 năm đầu áp dụng Luật thuế GTGT (giai đoạn 1999 - 2002).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án gợi mở việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề pháp lý mới phát sinh khi nền kinh tế hội nhập sâu rộng, đặc biệt là việc xác định ranh giới giữa cung ứng hàng hóa và dịch vụ trong các phương thức kinh doanh mới như thương mại điện tử qua Internet.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước (Quốc hội, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế): Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi Luật thuế GTGT, hoàn thiện quy trình kiểm tra, thanh tra hoàn thuế và thiết kế chính sách thuế suất hợp lý.
- Đối với cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Tài liệu tham khảo nền tảng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân sách và Khoa học Thuế.
- Đối với doanh nghiệp và chuyên gia tư vấn: Hỗ trợ nhận thức đúng đắn về quyền, nghĩa vụ pháp lý, quy trình lập hóa đơn, kê khai và quyết toán thuế GTGT.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm GTGT trong lý thuyết kinh tế và GTGT trong luật thuế thực định như thế nào?
Về mặt lý thuyết kinh tế, GTGT bao gồm tiền công (sức lao động sống) và lợi nhuận cộng thêm vào lao động quá khứ. Tuy nhiên, trong thực tiễn pháp lý, việc đo lường hao phí lao động trừu tượng là không khả thi. Do đó, luật thuế của Việt Nam và các nước đều thiết kế thuế GTGT đánh trên giá trị trao đổi tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ tại từng khâu luân chuyển, biểu hiện cụ thể bằng giá bán (giá tính thuế) ghi nhận trên hóa đơn chứng từ.
2. Bốn thuộc tính xác định một hình thức cung ứng chịu thuế GTGT theo nghiên cứu của luận án là gì?
Dựa trên lý thuyết của GS. Richard Krever, một hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT khi thỏa mãn 4 thuộc tính:
- Nhà cung ứng là đối tượng có đăng ký kinh doanh/mã số thuế;
- Hoạt động cung ứng được thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh (không phải tiêu dùng cá nhân);
- Hoạt động cung ứng thực hiện trên cơ sở có đi có lại (có thanh toán bằng tiền, hàng hoặc dịch vụ);
- Hoạt động cung ứng không thuộc danh mục được cơ quan lập pháp xét miễn trừ thuế.
3. Tại sao luận án đề xuất thời điểm tính thuế khác nhau giữa hàng hóa và dịch vụ?
Hàng hóa tồn tại dưới dạng vật thể xác định, quyền chiếm hữu và sở hữu có thể chuyển giao rõ ràng, do đó thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế gắn với thời điểm xuất hóa đơn giao hàng. Ngược lại, dịch vụ mang tính phi vật thể, quá trình cung cấp và tiêu dùng diễn ra đồng thời, rất khó xác định thời điểm hoàn thành nếu không có căn cứ thanh toán; do đó, thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế đối với dịch vụ gắn liền với thời điểm thanh toán (thu tiền).
4. Luận án chỉ ra nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến việc gian lận hoàn thuế GTGT hàng trăm tỷ đồng?
Nguyên nhân bắt nguồn từ sự lỏng lẻo trong khâu quản lý hóa đơn chứng từ và cơ chế hậu kiểm hoàn thuế; sự thiếu hụt phương tiện quản lý tin học nối mạng giữa cơ quan thuế, kho bạc và hải quan; cùng với việc các đối tượng lợi dụng tính chất khấu trừ liên hoàn của thuế GTGT để thành lập doanh nghiệp "ma" và mua bán hóa đơn khống nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ NSNN.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về các vấn đề pháp lý của thuế GTGT tại Việt Nam. Luận án đã xây dựng thành công khung lý luận về điều chỉnh pháp luật thuế GTGT, làm rõ bản chất pháp lý của đối tượng nộp thuế, sự kiện pháp lý và thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế. Đồng thời, công trình cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp và quản lý thực thi có giá trị tham khảo sâu sắc cho quá trình hoàn thiện chính sách thuế gián thu của Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế.