Chương 1: Những van dé lý luận chung về. áp dụng thuế gid trị gia tảng và pháp luật thuê giá tri eta tang. Chương 2: Thực trạng điều chính pháp luật thuế gia trị gia tang và triển khai áp dụng ở Việt Nam. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế siá trị gia tăng và cơ che bao dam thực hiện.
— | Chương NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁP DỤNG THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. MỘT SỐ VAN DE CƠ BẢN VỀ THUẾ GIA TRI GIA TANG VA ÁP DỤNG THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Về khái niệm, nội dung, bản chất của thuế giá trị gia tăng Sự xuất hiện của thuế trong nhân loại luôn gan liền với nhu cầu chỉ tiêu của nhà nước và chức nang điều hành quản lý KT-XH của nhà nước. Ang-ghen đã chi rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng cần có sự đóng sóp của những người công dân cho nhà nước, đó là thuế má.
Vì vậy việc ấn định các thứ thuế và trực tiếp thực hiện thu thuế của nhà nước là một trong những dấu hiệu cơ bản của nhà nước. Với dấu hiệu cơ bản đó, cùng với các dấu hiệu khác khiến cho nhà nước khác với các tổ chức tién nhà nước cũng như các 16 chứœtôn tại song hành cùng nhà nước trong hệ thống chính trị của một. Mặc dù sự ra đời của thuế mang tính tất yếu khách quan, song cũng phải thấy rằng quan niệm về thuế mỗi thời mỗi khác. Trong thời kỳ cổ dại, khi sức sản xuất chưa phát triển, quan hệ trao đổi diễn ra chủ yếu dưới hình thức hiện vật thì ý niệm về thuế khoá rất đơn giản và thuế phần lớn được thể hiện đưới đạng hiện vật và lao vụ.
Bước sang thời kỳ hiện đại cùng với việc mở rộng các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và sự phát triển của các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, các hình thức thuế ngày cang đa dang, phong phú và đã được tiền tệ hoá, nên trong thời kỳ này phần lớn thuế được thể hiện dưới hình thức giá tị. Cho đến nay vẫn caưa có sự thống nhất tuyệt doi về khái niệm thuế, bởi thuế được nhìn nhận ở các giác độ khác nhau. Ở giác dò KT-TC, thuế thường được hiểu là một khoản chuyển giro thu nhập bat buộc của các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cụng [16S, tr.11], Còn dưới giác độ pháp lý, chúng tôi cho rằng thuế là nghĩa vụ pháp lý của⁄ các tô chức và cá nhân phải chuyển một phần tài sản thuộc QSH của mình vào NSNN khi có day dt các yếu tổ cấu thành do luật thuế quy dinh. Lich sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng: khi ban than các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển thì chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cũng ngày càng mở rộng với các sắc thái và bình diện khác nhau.
Theo đó, thuế với tư cách là công cụ cơ bản trong việc quản lý, diéu hành xã hội của nhà nước cũng ngày càng phát triển. Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng thuế để quản lý, điều hành xã hội đạt đến trình độ nghệ thuật và không chỉ dừng lại trong phạm vi từng nước mà còn mang tầm vóc quốc tế. Vì vậy, một trong những nội dung quan trong trong việc thiết lập các mối quan hệ giữa các nước, giữa từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu đó là vấn đề thuế khoá. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay thuế không chỉ đơn thuần là một hiện tượng quốc gia mà còn là một hiện tượng quốc tế.
Sự cạnh tranh qua thuế giữa các quốc gia là xu thế phát triển tất yếu của nhân loại. Cũng chính vì lẽ đó mà các sắc thuế tiên tiến, khoa học đã lần lượt ra đời. Trong đó thuế GTGT được đánh giá là một trong những sac thuế tiên tiến, khoa học hiện nay. Thuật ngữ thuế TT tiếng Pháp là Taxe sur la Valeur Ajoutée (TVA), tiếng Anh là Value Added Tax (VAT), thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, đánh vào việc sử dụng thu nhập, tức đánh vào việc tiêu đàng hàng hoá, dịch vụ mà cụ thể là đánh vào hành vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ.
Đặc trưng thứ nhất của thuéGTGT là chỉ đánh vào giá tri gia tăng. Hiên nay có rất nhiều quan điểm về GTGT, tất nhiên những quan điểm nay đều là kết quả nghiên cứu của khoa học KT-TC [xem phụ lục số 1]. Các quan điểm này được phát biểu và phong cách diễn đạt có khác nhau, song đều có những điểm chung nhất là: - GTGT là giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ. - GTGT được tạo ra trong các khâu sản xuất và lưu thông.
Nhưng giữa các quan điểm trên có sự khác nhau trong việc xác định thành phần của GTGT, cụ thể: |. GTGT g6m: nguyên, nhiên vật liệu; sức lao động và lợi nhuận. Theo quan điểm này ở giai đoạn đầu GTGT chủ yếu được tạo nên bằng nguyên, nhiên vật 2 liệu, còr các giải đoạn sau gia trị tang thêm chu yếu đo sức lao động va lợi nhuận tạo nên. GTGT gồm tiền công và lợi nhuận.
Theo quan điểm này thì GTGT chỉ đơn thuần là giá trị mà người sản xuất thêm vào những nguyên vật liệu thô hay những sản phan mua được trước khi bán một sản phẩm hay dich vu. Thco quan điểm của chúng tôi, những yếu tố (thành phần) để tạo ra giá trị của một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ gồm nguyên, nhiên vật liệu, sức lao động và lợi nhuận, trong đó nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng, bởi sản phẩm của giai đoạn sản xuất này là nguyên vật liệu của giai đoạn sản xuất tiếp theo và sản phẩm của giai đoạn tiếp theo lại trở thành nguyên vật liệu của giai đoạn tiếp sau nữa. Nhưng GTGT thì chỉ đơn thuần là lao động sống và lợi nhuận, theo đó thuật ngữ GTGT còn được hiểu là giá trị cộng thêm vào tức phần lao động sống và lợi nhuận được thêm vào lao động quá khứ - lao động vật hoá. Và thuế GTGT là thuế đánh trén phần giá trị tăng thêm đó.
Song trong thực tế, việc xác định GTGT trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, dict vụ là rất khó khăn và không thể chính xác. Tuy nhiên để đo lường lượng lao động đã hao phí để tạo ra sản phẩm đó, người ta có thể dùng thời gian lao động để Jo (gid, ngày, tháng lao động) hoặc dùng đồng tiền để đo thông qua việc trao đổi va đây là cách do lường giá trị của sản phẩm hàng hoá phổ biến nhất. Như vậy khi nột sản phẩm hàng hoá được biểu hiện bằng một số tiền thì không có nghĩa đó là giá trị của sản phẩm hàng hoá mà thực chất đó là giá trị trao đổi của sản phần hàng hoá đó. Nên GTGT chỉ có thể xác định được thông qua giá trị trao đổi.
Tất ›hiên giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của gid trị, song không thể đồng nhét chúng với nhau. Bởi có nhiều trường hợp gid trị gia tăng nhưng giá trị trao đổi vẫn không thay đổi như người ta có thể gia công thêm cho hàng hoá nhưng gii bán ra vẫn khong thay đổi; hoặc ngược lại, giá trị không gia tăng nhưng oid trị tro đổi gia tăng, điều này phụ thuộc vào giá trị sử dụng của vật, thị hiếu của khác hàng và quan hệ cung cầu trên thị trường. Tức G đây có su gia tăng không cing chiều (không theo cùag một ti lệ) giữa gid trị và giá trị trao đổi, nghĩa là có sự tioát ly tương đối giữa giá trị trao đổi và gid trị. Mặt khác giá trị có pid trị cá biệt của từng nhà sản xuất nhưng gid trao đổi chỉ là sự thừa nhận chung của xã hội tại mt thời điểm nhất định nào đó đối với những sản phẩm cùng.
chủng loại đặc tính |5. Vì vậy, Luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay cũng như Luật thuế GTGT của các nước trên thế giới đều được thiết kế theo giá trị trao đổi của hàng hoá dịch vụ, mà giá trị trao đổi của sản phẩm hàng hoá dịch vụ chính là trị giá của hàng hoá dịch vụ đó, tức biểu hiện bằng tiền của hàng hoá dịch vụ đó. Chính vì lẽ đó mà một trong những cơ sở tính thuế GTGT là giá tính thuế (có thé là giá bán hàng chưa có thuế GTGT hoặc giá bán hàng đã có thuế GTGT). Do vậy, cho đến trước khi Luật thuế GTGT được thông qua, ở Việt Nam vẫn tồn tại thuật ngữ thuế “trị giá gia tăng” cả trong văn phong giao tiếp hằng ngày cũng như trong các sách, báo, tạp chí khoa học [185, tr.343], và đặc biệt trong chế độ áp dụng thí điểm thuế GTGT và tat cả những tờ trình của BTC, của Chính phủ đều dùng thuật ngữ thuế “trị giá gia tăng” [28].
Hiện nay trong giới khoa học ở nước ta vẫn còn những luồng ý kiến khác nhau về tên gọi của luật thuế này là Luật thuế GTGT hay Luật thuế trị piá gia tăng cũng vì lẽ đó. Theo đó, khi thực hành thu thuế GTGT, pháp luật các nước đều định nghĩa thuế GTGT dựa theo phương pháp tính thuế của nó (chủ yếu theo phương pháp khấu trừ). Thuế GTGT được hiểu là thuế đánh từng phần theo mỗi khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ bằng một tỷ lệ phần trăm trên giá bán của hàng hoá, dịch vụ khi được mua bán, trao đổi do người tiêu dùng cuối cùng chịu và được các nhà SXKD nộp vào NSNN sau khi đã khấu trừ phần thuế đã nộp của các bộ phận cấu thành của giá thành hoặc chi phí. Tức thuế GTGT đánh trên giá trị trao đổi tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất, lưu thông và đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu được ở các công đoạn (các khâu) sẽ khớp với số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.