Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ âm nhạc học "Các tác phẩm hòa tấu thính phòng Việt Nam" (Mã số: 62 21 02 01) do tác giả Phạm Nghiêm Việt Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Tú Hương, bảo vệ tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong lịch sử âm nhạc phương Tây, thể loại hòa tấu thính phòng được định hình từ giữa thế kỷ XVI và phát triển qua các thời kỳ Baroque, Cổ điển Viên (Franz Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig Van Beethoven), Lãng mạn (Johannes Brahms, Antonín Dvořák, Bedřich Smetana, Edvard Grieg, César Franck, Alexander Borodin, Sergei Rachmaninov) và thế kỷ XX (Achille Claude Debussy, Maurice Ravel, Max Reger, Béla Bartók, Sergey Prokofiev, Dmitry Shostakovich). Ngược lại, nền âm nhạc thính phòng - giao hưởng Việt Nam hình thành muộn hơn. Dù có những tiền đề từ thập niên 1940, thể loại này chỉ thực sự phát triển từ những năm 1960 tại miền Bắc sau khi Trường Âm nhạc Việt Nam được thành lập năm 1956.
Đội ngũ nhạc sĩ sáng tác khí nhạc chuyên nghiệp của Việt Nam được đào tạo trong nước và tại các quốc gia như Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, Trung Quốc, bao gồm nhiều thế hệ:
- Thế hệ tiền bối: Tạ Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Đình Phúc, Đỗ Nhuận.
- Thế hệ tiếp nối: Huy Du, Nguyễn Đình Tấn, Hoàng Vân, Trần Ngọc Xương, Hoàng Đạm, Đàm Linh, Trọng Bằng, Hoàng Việt, Hoàng Dương, Nguyễn Văn Nam, Vĩnh Cát, Thế Bảo, Chu Minh, Nguyễn Thị Nhung, Ca Lê Thuần, Doãn Nho, Minh Khang, Nguyễn Thụy Loan.
- Thế hệ thời kỳ Đổi mới: Nguyễn Cường, Đỗ Hồng Quân, Đặng Hữu Phúc, Trọng Đài, Đức Trịnh.
- Thế hệ nhạc sĩ trẻ: Vũ Nhật Tân, Trần Kim Ngọc, Trần Mạnh Hùng, Đỗ Kiên Cường, Trần Lưu Hoàng.
Mặc dù số lượng tác phẩm hòa tấu thính phòng đã phát triển ở nhiều thể loại và hình thức, tần suất xuất hiện của các tác phẩm này trong chương trình biểu diễn thính phòng trong nước và các liên hoan âm nhạc quốc tế vẫn còn hạn chế. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nghiên cứu tổng quát, có hệ thống nào đi sâu phân tích toàn diện các tác phẩm hòa tấu thính phòng của nhạc sĩ Việt Nam từ ngôn ngữ âm nhạc, nguyên tắc phối hợp nhạc cụ, thủ pháp hòa âm đến việc vận dụng chất liệu dân gian.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích tác phẩm nhằm đưa ra nhận định về sự tiếp thu, vận dụng các thủ pháp sáng tác hòa tấu thính phòng phương Tây và những sáng tạo của các nhạc sĩ Việt Nam trong việc biến đổi các thủ pháp đó cho phù hợp với ngôn ngữ âm nhạc dân tộc; đồng thời giới thiệu một số tác phẩm để bổ sung tài liệu giảng dạy cho bộ môn Hòa tấu tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 nội dung:
- Sơ lược lịch sử phát triển âm nhạc hòa tấu thính phòng Việt Nam - Tổng quan tình hình nghiên cứu.
- Một số hình thức hòa tấu và phương thức hòa tấu nhạc cụ thông qua các tác phẩm hòa tấu thính phòng Việt Nam.
- Một số phương thức xây dựng chủ đề và các thủ pháp phát triển trong các tác phẩm hòa tấu thính phòng Việt Nam.
- Tìm hiểu về đặc điểm hòa âm trong các tác phẩm hòa tấu thính phòng Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số thủ pháp và nguyên tắc sáng tác trong các tác phẩm hòa tấu thính phòng Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Thể loại và khí cụ: Các tác phẩm hòa tấu thính phòng trong nền âm nhạc mới Việt Nam viết cho nhạc cụ phương Tây, đáp ứng các tiêu chí: đã in ấn, xuất bản, biểu diễn, thu âm; được giải thưởng của các Hội âm nhạc chuyên nghiệp; hoặc được sử dụng làm giáo trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các cơ sở đào tạo âm nhạc khác.
- Phạm vi lịch sử - địa lý: Luận án tập trung vào các tác phẩm được sáng tác trong bối cảnh miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa và sau năm 1975 trên phạm vi cả nước. Luận án không đề cập đến các sáng tác của nhạc sĩ tại miền Nam giai đoạn 1954–1975 do tác giả không có điều kiện tiếp cận tư liệu và bản in.
- Dữ liệu khảo sát: Luận án chọn lọc và phân tích 76 tác phẩm hòa tấu thính phòng sưu tầm được.
- Giới hạn nội dung: Luận án không đi sâu vào cấu trúc - hình thức tác phẩm để tránh trùng lặp với các công trình đã công bố trước đó.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại
Tác giả hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu liên quan thành ba nhóm:
Nhóm 1: Tài liệu lý thuyết và lịch sử hòa tấu thính phòng phương Tây
- Công trình chuyên khảo quốc tế: Intimate music - A history of Idea of Chamber music của J. Baron (1998, Nxb Pendragon); Chamber Music: An Essential History của M. Radice (2012, Nxb Đại học Michigan); Guide de la musique de chambre do Francois-René Tranchefort phụ trách biên soạn (1989, Nxb Fayard).
- Sách dịch và chuyên khảo tiếng Việt: Các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng của Hồng Đăng (1972, Nxb Văn hóa); Những vấn đề của nghệ thuật phối dàn nhạc (Tập I, II) của Ma-rin Gô-lê-mi-nốp do Tô Hải dịch (1972, Nxb Văn hóa).
Nhóm 2: Các công trình sách chuyên khảo về âm nhạc Việt Nam
- Âm nhạc mới Việt Nam - tiến trình và thành tựu do Tú Ngọc chủ biên cùng Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên (2000): tổng kết quá trình hình thành nền âm nhạc mới từ thập niên 1930 đến hết thế kỷ XX, nêu bật đặc điểm có tiêu đề của khí nhạc và sự tiếp thu các hình thức châu Âu.
- Âm nhạc thính phòng - giao hưởng Việt Nam - Sự hình thành và phát triển - tác giả - tác phẩm của PGS.TS Nguyễn Thị Nhung (2001, Viện Âm nhạc): khảo sát tiến trình, thể loại, hình thức và phác thảo đặc trưng âm nhạc trong việc khai thác chất liệu cổ truyền, thang âm ngũ cung.
- Âm nhạc Việt Nam tác giả và tác phẩm do GS.NSND Trọng Bằng làm chủ nhiệm cùng nhóm tác giả Nguyễn Thị Nhung, Phạm Tú Hương, Lê Văn Toàn, Vũ Tự Lân, Nguyễn Thị Minh Châu (2010, Viện Âm nhạc & Nxb Văn hóa dân tộc): phân tích phong cách tác giả và việc sử dụng chất liệu dân gian của Huy Du, Trần Ngọc Xương, Hoàng Dương, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Đình Tấn.
- Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong âm nhạc thế kỷ XX của Phạm Phương Hoa (2013, Nxb Âm nhạc): nghiên cứu phương thức xây dựng chủ đề, điệu thức, hòa âm, phức điệu và phối khí trong tác phẩm khí nhạc Việt Nam.
- Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội của Nguyễn Thị Minh Châu: khảo sát các khuynh hướng khai thác di sản cổ truyền, ca khúc và âm điệu tiếng nói.
- Các tài liệu về âm nhạc cổ truyền và lý thuyết âm nhạc: công trình của Hoàng Kiều (2001), Nguyễn Thụy Loan (2003, 2006), Hoàng Đạm (2003), Nguyễn Bách (2021), Nguyễn Trọng Ánh (2021), Phạm Tú Hương (1998).
Nhóm 3: Các luận án tiến sĩ chuyên ngành
- Luận án của Nguyễn Phúc Linh (1996) về phương pháp biểu hiện của kèn gỗ giao hưởng trong tác phẩm Việt Nam.
- Luận án của Nguyễn Hoàng Phương (2015) về nghệ thuật đệm và hòa tấu thính phòng trong đào tạo piano chuyên nghiệp.
- Luận án của Lã Minh Tâm (2017) về hình thức ba đoạn phức trong tác phẩm thính phòng một chương.
- Luận án của Nguyễn Thị Loan (2019) về bổ sung đặc điểm hòa âm thế kỷ XX vào giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
- Luận án của Vũ Tú Cầu (2017) về thủ pháp hòa âm trong tác phẩm giao hưởng Việt Nam sau 1975.
- Luận án của Nguyễn Thị Thiều Hương (2023) về phức điệu trong tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây thường tiếp cận khí nhạc nói chung (bao gồm độc tấu, hòa tấu, giao hưởng, concerto), hoặc chỉ tập trung vào một loại nhạc cụ cụ thể (kèn gỗ), một hình thức cấu trúc nhất định (ba đoạn phức), hoặc phạm vi hòa âm thuần túy trong nhạc giao hưởng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống về thể loại hòa tấu thính phòng viết cho nhạc cụ phương Tây: phân tích sự kết hợp giữa các nguyên tắc phối khí, hòa âm, phức điệu phương Tây với các yếu tố truyền thống của âm nhạc dân gian Việt Nam (thủ pháp bè tòng, biến hóa lòng bản, điệu thức năm âm và các thang âm cổ truyền).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm chuyên ngành
Luận án xác lập khung lý thuyết dựa trên sự thống nhất các thuật ngữ chuyên ngành âm nhạc học:
- Âm nhạc thính phòng (musica da camera): Hình thức sinh hoạt âm nhạc và thể loại tác phẩm dành cho nhóm nhỏ từ 2 đến khoảng 10 nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ độc lập (song tấu, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu, thất tấu, bát tấu...).
- Âm nhạc cổ truyền: Tổng thể di sản âm nhạc hình thành từ thời phong kiến trở về trước, chưa chịu ảnh hưởng của âm nhạc phương Tây (theo định nghĩa của Nguyễn Thụy Loan).
- Âm nhạc đương đại (contemporary music): Các khuynh hướng sáng tác thế kỷ XX thoát ly khuôn mẫu truyền thống về hòa âm, điệu thức, tiết tấu và mang đặc trưng của các trường phái thế kỷ XX (theo Francois René Tranchefort, Nguyễn Bách).
- Bè tòng và Biến hóa lòng bản: Nguyên tắc hòa tấu trong âm nhạc cổ truyền người Việt (tương đương phân điệu - heterophony), trong đó các bè cùng thể hiện các biến thể phân - hợp khác nhau trên nền một giai điệu cốt lõi (lòng bản) có khung nhịp cố định (theo quan điểm của Hoàng Đạm, Phạm Tú Hương, Nguyễn Thị Nhung).
- Bè trì tục: Thuật ngữ luận án dùng chung để chỉ âm, quãng, hợp âm hoặc mô-típ âm nhạc được lặp lại hoặc kéo dài liên tục ở bè trầm, bè giữa hoặc bè cao (mở rộng từ khái niệm pedal point và basso ostinato).
- Hợp âm và Chồng âm: Hợp âm được định nghĩa là chồng âm từ 3 âm trở lên sắp xếp theo cùng loại quãng (quãng ba, quãng hai, quãng bốn, quãng năm); chồng âm (cluster) là tập hợp các âm liền kề vang lên cùng lúc theo chiều dọc không theo quy luật quãng cố định.
- Thang âm và Điệu thức: Vận dụng cách định danh điệu thức cổ truyền của người Việt theo nghiên cứu của Nguyễn Thụy Loan và Hoàng Kiều, bao gồm: hệ thống điệu Bắc (tương đương Chủy), hệ thống điệu Xuân/Nam Xuân (tương đương Thương), hệ thống điệu Ai/Nam Ai (tương đương Vũ), điệu Huỳnh/Cung Huỳnh (tương đương Cung), và hệ thống điệu Oán cùng các thang âm dân gian Tây Nguyên, thang 4, 5, 6 âm.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn:
- Phương pháp phân tích: Phân tích tổng phổ tác phẩm nhằm bóc tách đặc điểm cấu trúc âm nhạc, thủ pháp hòa âm, phức điệu và kỹ thuật diễn tấu.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh tần suất, mức độ sử dụng các thủ pháp phương Tây khi ứng dụng vào việc thể hiện ngôn ngữ âm nhạc dân tộc.
- Phương pháp nghị luận: Nhận định, đánh giá bản chất các hiện tượng âm nhạc học và quá trình tiếp thu, cải biến.
- Phương pháp mô hình hóa và thống kê toán học: Xử lý, phân loại kết quả khảo sát từ 76 tác phẩm.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tiến hành phỏng vấn, xin ý kiến chuyên môn của các nhạc sĩ sáng tác và nhà nghiên cứu âm nhạc.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án gồm 76 tổng phổ tác phẩm hòa tấu thính phòng của các thế hệ nhạc sĩ Việt Nam, các bản thu âm, tư liệu biểu diễn, giáo trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, cùng hệ thống văn bản lý luận, sách giáo khoa và công trình nghiên cứu đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết, hệ thống hóa khái niệm thuật ngữ và tái hiện tiến trình lịch sử sáng tác, biểu diễn hòa tấu thính phòng Việt Nam qua ba giai đoạn:
| Giai đoạn lịch sử |
Đặc điểm sáng tác hòa tấu thính phòng |
Tác phẩm tiêu biểu |
| Trước 1954 |
- Bắt đầu tiếp nhận nhạc cụ và hình thức phương Tây. - Tác phẩm khí nhạc còn ít ỏi, mang tính thể nghiệm. - Giai đoạn 1945–1954 tập trung cho thanh nhạc kháng chiến, hầu như không có tác phẩm hòa tấu. |
- Ra khơi (Tạ Phước, 1942, viết cho 2 violin, sau chuyển soạn violin & piano). - Vũ khúc tưng bừng (Lương Ngọc Trác, piano phối cho tốp nhạc). |
| 1954 – 1975 |
- Thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam (1956), đẩy mạnh đào tạo trong và ngoài nước. - Thể loại nhỏ và vừa (tiểu phẩm, vũ khúc, biến tấu, sonata). - Phần lớn tác phẩm có tiêu đề, viết về quê hương, chiến tranh, xây dựng miền Bắc. - Phổ biến nhất là song tấu (violin/violoncello với piano). |
- Quê hương (Lưu Cầu), Miền Nam quê hương ta ơi (Huy Du), Rhapsodie Bài ca chim ưng (Đàm Linh). - Trở về đất mẹ (Nguyễn Văn Thương), Biến tấu Vân dại (Nguyễn Đình Tấn). - Biến tấu Mùa xuân trên rừng (Đỗ Nhuận). - Tam tấu Kể chuyện sông Hồng (Huy Du), Tứ tấu dây của Đỗ Nhuận, Hồng Đăng. |
| Sau 1975 |
- Phát triển về ngôn ngữ, hình tượng, mở rộng biên chế (kèn gỗ, bộ gõ, 2–4 piano). - Xuất hiện nhiều tác phẩm không có tiêu đề. - Kết hợp thể loại cổ điển với chất liệu dân gian và kỹ thuật thế kỷ XX. |
- Huyền thoại mẹ (Nguyễn Thị Nhung), Tiếng rừng (Đỗ Hồng Quân). - Hòa tấu 95 (Đỗ Hồng Quân, 2 piano), Suite cho bốn piano (Đặng Hữu Phúc). - Đi chợ xa, Trio Mùa thu (Phúc Linh), Về làng (Đỗ Kiên Cường), Fantasie (Trần Lưu Hoàng). |
Chương 1 cũng tổng kết hoạt động biểu diễn trong nước và quốc tế của các nghệ sĩ (Tạ Bôn, Ngô Văn Thành, Bùi Gia Tường, Trần Thu Hà, Đỗ Hồng Quân...) và các nhóm thính phòng (như Nhóm Ngũ tấu Hà Nội biểu diễn tại Singapore năm 1993; công diễn tác phẩm tại Nga, Pháp, Thái Lan).
Chương 2: Các hình thức hòa tấu và một số phương thức hòa tấu nhạc cụ
Chương 2 phân tích cơ cấu tổ chức nhạc cụ và các phương thức phối hợp âm thanh trong tác phẩm hòa tấu:
- Các hình thức hòa tấu:
- Hòa tấu cùng bộ: Phổ biến nhất là hòa tấu đàn dây (nhờ tính đồng nhất âm sắc, dải âm vực rộng từ double-bass đến violin, khả năng thể hiện sắc thái tương phản và kỹ thuật phong phú như archet, pizzicato, col legno, con sordino, tons flageolets, sul tasto, sul ponticello); hòa tấu các nhạc cụ bộ gỗ.
- Hòa tấu với đàn piano: Hòa tấu giữa piano với nhạc cụ dây, kèn gỗ (song tấu, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu) và hòa tấu nhiều đàn piano (2 đàn, 4 đàn).
- Các phương thức hòa tấu nhạc cụ:
- Chủ điệu (homophony): Bè lĩnh xướng giai điệu chính kết hợp với phần đệm hòa âm của các nhạc cụ khác.
- Chủ điệu kết hợp phức điệu: Đan xen giữa giai điệu có đệm và các đoạn đối âm độc lập.
- Phức điệu (polyphony): Các nhạc cụ phát triển giai điệu độc lập thông qua mô phỏng hoặc tương phản.
- Đồng tấu (unison): Tất cả các nhạc cụ tấu cùng cao độ hoặc cách quãng tám để tạo điểm nhấn âm lượng và kịch tính.
- Khai thác kỹ thuật diễn tấu: Tận dụng âm khu và thủ pháp đặc thù của từng nhạc cụ.
- Hòa tấu theo lối bè tòng trong âm nhạc cổ truyền: Vận dụng nguyên lý dị phân điệu, các bè nhạc cụ phương Tây cùng xuất phát từ một giai điệu gốc (lòng bản) nhưng tự do biến hóa hoa mỹ, tạo nên mạng lưới phức điệu mang âm hưởng dân gian.
Chương 3: Một số phương thức xây dựng chủ đề và các thủ pháp phát triển
Chương 3 tập trung làm rõ nguồn gốc chất liệu và cách thức phát triển chủ đề âm nhạc:
- Phương thức xây dựng chủ đề:
- Khai thác từ âm nhạc cổ truyền: Sử dụng nguyên dạng làn điệu dân ca hoặc trích xuất âm điệu, quãng đặc trưng, tiết tấu và thang năm âm từ chèo, tuồng, quan họ, ca trù, nhạc tài tử hoặc dân ca Tây Nguyên.
- Xây dựng từ giai điệu ca khúc: Khí nhạc hóa các bài hát quen thuộc, chuyển đổi cấu trúc ca xướng sang ngôn ngữ khí nhạc.
- Khai thác chất liệu đương đại: Sử dụng các chuỗi âm, bước nhảy quãng nghịch, tiết tấu phi đối xứng đặc trưng của âm nhạc thế kỷ XX.
- Thủ pháp phát triển:
- Thủ pháp nhắc lại: Nhắc lại nguyên vẹn hoặc nhắc lại có thay đổi âm sắc, âm khu, bè đệm.
- Thủ pháp đổi mới âm điệu: Thay đổi cao độ, hướng chuyển động của bước đi giai điệu để tạo sự phát triển mới.
- Thủ pháp biến tấu: Thay đổi tiết tấu, thêm nốt trang sức, thay đổi điệu tính và vị trí bè theo nguyên tắc nhắc lại có thay đổi.
- Thủ pháp mô tiến: Dịch chuyển mô-típ giai điệu hoặc hòa âm đi lên/đi xuống qua các mắt xích mô tiến.
Chương 4: Hòa âm
Chương 4 khảo sát việc ứng dụng và biến đổi ngôn ngữ hòa thanh trong các tác phẩm:
- Các dạng hợp âm, chồng âm:
- Hợp âm chồng quãng ba theo truyền thống cổ điển phương Tây.
- Hợp âm chồng quãng bốn (quartal) và hợp âm chồng quãng hai (secundal).
- Chồng âm chứa quãng nửa cung (chromatic) tạo hiệu ứng màu sắc phi truyền thống.
- Các thủ pháp hòa âm:
- Sử dụng hòa âm công năng Cổ điển (hệ thống T - S - D).
- Sử dụng hợp âm kết và hòa âm hình thành từ lối tiến hành phức điệu tuyến tính.
- Sử dụng bè trì tục (âm, quãng, hợp âm hoặc mô-típ trì tục ở các âm khu khác nhau) để giữ vai trò trụ âm.
- Ứng dụng các thủ pháp hòa âm thế kỷ XX: Hòa âm song song (Parallel Harmony) và Đa điệu thức (Polymodality).
- Biến đổi hòa âm phù hợp với ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam:
- Cấu tạo các chồng âm từ chính các âm của thang năm âm để tránh xung đột với cấu trúc điệu thức dân tộc.
- Thiết lập các công thức kết đặc thù dựa trên bước nhảy quãng và điệu thức cổ truyền thay vì giải kết chức năng cổ điển thuần túy.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận:
- Phân tích và hệ thống hóa các tác phẩm hòa tấu thính phòng Việt Nam viết cho nhạc cụ phương Tây trên cả bình diện sáng tác và biểu diễn.
- Làm rõ quy luật tiếp thu các thủ pháp hòa âm, phức điệu và phương thức phối khí kinh điển phương Tây, đồng thời chỉ ra các tìm tòi của nhạc sĩ Việt Nam khi xử lý chất liệu âm nhạc cổ truyền (kết hợp hòa âm ngũ cung, thủ pháp biến hóa lòng bản/bè tòng, điệu Oán, Nam Xuân, Nam Ai).
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp nguồn tư liệu và nhận định khoa học phục vụ công tác nghiên cứu lý luận âm nhạc học và sáng tác khí nhạc.
- Bổ sung tài liệu tham khảo cho môn Hòa tấu tại các khoa biểu diễn nhạc cụ phương Tây của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
- Hỗ trợ tài liệu cho môn Lịch sử âm nhạc Việt Nam và Phân tích tác phẩm tại các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp.
- Gợi mở định hướng cho các nhạc sĩ trẻ khi sáng tác hòa tấu thính phòng, đồng thời khuyến khích nghệ sĩ biểu diễn đưa tác phẩm Việt Nam vào các chương trình hòa nhạc trong và ngoài nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi và tư liệu:
- Luận án giới hạn khảo sát trên mẫu 76 tác phẩm hòa tấu thính phòng sưu tầm được; trong đó một số tác phẩm chưa xác định được đầy đủ năm sáng tác.
- Luận án không khảo sát các tác phẩm khí nhạc của các nhạc sĩ ở miền Nam giai đoạn 1954–1975 do hạn chế tiếp cận nguồn văn bản in ấn và tư liệu lịch sử.
- Giới hạn nội dung: Luận án chủ động không đi sâu vào cấu trúc - hình thức tác phẩm (như hình thức ba đoạn phức, hình thức sonata) để tránh trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc - hình thức tác phẩm của thể loại hòa tấu thính phòng Việt Nam khi có điều kiện tư liệu đầy đủ hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án mang giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Sáng tác, Âm nhạc học, Chỉ huy, Lý luận âm nhạc và Biểu diễn nhạc cụ phương Tây.
- Giảng viên các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các môn Hòa tấu thính phòng, Phân tích tác phẩm, Hòa âm, Phức điệu và Lịch sử âm nhạc Việt Nam.
- Nhạc sĩ sáng tác và nghệ sĩ biểu diễn: Tham khảo các giải pháp phối khí, hòa âm dân tộc và lựa chọn tác phẩm hòa tấu Việt Nam để dàn dựng biểu diễn.
Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm Chương 2 (phương thức bè tòng trong hòa tấu nhạc cụ phương Tây) và Chương 4 (giải pháp hòa âm cho giai điệu năm âm và hợp âm phi quãng ba).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu tác phẩm và dựa trên các tiêu chí lựa chọn nào?
Luận án tiến hành khảo sát và phân tích 76 tác phẩm hòa tấu thính phòng Việt Nam sưu tầm được. Tiêu chí lựa chọn gồm: tác phẩm đã in ấn, xuất bản, biểu diễn hoặc thu âm; tác phẩm đạt giải thưởng của các Hội âm nhạc chuyên nghiệp; hoặc tác phẩm được sử dụng làm giáo trình tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các trường đào tạo âm nhạc.
2. Khái niệm "bè tòng" và "biến hóa lòng bản" được ứng dụng trong hòa tấu thính phòng như thế nào?
Theo tác giả, bè tòng (biến hóa lòng bản) trong âm nhạc cổ truyền tương đương với nguyên lý phân điệu (heterophony) của phương Tây. Khi đưa vào hòa tấu nhạc cụ phương Tây, các bè cùng diễn tấu biến thể của một giai điệu trung tâm (lòng bản), lúc phân lúc hợp tùy theo đặc tính kỹ thuật của từng cây đàn, tạo nên cấu trúc phức điệu mang âm hưởng truyền thống.
3. Luận án ghi nhận tác phẩm hòa tấu khí nhạc sớm nhất của Việt Nam là tác phẩm nào?
Tác phẩm hòa tấu được coi là đầu tiên của Việt Nam còn lưu lại là bản Ra khơi của nhạc sĩ Tạ Phước, sáng tác năm 1942 cho hai đàn violin hòa tấu (sau đó được chuyển soạn cho violin độc tấu với piano đệm).
4. Vì sao luận án không nghiên cứu cấu trúc - hình thức tác phẩm và các sáng tác tại miền Nam giai đoạn 1954–1975?
Luận án không nghiên cứu cấu trúc - hình thức để tránh trùng lặp với các công trình của Nguyễn Thị Nhung (2001) và Lã Minh Tâm (2017). Đối với các tác phẩm tại miền Nam giai đoạn 1954–1975, tác giả không có điều kiện tiếp cận nguồn bản in và tư liệu phổ nhạc nên không đưa vào phạm vi nghiên cứu.
5. Luận án chỉ ra những dạng hợp âm và thủ pháp hòa âm thế kỷ XX nào trong các tác phẩm?
Bên cạnh hợp âm chồng quãng ba truyền thống, luận án chỉ ra các hợp âm chồng quãng bốn, quãng hai, chồng âm chứa quãng chromatic, chồng âm cấu tạo từ thang năm âm, kỹ thuật bè trì tục (pedal/ostinato), hòa âm song song (parallel harmony) và đa điệu thức (polymodality).
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Nghiêm Việt Anh là công trình nghiên cứu âm nhạc học chuyên sâu về thể loại hòa tấu thính phòng Việt Nam viết cho nhạc cụ phương Tây thông qua khảo sát 76 tác phẩm. Tác giả đã làm rõ tiến trình lịch sử, các hình thức biên chế nhạc cụ, phương thức xây dựng chủ đề từ chất liệu dân gian và các biến đổi hòa âm phù hợp với thang âm điệu thức dân tộc. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu và luận cứ khoa học phục vụ cho hoạt động sáng tác, biểu diễn và đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp tại Việt Nam.