ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh thường gặp có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan tới phản ứng viêm bất thường của phổi bởi các phần tử và khí độc hại [9], [78]. Các đợt cấp và bệnh đồng mắc góp phần vào mức độ nặng ở mỗi bệnh nhân (BN) [77], [87], [108]. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, tình trạng ô nhiễm môi trường, bệnh ngày càng phát triển đáng lo ngại và đã trở thành mối quan tâm của các nhà khoa học. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hiện nay có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT, chiếm 9-10% dân số ở độ tuổi từ 40 tuổi trở lên [24], [96], [100].
Theo nghiên cứu của Ngô Quý Châu và Phan Thu Phương có khoảng 4,2% dân số trong độ tuổi trên 40 mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Trong quá trình tiến triển, BPTNMT có những đợt diễn biến cấp tính làm người bệnh phải thay đổi cách thức điều trị so với hàng ngày, phải nhập viện, thậm chí gây tử vong [5], [77], [108]. BPTNMT mang lại gánh nặng kinh tế cho người bệnh, gia đình và xã hội. Tại Mỹ, hàng năm chi phí cho dự phòng và điều trị BPTNMT là 32 tỷ USD [81], [91].
Điều trị BPTNMT cần phải toàn diện, bao gồm: Giáo dục sức khỏe, thay đổi lối sống, hỗ trợ tâm lý, thuốc và vật lý trị liệu hô hấp (VLTLHH). Với đặc trưng giải phẫu bệnh là ứ khí tại phế nang, xẹp các tiểu phế quản, tăng tiết nhày và bít tắc đường thở, BPTNMT gây suy kiệt cơ thể, trầm cảm, suy giảm chất lượng cuộc sống. Các bài tập liệu pháp VLTLHH giúp làm tăng sức mạnh cơ hô hấp, tống đẩy đờm và khí tồn đọng, giảm các triệu chứng khó thở, cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng khả năng gắng sức và kết quả là giảm số lần đợt cấp cho người bệnh. Vật lý trị liệu, phục hồi chức năng hô hấp (CNHH) trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được Hội lồng ngực Mỹ và Châu Âu đánh giá cao và đưa ra khuyến cáo đây là một 2 phương pháp điều trị hiệu quả.
Phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả các BN có bệnh mạn tính đường hô hấp gây giảm sút các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày [90], [93]. Trước tình trạng gia tăng của tỉ lệ mắc cũng như tỉ lệ tử vong của bệnh, năm 2010, Bộ Y tế đã đưa BPTNMT vào chương trình mục tiêu quốc gia và có hướng dẫn điều trị cụ thể [2]. Đơn vị chẩn đoán, điều trị, tư vấn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản Bệnh viện Đa khoa Yên Phong tỉnh Bắc Ninh đi vào hoạt động từ năm 2013. Bên cạnh việc tuân thủ các qui trình theo hướng dẫn, bệnh viện đã chú trọng triển khai phối hợp một số liệu pháp VLTLHH trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất và nhân lực tại tuyến cơ sở.
Những kết quả bước đầu cho thấy phối hợp các liệu pháp VLTLHH nhằm tống đẩy đờm, giải phóng đường thở trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp cho nhiều kết quả. Trên thực tế đã có một số đề tài trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này nhưng còn ít và chưa hệ thống. Vì vậy, để đánh giá kết quả của các liệu pháp này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kết quả phối hợp vật lý trị liệu hô hấp trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp tại Bệnh viện Đa khoa Yên Phong”. Đề tài nghiên cứu hai mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp ở Bệnh viện Đa khoa Yên Phong; 2. Đánh giá kết quả phối hợp vật lý trị liệu hô hấp trong điều trị bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là thuật ngữ đầu tiên được sử dụng ở Mỹ gần 40 năm nay.
Thuật ngữ này được đưa ra để biểu thị sự tắc nghẽn đường thở tiến triển từ tử và không có khả năng hồi phục. Có 2 nguyên nhân cơ bản của tình trạng tắc nghẽn này: đó là tình trạng chít hẹp các phế quản do viêm nhiễm, xơ hóa và sự mất đi khả năng đàn hồi của phổi do các phế nang bị hủy hoại. Tuy nhiên, trong đại đa số trường hợp trên thực tế lâm sàng không thể xác định được cụ thể phần nào là của viêm phế quản mạn và phần nào của giãn phế nang trong sự phát triển tắc nghẽn đường thở ở các BN thuộc loại này. Do vậy thuật ngữ “Viêm phế quản mạn” và “Giãn phế nang” được thay thế bằng thuật ngữ “Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”, tiếng Anh là Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD) [39], [76], [88], [105].
Những vướng mắc trong việc xác định tỷ lệ mắc BPTNMT liên tiếp xảy ra do không có sự thống nhất về thuật ngữ bệnh. Trước năm 1968, trong phân loại bệnh tật Quốc tế ICD8, 2 thuật ngữ viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng đã được sử dụng khá rộng rãi. Nhưng đến năm 1970 thì BPTNMT là thuật ngữ được sử dụng ở Hoa Kỳ và một vài quốc gia khác nên gây nhiều phiền toái cho việc so sánh tỷ lệ bệnh tật cũng như tỷ lệ tử vong do căn bệnh này gây ra giữa các nước với nhau và chính lý do này đã được chỉnh lý trong phân loại bệnh tật ICD9, ICD10. Năm 1992, thuật ngữ BPTNMT được Tổ chức Y tế thế giới chính thức sử dụng trong phân loại bệnh tật.
Cũng từ đây, thế giới y học đã quan tâm hơn rất nhiều trong quản lý cũng như nghiên cứu bệnh này và đã đưa ra công ước chung về hướng dẫn, chẩn đoán và điều trị BPTNMT do các Hội lồng ngực, Hội hô hấp của các nước soạn thảo năm 1995. Định nghĩa về BPTNMT đã được Hội lồng ngực Mỹ đưa ra từ năm 1962. Tuy nhiên bệnh này đã được một nhà giải phẫu bệnh người Anh nổi 4 tiếng T.H Laenec mô tả từ năm 1827 trong cuốn “Chuyên luận về bệnh lý của lồng ngực và thính chẩn gián tiếp” [10], [37], [83]. Định nghĩa về BPTNMT được sử dụng rộng rãi nhất là định nghĩa của Hội lồng ngực Mỹ: “BPTNMT là một tình trạng bệnh lý có thể phòng và điều trị, được đặc trưng bằng sự hạn chế thông khí không có khả năng hồi phục hoàn toàn.
Sự hạn chế không khí này thường vừa tiến triển vừa kết hợp với phản ứng viêm bất thường của phổi với các hạt hoặc khí độc, trước tiên do hút thuốc lá. Mặc dù BPTNMT gây ảnh hưởng đến phổi, nó cũng gây ra những hậu quả đáng kể mang tính chất hệ thống” [48], [54]. Định nghĩa BPTNMT đợt cấp: tiến triển tự nhiên của bệnh là một quá trình mạn tính với từng đợt nặng lên của bệnh gọi là những đợt cấp. Hiện nay chưa có sự thống nhất trên toàn thế giới về định nghĩa đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [59], [107].R và CS (1987) [3], [57], [61]: “Đợt cấp BPTNMT được biểu hiện bằng 3 triệu chứng chính: khó thở tăng, số lượng đờm tăng và đờm nhầy mủ”.
Theo ATS/ERS (2004) [60], [62], [69]: “Đợt cấp BPTNMT là một sự thay đổi cấp tính các triệu chứng cơ bản ho, khó thở và/hoặc khạc đờm ngoài những diễn biến hàng ngày và đòi hỏi phải thay đổi trị liệu hàng ngày của BN”. Theo định nghĩa của GOLD (2009) [59], [60], [65], [96]: “Đợt cấp BPTNMT là tình trạng xảy ra trong diễn biến tự nhiên của bệnh, được đặc trưng bởi sự thay đổi các triệu chứng cơ bản của BN như ho, khạc đờm, khó thở khác với những diễn biến thường ngày, khởi phát cấp tính và đòi hỏi phải thay đổi thuốc điều trị thường ngày trên BN BPTNMT”. Tình hình dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Hiện nay, theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 600 triệu người mắc bệnh BPTNMT trên toàn thế giới. Trong khi đó, năm 1994 con số này mới chỉ có 52 triệu người.
Ảnh hưởng của bệnh khá thấp đối với người <45 tuổi và cao hơn rất nhiều ở những người có tuổi >65. Người ta thấy rằng ảnh hưởng của BPTNMT đối với những người > 65 tuổi gấp 4 lần so với nhóm người có độ tuổi từ 45-64 [36], [97]. Do bản chất của bệnh là mạn tính và tiến triển, đặc biệt nguyên nhân chủ yếu do hút thuốc lá nên số lượng BN BPTNMT không chỉ dừng ở con số đã nêu trên mà ngày càng tăng thêm. Chính vì vậy, TCYTTG đã ước tính số người chịu ảnh hưởng BPTNMT sẽ tăng lên gấp 3-4 lần trong thập kỷ này và đến năm 2020, BPTNMT sẽ đứng hàng thứ 5 trong gánh nặng của tỷ lệ bệnh tật toàn cầu và đến năm 2025 căn bệnh này sẽ chiếm vị trí thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong nói chung [86], [89].
Mới đây, TCYTTG giới đã cảnh báo về tính chất lan tràn nhanh chóng của bệnh như một đại dịch và là gánh nặng cho toàn thể nhân loại trên hành tinh của chúng ta. BPTNMT gia tăng cùng thói quen hút thuốc lá và gia tăng theo tuổi.000 người bị suy hô hấp cần phải điều trị bằng oxy tại nhà. Tỷ lệ lưu hành BPTNMT cao nhất ở những nước có nhiều người hút thuốc lá. Theo thống kê mới của TCYTTG năm 2007 có tới 210 triệu người mắc BPTNMT trên toàn thế giới [13], [67], [72], [95].
Theo nghiên cứu của Ngô Quý Châu (2006) nghiên cứu trên 2583 đối tượng tại Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả hai giới là 2,0%, trong đó tỷ lệ mắc ở nam là 3,4% và nữ là 0,7%. Nghiên cứu của Phan Thu Phương (2006) tại huyện Lạng Giang – Bắc Giang thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 3,85% trong đó nam là 6,92% và nữ là 1,42%. Tại Hội thảo hưởng ứng ngày phòng chống BPTNMT toàn cầu (2010) đã công bố BPTNMT đang có xu hướng gia tăng ở Việt Nam với tỷ lệ mắc bệnh là 4,2% [6], [25], [35], [48]. 6 Đợt cấp BPTNMT là một biến chứng thường gặp trong quá trình tiến triển của BPTNMT, đợt cấp có thể xảy ra trong cả 4 giai đoạn (từ I – IV), nhưng thường gặp nhất là ở giai đoạn nặng và rất nặng (giai đoạn III và IV).
Đợt cấp BPTNMT có thể sảy ra trung bình từ <1 lần mỗi năm ở các BN có FEV1>1,5 Lít và đến >2,5 lần mỗi năm với những BN BPTNMT rất nặng có FEV<1,25 Lít.