Chương I, Nghị định Quy định về bảo vệ và quản lý DI sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam, là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu cho Việt Nam có Giá trị Nồi bật Toàn cầu về văn hóa được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản thế giới. Cụ thé, Luật Di sản văn hóa (2001) quy định: di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá tri lich sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cô vật, bảo vật quốc gia; con di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu trữ băng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền băng miệng, truyền nghề, trình diễn các hình thức lưu trữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, duoc cô truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống và những tri thức dân gian khác. Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (2009), di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là sản phẩm tỉnh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thé hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sáng thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Khái niệm di sản văn hóa sử dụng trong nghiên cứu này được kết hợp giữa khái niệm của UNESCO và Luật Di sản văn hóa Việt Nam.
Đặc điểm và vai trò của di sản văn hóa Gần đây, một SỐ quan điểm hiện hành cho thấy một số đặc trưng quan trọng của di sản, đó là: quá trình văn hóa - lịch sử - xã hội, tính phức hop và tính hiện ton của di sản. Ba quan điểm này được phản anh, dé cập trong nhiều văn ban của các cá nhân có thâm quyền về lĩnh vực này trong khu vực và quốc tế. Nhận định về di sản văn hóa, Công ước khung của Hội đồng Châu Âu về Giá trị Di sản Văn hóa cho Xã hội (Council of Europe Framework Convention on the Value of Cultural Heritage for Society) hay còn gọi là Công ước Faro năm 2005 cho 17 rằng: Di sản văn hóa là một nhóm các tài nguyên được thừa hưởng từ quá khứ mà con người nhận ra, không lệ thuộc vào quyền sở hữu, như một sự phản ánh và thể hiện các giá trị niềm tin, kiến thức và truyền thông không ngừng tiến bộ. Nó bao gồm tất cả các khía cạnh của môi trường hình thành do sự tương tác giữa con người và nơi chốn qua thời gian [81; tr.
Trong Công ước này, di sản không chỉ được nhìn nhận độc lập mà còn bao gồm những tương tác với môi trường hay con người; đề cập tới khác khía cạnh quan trọng của đi sản như mối liên hệ của chúng với quyền con người, thúc đây hiểu biết rộng hơn về di sản và mối quan hệ của di sản tới cộng đồng, xã hội và quốc gia. Theo Robert Palmer — giám đốc Ban Văn hóa và Di sản Văn hóa, Thiên nhiên thế giới thuộc Hội đồng châu Âu: Di sản trong thế giới ngày hôm nay đã trở thành một vấn đề xuyên ngành; mối bận tâm với các nguyên tắc bảo tồn và khảo cổ học truyền thống đã được thay thế bằng mối quan tâm sâu sắc tới các quá trình giáo dục, kinh tế, và sự phong phú của đời sống văn hóa [81; tr. Quan điểm mà Robert Palmer đưa ra trong lời nói đầu cuốn sách “Heritage and beyond” — gồm các bài viết diễn giải và phân tích về công ước Fero và quản lý di sản ở châu Âu — có thé là của riêng ông, hoặc đại diện cho một nhóm cộng đồng nghiên cứu, đã chỉ ra rằng: Di sản không đơn thuần là về quá khứ; di sản chủ yếu là về hiện tại và tương lai. Một di sản tách rời khỏi cuộc sống đang diễn tiến có giá trị hạn chế.
Di sản liên tục tạo thành và biến đồi. Chúng ta có thé tạo ra di sản bằng cách thêm những ý tưởng mới vào các ý tưởng cũ. Di sản không bao giờ đơn thuần là thứ cần bảo tồn hoặc bảo vệ, mà hơn là thứ được thay đôi và củng cố. Di sản hao mòn trong trường hợp thiếu đi sự tham gia của cộng đồng và hỗ trợ của công chúng.
Đây là lý do tại sao các quá trình đi sản phải vượt ra ngoài mối bận tâm của các chuyên gia trong các bộ ngành chính phủ và các nhà quan lý của các tổ chức công, và bao gồm những công chúng khác nhau sống trong những thành phó, thị trấn, làng mạc của chúng ta. Quá trình như vậy mang tính xã hội va sáng tạo, và được chúng cố bởi những giá tri của các cá nhân, tổ chức và xã hội [81; tr. Robert Palmer cũng cho rang ban than vat thé va noi chén không phải điêu quan trọng đôi với di sản, mà điêu quan trọng chính là ý nghĩa và công dụng con 18 người gan lên chúng, và những giá trị chúng đại điện [81; tr. Vì vậy, thông qua những quan điểm xoay quanh Công ước Fero, có thé thấy những cái nhìn và hướng tiếp cận đi sản trong bối cảnh lát cắt rộng hơn, những mối liên quan tới con người, cộng đồng và những giá trị ý nghĩa mà di sản dành cho cộng đồng hay ngược lại là cộng đồng gắn lên di sản.
Và từ định nghĩa hay cách nhìn nhận về di sản đã quy chiếu nên cách chúng ta ứng xử với di sản đối với công chúng nói chung, hay cách quản lý di sản đối với những nhóm người có liên quan tới di sản nói riêng. Trong Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thê 2003, ngay ở những trang đầu tiên giới thiệu khái quát về Công ước đã khẳng định: “Xét đến vai trò tối quan trọng của di sản văn hóa phi vật thê là yếu tố đưa nhân loại xích lại gần nhau hơn và đảm bảo giao lưu và hiểu biết lẫn nhau giữa mọi người”. Công ước này nhìn nhận về di sản văn hóa phi vật thể, nhưng có thé áp dụng cho trường hợp di sản vat thé, di sản hỗn hợp. Nghiên cứu di sản về những thứ đã qua, hay việc bảo vệ di sản văn hóa sẽ chăng có ý nghĩa gì nếu việc bảo vệ di sản không gan tới tính tiếp nối giữa các thế hệ, và không giúp cho các nhóm cộng đồng hiểu hơn về giá trị lẫn nhau, hay bản thân những người trong cộng đồng có thé nhìn nhận giá trị di sản họ đang có.
Luận văn sẽ áp dụng một số quan điểm hiện hành về di sản nói trên — có đề cập tới các yếu tố như quá trình văn hóa - lịch sử - xã hội, tính phức hợp và tính hiện tồn của di sản trong việc nghiên cứu vai trò cộng đồng trong quản lý di sản đô thị cổ Hội An. Quản lý và quản lý di sản văn hóa Khái niệm quản lý Có một số cách định nghĩa khác nhau về quản lý, cách định nghĩa thứ nhất căn cứ vào yếu tố nào quan trọng nhất của quản lý mà có sự phối hợp và hoạt động của tổ chức nhằm đạt mục tiêu một cách hiệu quả nhất. Cách định nghĩa thứ hai coi trong tính hệ thống các công việc của tổ chức, tiêu biểu là định nghĩa của Henry Fayol và được J. Robbins phát triển.
Ngoài ra, còn có cách định nghĩa thứ ba nhân mạnh đến các phương pháp, kỹ thuật (nghệ thuật) của quản lý trong việc tác động vào con người, điển hình là định nghĩa của M. Follett: “Quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu thông qua người khác [41; tr.” Từ những đặc trưng của quan lý, tác giả Phạm Ngọc Thanh đã đưa ra một định nghĩa bao quát: “Quản lý là hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thé tác động lên đối tượng 19 quản lý bằng những công cụ và phương pháp khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu của tô chức một cách hiệu quả nhất, trong điều kiện biến động của môi trường [Dẫn theo 43; 20]”. Bên cạnh quản lý, có một khái niệm khác cũng được nhắc tới là quản frị, hai khái niệm này có những lúc bị nhằm lẫn nhưng thực tế có sự khác biệt. Hai khái niệm này khi song hành, khi riêng rẽ, cùng góp phần định hướng và có những kế hoạch cụ thê trong việc bảo tôn và phát triên di sản văn hóa.1: Sự khác nhau giữa khai niệm quan lý và quản tri STT Quan ly Quan tri 1 Pham vi Pho bién và khái quát hơn it pho bién hon, thường dùng trong lĩnh vực kinh tế 2 Nhiệm vụ Dõi theo các hoạt động hàng ngày để Thiết lập các mục tiêu và phương hướng điều hành tổ chức một cách trơn tru thực hiện để đạt được các mục tiêu này 4 Mỗi quan | Các nguồn lực, kế hoạch và hành động Quyền lực, quyền hạn và trách nhiệm tâm 5 Trả lời các | Làm thé nào dé đạt được các mục tiêu | Những gì tổ chức làm và những gì tô câu hỏi của tô chức.
chức sẽ trở thành trong một vài năm tới Những gì được thực hiện để theo dudi Ai là người quyết định các mục tiêu, cần các mục tiêu đã định, các phương tiện làm gì dé theo đuổi chúng, với những và hành động đề đạt được mục tiêu đó phương tiện nào, những quyết định này được thực hiện như thế nào, ai là người nắm giữ quyền lực, thâm quyền và trách nhiệm và ai (hoặc cần) chịu trách nhiệm Nguồn: [82], [83; tr.8] tác giả tổng hợp Hiện nay khái niệm “quản trị” được mở rộng phạm vi hơn (so với nội dung đề cập trong Bảng 1.1) ở khu vực công, và trong lĩnh văn hóa đã có khái niệm quản trị văn hóa. Trong tài liệu Quản trị các Khu vực Di sản Bên vững (Governance for Sustainable Heritage Areas), Laura Ferguson (University of the Highlands and Islands, Scotland) viết rang: Quan trị không đồng nghĩa với quản lý; có thé thay sự khác biệt giữa hai khái niệm này ở phạm vi, nhiệm vụ, mối quan tâm, v. Tuy nhiên, quan trị là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả quản lý (IUCN, 2013), cũng như là một khía cạnh quan trọng của bảo tồn.