ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, đóng một vai trò rất quan trọng đối với đời sống của con ngƣời. Hiện nay, ngành Lâm nghiệp đang chiếm một tỉ trọng lớn trong phát triển nền kinh tế của đất nƣớc. Trên khắp các vùng trong cả nƣớc diện tích rừng trồng ngày càng tăng nhanh và đa dạng về các loài cây kinh tế. Với sự thay đổi về loài cây trồng, sự mở rộng diện tích đã xuất hiện những loài sâu, bệnh hại mới.
Đặc biệt nƣớc ta nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, chịu tác động rất lớn của sâu bệnh. Sâu bệnh đã gây ra rất nhiều những tác hại to lớn, làm giảm diện tích rừng, giảm chất lƣợng cây trồng. Trong những năm qua, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đẩy nhanh tiến trình phủ xanh đất trống đồi trọc bằng những dự án lớn. Cho nên nhiều loài cây đã đƣợc gây trồng nhƣ: Keo, bạch đàn, mỡ.
trên khắp cả nƣớc Cây keo là cây đa tác dụng, gỗ keo đƣợc dùng nhiều trong công nghiệp giấy, làm ván, làm đồ gia dụng và chúng cung cấp một lƣợng củi lớn cho ngƣời dân. Bên cạnh đó cây keo có bộ rễ rất phát triển, có nấm cộng sinh nên chúng sinh trƣởng phát triển tốt trên nhiều loại đất, kể cả đất nghèo xấu. Trồng keo nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, điều tiết nguồn nƣớc và bảo vệ môi trƣờng sinh thái, dƣới tán rừng keo ta có thể trồng cây bản địa để phục hồi rừng hỗn giao. Để rừng trồng có thể phát triển bền vững, dần tiến tới ổn định gần nhƣ rừng tự nhiên thì công tác chăm sóc, bảo vệ sau khi trồng là hết sức quan trọng.
Do yêu cầu của xã hội nên hiện tại và trong tƣơng lai chúng ta sẽ có những diện tích rừng keo thuần loài khá lớn. Cùng với sự hình thành những rừng keo thuần loài là sự thay đổi rất cơ bản của môi trƣờng sinh thái. Trong khi các nhân tố sinh thái phi sinh vật nhƣ khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió,.) đƣợc cải thiện cùng với sự phát triển của rừng keo thì các nhân tố sinh thái thuộc nhóm sinh vật một mặt đƣợc cải thiện và mặt khác lại tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định. Có thể thấy rõ điều này thông qua sự thay đổi của yếu tố thức ăn trong rừng keo thuần loài.
Khi rừng 1 keo thuần loài đƣợc hình thành một khối lƣợng thức ăn là lá keo, cành keo rất lớn đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho những loài côn trùng đơn thực và hẹp thực sinh sôi và phát triển. Mặc dù trong rừng Keo tai tƣợng có thể có tới 30 loài sâu ăn lá khác nhau nhƣng do nguồn thức ăn quá phong phú nên tác dụng của quan hệ cạnh tranh không đƣợc thể hiện và do đó một số loài đã có thể phát triển thành dịch, ví dụ: Sâu nâu (Anomis fulvida Guenée) Sâu vạch xám (Speiredonia retorta Linnaeus), Sâu túi nhỏ (Acanthopsyche sp) Nằm trong khu vực huyện Lƣơng Sơn – tỉnh Hòa Bình. Xã Trƣờng Sơn có diện tích rừng trồng Keo tai tƣợng lớn, đã và đang là đối tƣợng phá hoại của nhiều loài sâu hại. Ngoài thông tin về sự có mặt của các loài sâu hại thì đến nay tại đây chƣa có nghiên cứu cơ bản nào nên vấn đề quản lý chúng còn gặp rất nhiều khó khăn Để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phƣơng, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất phương án quản lý sâu hại Keo tai tượng tại xã Trường Sơn – Lương Sơn – Hòa Bình” 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu về côn trùng trên thế giới và Việt Nam * Trên thế giới Trong kinh doanh nông lâm nghiệp côn trùng là một nhóm động vật đƣợc con ngƣời quan tâm, bởi chúng có ảnh hƣởng lớn tới các hoạt động của họ. Do đó, con ngƣời phải bắt tay vào tìm hiểu và nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái, hình thái học của tất cả các loài côn trùng. Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú. Trong một cuốn sách cổ của Syrie viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại khủng khiếp của châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria).
Aristoteles (384 – 322 TCN), một nhà khoa học vĩ đại của Hy Lạp đã quan tâm đến hệ thống hóa và sự phát triển của động vật. Và trong các tác phẩm nghiên cứu của ông đã hệ thống hóa tới hơn 60 loài côn trùng và ông đã gọi chúng là loại động vật chân có đốt. Nhà tự nhiên học vĩ đại ngƣời Thụy Điển Carl von Linne đƣợc coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng đƣợc một bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng một cách hiện đại. Lần xuất bản thứ 10 của sách, ông đã đƣa vào cách gọi tên khoa học các loài sinh vật.
Liên tiếp các thế kỉ sau đó nhƣ: Thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỉ XX có Handlirich, Krepton 1904, Ma-tƣ-nốp 1928, Weber 1938 tiếp tục cho ra bảng phân loại riêng của họ. Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745. Hội côn trùng ở Nga đƣợc thành lập năm 1859. Những cuộc du hành của các nhà nghiên cứu côn trùng Nga nhƣ: Potarin (1976 – 1899), Provorovski (1979 – 1895), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản những tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền Tây Trung Quốc.
Đến thế kỉ XIX đã xuất bản nhiều tài liệu về côn trùng ở 3 Châu Âu, Châu Mỹ (gồm 40 tập) ở Madagatsca (gồm 6 tập), quần đảo Hawai, Ấn Độ và nhiều nƣớc khác trên thế giới. Trong các tài liệu nói trên đều đề cập đến các loài côn trùng thuộc Bộ cánh cứng nhƣ: Mọt, xén tóc và các loại côn trùng cánh cứng ăn hại lá khác. Vào năm 1793 Sprengel (1750 – 1816) Xuất bản tác phẩm nổi tiếng mô tả mối quan hệ giữa cấu tạo của loài hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng. Trong cuốn sách này, lần đầu tiên vai trò của côn trùng trong việc thụ phấn đƣợc đề cập đến và giải thích.
Về phân loại năm 1910 - 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập. Trong đó đã đề cập đến hàng nghìn loài cánh cứng thuộc bọ lá Chrysomelidae Năm 1948 A. Ilinski đã xuất bản cuốn "Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng". Năm 1950, Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô đã xuất bản tập “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” của tác giả L.Ap-non-di và G.
Năm 1959, Trƣơng Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học”. Sau đó liên tiếp từ năm 1965 giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” đƣợc viết lại nhiều lần. Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loài bọ phá hoại các loài cây rừng. Năm 1964 Xegolop viết cuốn “ Côn trùng học” có giới thiệu loài Sâu cánh cứng khoai tây Leptinotarsa decemlineata Say là loài hại nguy hiểm đối với cây khoai tây và một số loài cây nông nghiệp khác.
Năm 1965 Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng phần thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại Bộ Cánh cứng (Coleoptera) trong tập này đã xây dựng bảng tra 1350 giống thuộc Họ Bọ lá chrysomelidae.N Boronxop đã viết giáo trình “Côn trùng rừng” trong các tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng Bộ Cánh cứng hại rừng nhƣ: Mọt, xén tóc, sâu đinh và bọ lá… Năm 1966 Bey - Bienko đã phát hiện và mô tả đƣợc 300.000 loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng. Ở Trung Quốc môn côn trùng lâm nghiệp đã đƣợc chính thức giảng dạy trong các trƣờng Đại học Lâm Nghiệp từ năm 1952, từ đó việc nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp đƣợc đẩy mạnh. Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng học” trong đó có đề cập đến phân loại Họ Bọ lá Chrysomelidae. Tác giả cho biết trên thế giới đã phát hiện đƣợc 24.000 loài bọ lá và tác giả đã mô tả cụ thể đƣợc 14 loài.
Tại Mỹ theo tài liệu sách hƣớng dẫn về lĩnh vực côn trùng ở Bắc châu Mỹ thuộc Mêhicô của Donald.Borror và Richard. White (1970 - 1978) đã đề cập đến đặc điểm phân loại của 9 họ phụ thuộc Họ Bọ lá Chrysomelidae. Đó là điểm qua về một số mốc lịch sử nổi bật sự phát triển nghiên cứu về côn trùng của thế giới. Vì côn trùng là một lớp phong phú nhất trong giới động vật nên các tài liệu nghiên cứu về côn trùng cũng vô cùng phong phú.
* Việt Nam Việc nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta càng ngày càng đƣợc chú trọng, có rất nhiều công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách nhƣ: - Năm 1976, xuất bản giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của Phạm Ngọc Anh. - Năm 1993, xuất bản giáo trình “Kỹ thuật phòng trừ các loài sâu hại rừng”. - Năm 1998, Trần Công Loanh đã giới thiệu trong thông tin khoa học của trƣờng Đại học Lâm Nghiệp số 2/1998. Kết quả về loài sâu gấp mép thuộc giống Coleophora, họ Ngài bao (Coleophoridae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera).
5 Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã đƣợc quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây. Cao Thị Kim Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam. Công trình là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nƣớc ta. Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự, khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nƣớc ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp.
Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ. Ở nƣớc ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn. Các nghiên cứu thƣờng không tập trung vào một bộ cụ thể mà thƣờng đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nƣớc nói chung nhƣ: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vƣờn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xƣơng sống nƣớc ngọt thƣờng gặp ở Việt Nam.