ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Cao su (Hevea brasiliensis) là loài cây công nghiệp nhiệt đới dài ngày thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có giá trị kinh tế cao, sản phẩm chính từ chúng là mủ đƣợc ví nhƣ “ Dòng sữa vàng mới lên ngôi” Cây cao su là cây đa tác dụng vừa thực hiện nhiệm vụ của những cánh rừng phòng hộ, phòng chống thiên tai, bảo vệ đất, chống xói mòn, thân cây còn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, đồng thời giúp cải thiện khí hậu,vv… Do giá trị kinh tế của loài cây này tăng cao đấn đến sự phát triển Cao su ồ ạt, đặt biệt là sự phát triển của ngƣời dân từ cây trồng khác sang cây Cao su. Sự phát triển không có kiểm soát này dẫn đến phát sinh nhiều mặt trái trong đó đáng kể nhất là giống, thuốc bảo vệ thực vật và dịch sâu bệnh hại trên cây cao su. Cao su là loài cây ít bị sâu hại tấn công, tuy nhiên không phải vì vậy mà chúng ta ít quan tâm tới, đặc biệt là đối với khí hậu nƣớc ta, nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên chịu tác động lớn của sâu hại. Khu vực nông trƣờng 12-9 xã Thanh Đức, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh nghệ An có diện tích trồng cây Cao su tƣơng đối lớn đã và đang là đối tƣợng phá hoại của các loài sâu bệnh hại.
Tại đây có rất ít nghiên cứu cơ bản về sâu bệnh hại cây Cao su vì vậy mà việc quản lí chúng gặp rất nhiều khó khăn. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó và mong muốn góp phần vào việc quản lý bảo vệ tốt cây cao su tạiđịa phƣơng, tôi tiến hành nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại cây cao su (Hevea brasiliensis) tại xã Thanh Đức, Huyện Thanh Chƣơng, Tỉnh Nghệ An” 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Sơ lƣợc về cây Cao su Cao su (Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa nhƣ nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ-latex) có thể đƣợc thu thập lại nhƣ là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên. Cây cao su có thể cao tới trên 30m.
Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hƣớng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng. Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì ngƣời ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ: các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ đƣợc thu thập trong các thùng nhỏ. Quá trình này gọi là cạo mủ cao su.
Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhƣng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26- 30 năm. Cây cao su chỉ đƣợc thu hoạch 9 tháng, 3 tháng còn lại không đƣợc thu hoạch vì đây là thời gian cây rụng lá, nếu thu hoạch vào mùa này, cây sẽ chết. Thông thƣờng cây cao su có chiều cao khoảng 20 mét, rễ ăn rất sâu để giữ vững thân cây, hấp thu chất bổ dƣỡng và chống lại sự khô hạn. Cây có vỏ nhẵn màu nâu nhạt.
Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhƣng thƣờng thụ phấn chéo, vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái. Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu, đƣờng kính 02 cm, có hàm lƣợng dầu đáng kể đƣợc dùng trong kỹ nghệ pha sơn. Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 22°C đến 30°C (tốt nhất ở 26°C đến 28°C), cần mƣa nhiều (tốt nhất là 2.000 2 mm) nhƣng không chịu đƣợc sự úng nƣớc và gió.
Cây cao su có thể chịu đƣợc nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên nãng suất mủ sẽ giảm. Cây chỉ sinh trƣởng bằng hạt, hạt đem ƣơm đƣợc cây non. Khi trồng cây đƣợc 5 tuổi có thể khai thác mủ, và sẽ kéo dài trong vài ba chục năm. Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hƣởng tới thời gian và lƣợng mủ mà cây có thể cung cấp.
Bình thƣờng bắt đầu cạo mủ khi chu vi thân cây khoảng 50 cm. Cạo mủ từ trái sang phải, ngƣợc với mạch mủ cao su. Độ dốc của vết cạo từ 20 đến 350, vết cạo không sâu quá 1,5 cm và không đƣợc chạm vào tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh. Khi cạo lần sau phải bốc thật sạch mủ đãđông lại ở vết cạo trƣớc.
Thời gian thích hợp nhất cho việc cạo mủ trƣớc 7 giờ sáng. Nhựa mủ dùng để sản xuất cao su tự nhiên là chủ yếu, bên cạnh việc sản xuất latex dạng nƣớc. Gỗ từ cây cao su, gọi là gỗ cao su, đƣợc sử dụng trong sản xuất đồ gỗ. Nó đƣợc đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau.
Nó cũng đƣợc đánh giá nhƣ là loại gỗ "thân thiện môi trƣờng", do ngƣời ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ. Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mƣa Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ƣớt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là "Nƣớc mắt của cây" (cao là gỗ.
Uchouk là chảy ra hay khóc). Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lƣu hóa năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus (bang Amazonas) và Belém (bang Pará), thuộc Brasil. Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm 3 tại Vƣờn thực vật hoàng gia Kew.
Những cây con này đã đƣợc gửi tới Ấn Độ để gieo trồng, nhƣng chúng đã bị chết. Cố gắng thứ hai sau đó đã đƣợc thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã đƣợc gửi tới Kew năm 1875. Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã đƣợc gửi trong các thùng Ward tới Ceylon, và 22 đã đƣợc gửi tới các vƣờn thực vật tại Singapore. Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã đƣợc nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh.
Các cây cao su đã có mặt tại các vƣờn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883. Vào năm 1898, một đồn điền trồng cao su đã đƣợc thành lập tại Malaya, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới. Sản lƣợng cao su toàn thế giới vào khoảng 11 triệu tấn và tiếp tục gia tăng hàng năm. Phần lớn diện tích cao su trên thế giới thuộc tƣ nhân quản lý (chiếm trên 85%), sự thiệt hại do bệnh, côn trùng và cỏ dại không những trực tiếp gia tăng giá thành sản xuất mà còn gián tiếp ảnh hƣởng tới đời sống của ngƣời trồng cao su.
Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su trên thế giới Cao su đƣợc biết đến là một trong những loài cây ít bị sâu bệnh hại tấn công so với các loài cây khác nhƣ : Bạch đàn, Keo tai tƣợng. Tuy nhiên, sau thời gian canh tác cùng với phƣơng pháp trồng tập trung trên diện tích lớn trong vùng có độ ẩm và nhiệt độ cao, các loại bệnh và côn trùng dần xuất hiện và gây thiệt hại không nhỏ. Hơn nữa, trong những thập niên vừa qua sản lƣợng cao su không ngừng đƣợc cải thiện qua những tiến bộ trong công tác cải tiến giống, kỹ thuật nông nghiệp., nhƣng thiệt hại do sâu bệnh cũng gia tăng đáng kể do công tác tạo tuyển giống thƣờng chú trọng vào chỉ tiêu sinh trƣởng và sản lƣợng. Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn đó, nhiều nhà nghiên cứu về sâu bệnh đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu về vấn đề sâu bệnh gây hại cho cây Cao su.
Có các nhà nghiên cứu nhƣ : Chee (1976), Xiaoqing (1979), Liu Gongmin (2010), Pang Qihong (2010). 4 Theo Chee (1976) cây Cao su bị trên 550 loài vi sinh vật tấn công, trong đó 24 loài có tầm quan trọng về kinh tế, tuy nhiên, mức độ thiệt hại còn tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và canh tác cũng nhƣ biện pháp phòng trị trong từng vùng. Năm 1979, Xiaoqing đã có nghiên cứu đề cập tới vấn đề “Phòng trừ và phân bố các loại bệnh hại cây Cao su” và đã thống kê đƣợc 12 loại bệnh chủ yếu và đề xuất đƣợc các biện pháp phòng trừ trên cây Cao su nhƣ : Dùng thuốc hóa học, tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, định kỳ điều tra giám sát và vệ sinh xung quanh cây Cao su. Theo nghiên cứu của Chee (1985), ông cho rằng : Số lƣợng đối tƣợng gây hại cho cây Cao su rất khác nhau tùy theo từng điều kiện cụ thể ở mỗi quốc gia.
Ở Mỹ thống kê có 117 loài đối tƣợng gây hại cho cây Cao su (compendium, 2004), Malaysia có khoảng 200 loài. Ở Trung Quốc có khoảng 91 đối tƣợng gây hại trên cây Cao su (Liu Gongmin, 2010), thuộc 11 bộ, 3 lớp. Trong đó sâu hại có 7 loài và gây hại nghiêm trọng có 4 loài là : Rệp sáp (Parasaissetia nigra Nietner), Mọt nhỏ, Mối, Nhện (Eotetranychus sexmaculatus Riley); bệnh hại thì có 53 loài, có 10 loại bệnh gây hại nghiêm trọng là : Bệnh phấn trắng, Bệnh, Bệnh khô cành ngọn, Bệnh tím rễ. Trên cơ sở phân tích mức độ gây hại của các loài sâu bệnh hại chủ yếu, đã đề xuất các biện pháp phòng trừ nhƣ định kỳ điều tra sâu bệnh hại, kết hợp hợp lí việc cạo mủ và thực hiện biện pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học.
Năm 2010, Pang Qihong đã đƣa ra công trình nghiên cứu của mình về các loại sâu bệnh hại cây Cao su tại tỉnh Hải Nam, Trung Quốc.