ĐẶT VẤN ĐỀ Ông cha ta đã có câu “Rừng vàng, biển bạc” để thấy đƣợc sự quý giá nhƣờng nào của rừng và biển. Nhƣng hiện nay tài nguyên rừng ngày càng bị suy giảm cả về số lƣợng và chất lƣợng do nhu cầu về lâm sản và đất canh tác của con ngƣời ngày càng cao, kéo theo hàng loạt các ảnh hƣởng xấu về môi trƣờng sinh thái. Theo Manraud trƣớc năm 1945, tỷ lệ che phủ của rừng nƣớc ta chiếm 43% tổng diện tích đất đai của cả nƣớc nhƣng theo số liệu thống kê năm 2000, tỷ lệ che phủ đó chỉ còn lại xấp xỉ 32%. Vì vậy, khôi phục và phát triển tài nguyên rừng là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết, việc lựa chọn cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định tới sự thành công trong công tác này.
Tổng diện tích rừng trồng ở Việt Nam cho đến năm 2008 là 2.182ha; trong đó diện tích rừng trồng các loài thông chiếm khoảng 250. Trong những năm qua, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tiến hành hàng loạt những dự án lớn phủ xanh đất trống đồi trọc. Cho nên nhiều loài cây đã đƣợc gây trồng nhƣ: Keo, thông, bạch đàn…trên khắp cả nƣớc. Thông là cây có giá trị kinh tế cao, bao gồm một số loài thông chính nhƣ Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lambert), Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh et.de Vries), Thông 3 lá (Pinus kesya Royle ex Gordon).
Ngoài các sản phẩm của thông nhƣ gỗ, nhựa, nguyên liệu giấy, cây thông còn đƣợc sử dụng trong việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc và tạo cảnh quan môi trƣờng. chính vì vậy diện tích rừng thông ngày càng đƣợc mở rộng và là một trong những cây trồng chính của ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên việc gây trồng và phát triển cây thông cũng gặp nhiều trở ngại, một trong số đó là vấn đề sâu bệnh hại, nguy cơ về sâu bệnh hại thông không chỉ xảy ra tại rừng trồng mà còn xuất hiện tại cả vƣờn ƣơm. Mặc dù trong rừng thông có tới 45 loài bao gồm các loài sâu ăn lá, sâu đục thân, sâu đục nõn…nhƣng do nguồn thức ăn quá dồi dào và phong phú nên tác dụng của quan hệ cạnh tranh không đƣợc thể hiện nên một số loài đã có thể phát triển thành dịch nhƣ Sâu róm thông 1 (Dendrolimus punctatus), Sâu róm bốn túm lông (Dasychira axutha), Sâu đục nõn thông: Rhyacionia cristata Wals and Dioryctria rubella Hamps… Nằm trong khu vực huyện Hoành Bồ- tỉnh Quảng Ninh.
Rừng phòng hộ hồ Yên Lập có diện tích rừng trồng thông mã vĩ khá lớn, đã và đang là đối tƣợng phá hoại của nhiều loài sâu hại. Ngoài thông tin về sự có mặt của các loài sâu hại thì đến nay chƣa có nghiên cứu cơ bản nào nên vấn đề quản lí chúng còn gặp nhiều khó khăn. Để góp phần vào công tác quản lí bảo vệ rừng nơi đây, tôi xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất biện pháp quản lý sâu hại thông tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh’. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu về côn trùng trên thế giới và Việt Nam -Trên thế giới Các mối quan hệ của các nhóm côn trùng vẫn chƣa rõ ràng. Mặc dù ngƣời ta vẫn cho rằng côn trùng cùng nhóm với nhiều chân (millipedes & centipedes). Các bằng chứng đã cho thấy côn trùng có mối quan hệ với giáp xác. Hóa thạch côn trùng đƣợc tìm thấy trong suốt kỷ Cacbon, khoảng 350 triệu năm trƣớc.
Các dạng đó bao gồm một vài bộ hiện nay đã tuyệt chủng và có nhiều loài lớn hơn các loài côn trùng đang sống hiện nay. Có rất ít những dữ liệu sơ khai về các côn trùng bay vì các côn trùng có cánh sớm nhất đã có khả năng bay. Ngày nay ngƣời ta cho rằng cánh là do các mang biến đổi cao độ mà thành và một vài côn trùng có một cặp cánh nhỏ gắn vào đốt ngực thứ nhất và nhƣ vậy nó sẽ có tổng số 3 cặp cánh. Kỷ Permi, cách đây 270 triệu năm, đã chứng kiến sự phát triển thịnh vƣợng của các nhóm côn trùng; nhiều nhóm đã tuyệt chủng cùng trong sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi - Trias, sự tuyệt chủng lớn nhất trong lịch sử Trái Đất.
Các loài cánh màng thích nghi thành công nhất ở kỷ Creta nhƣng phát triển đa dạng ở đại Tân Sinh. Nhiều loài côn trùng ngày nay đã phát triển từ đại Tân sinh. Trong thời kỳ này chúng ta tìm thấy các côn trùng đƣợc bảo vệ trong hổ phách, một điều kiện hoàn hảo và dễ dàng trong việc so sánh với các loài hiện nay. Khoa học nghiên cứu hoá thạch côn trùng đƣợc gọi là paleoentomology.
Trong nông lâm nghiệp côn trùng là một nhóm động vật đƣợc con ngƣời quan tâm, bởi chúng có ảnh hƣởng lớn tới các hoạt động sản xuất. Do đó, con ngƣời phải bắt tay vào tìm hiểu và nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái, hình thái học của các loài côn trùng. 3 Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú. Năm 3000 TCN, một cuốn sách cổ của Syrie viết đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại khủng khiếp của châu chấu sa mạc ( Schistocera gregaria).
Nhà tự nhiên học vĩ đại ngƣời Thụy Điển Carl von Linne đƣợc coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng đƣợc một bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng một cách hiện đại. Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745. Hội côn trùng học ở Nga đƣợc thành lập năm 1859. Những cuộc du hành của các nhà nghiên cứu côn trùng Nga nhƣ: Potarin (1899 - 1976), Provorovski (1895 – 1979), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản những tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền Tây Trung Quốc.
Đến thế kỉ XIX đã xuất bản nhiều tài liệu về côn trùng ở Châu Âu, Châu Mỹ (gồm 40 tập) ở Madagatsca (gồm 6 tập), quần đảo Hawai, Ấn Độ và nhiều nƣớc khác trên thế giới. Vào năm 1793, Sprengel (1750 – 1816) Xuất bản tác phẩm nổi tiếng mô tả mối quan hệ cấu tạo của loài hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng. Về phân loại năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Celeoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập. Ilinski đã xuất bản cuốn “ Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng”.
Năm 1950, Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô đã xuất bản tập “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” của tác giả L.Ap-non-di và G. Năm 1965 Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại Bộ Cánh cứng (Coleoptera) trong tập này đã xây dựng bảng tra 1350 giống thuộc Họ Bọ lá chrysomelidae. 4 Ở Trung Quốc môn côn trùng lâm nghiệp đã chính thức giảng dạy trong các trƣờng Đại học Lâm nghiệp từ năm 1952, từ đó việc nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp đƣợc đẩy mạnh.Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng học” trong đó có đề cập đến phân loại họ Bọ lá Chrysomelidae. Tác giả cho biết trên thế giới đã phát hiện đƣợc 24.000 loài bọ lá và tác giả đã mô tả cụ thể đƣợc 14 loài.
Tại Mỹ theo tài liệu sách hƣớng dẫn về lĩnh vực côn trùng ở Bắc châu Mỹ thuộc Mexico của Donald.Bororor và Richard.White (1970 – 1978) đã đề cập đến các đặc điểm phân loại của 9 họ phụ thuộc họ Bọ lá Chrysomelidae. Đó là điểm qua về một số mốc lịch sử nổi bật phát triển nghiên cứu về côn trùng của thế giới. Vì côn trùng là một lớp phong phú nhất trong giới động vật nên các tài liệu nghiên cứu về côn trùng cũng vô cùng nhiều và phong phú. -Việt Nam Việc nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta ngày càng đƣợc chú trọng, có rất nhiều công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách nhƣ: - 1976, xuất bản giáo trình “ Côn trùng học” của Phạm Ngọc Anh.
- 1993, xuất bản giáo trình “Kỹ thuật phòng trừ các loài sâu hại rừng” - 1988, Trần Công Loanh đã giới thiệu trong thông tin khoa học của trƣờng Đại học Lâm nghiệp số 2/1998, kết quả về loài sâu hại gấp mép thuộc giống Coleophora, họ Ngài bao (Coleophoridae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera). Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã đƣợc quan tâm nghiên cứu. Cao Thị Kim Thu (2002) đã xây dựng khóa định loại tới loài cánh úp ở Việt Nam. Công trình mà cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nƣớc ta.
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự, khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nƣớc ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo đã tiến hành định loại các loài thuộc bộ Cánh up. Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ. 5 Năm 2001, các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão đã xuất bản cuốn sách “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp”. Cuốn sách này đã đƣa ra các phƣơng pháp về điều tra đánh giá và dự tính dự báo khả năng phát dịch của sâu, bệnh hại rừng dựa vào đặc điểm sinh học mỗi loài.
Đối với công tác bảo vệ thực vật thì phòng trừ sâu hại là một vấn đề rất quan trọng. Vì nó giúp ngăn chặn thiệt hại do sâu gây ra, nâng cao năng suất cây trồng, cân bằng hệ sinh thái…Ngoài ý nghĩa về lợi ích kinh tế trực tiếp cho con ngƣời thì côn trùng sâu hại còn ảnh hƣởng lớn tới môi trƣờng. Để phòng trừ sâu hại có rất nhiều phƣơng pháp, cụ thể nhƣ: Phƣơng pháp kiểm dịch thực vật, phƣơng pháp canh tác, phƣơng pháp cơ giới vật lý, phƣơng pháp sinh học, phƣơng pháp hóa học và phƣơng pháp phòng trừ tổng hợp IPM. Sự ra đời của các công tác nghiên cứu về côn trùng chủ yếu để phục vụ tốt cho ngành Lâm nghiệp, nâng cao lợi ích của côn trùng có ích cũng nhƣ diệt trừ các loài côn trùng có hại.
Đối tƣợng mà côn trùng hƣớng tới chủ yếu là các cây lâm nghiêp nhƣ: cây ăn quả, cây rừng tự nhiên, cây công nghiệp… những loại cây này có đặc điểm chung là có kích thƣớc và chiều cao phát triển, diện tích cần tác động lớn, địa hình đa dạng phức tạp, chu kì kinh doanh sản xuất dài. Dẫn tới thảm thực bì phát triển, có nhiều tàn dƣ thực vật tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sâu hại ẩn náu và sinh sống.