mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Vào thời gian này, Tomachev A. nghiên cứu hệ thực vật vùng Taimua nằm ở tọa độ địa lý 74o20’-25o độ vĩ bắc và 102o 30’ độ kinh đông và cho ra nhiều nhận định có giá trị. Từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H.
Lecomte chủ biên năm (1907 - 1952). Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương (Trích dẫn từ tài liệu Phan Thị Hiền, 2015). 8 Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có. Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài (Phạm Hồng Ban, 2010).
Sự phong phú và đa dạng của giới thực vật trên trái đất là nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại. Các nhà thực vật học đã dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500. Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật Hạt kín; 5.000 loài thực vật Hạt trần; 6.000 loài Quyết thực vật; 14.000 loài Nấm và các loài thực vật bậc thấp khác (Lê Trần Chấn, 1990). Bên cạnh đó, còn rất nhiều những công trình khoa học và các báo cáo khác lần lượt được xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phương pháp luận cũng như thông báo các kết quả đã đạt được trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới.
Các kết quả nghiên cứu được công bố trong các báo cáo và hội nghị, hội thảo đã cơ bản thiết lập nên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phần nâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái, hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia. Những nghiên cứu về đa dạng ở Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên bán đảo Đông Dương, kéo dài theo hướng Bắc Nam với 1.700 km từ 8030' (Rạch Tàu - Cà Mau) đến 23030' vĩ độ Bắc (Lũng Cú - Hà Giang), ngoài ra còn có các đảo lớn nhỏ ven bờ và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phần trên đất liền có điểm cực Tây ở 102010' (ngã ba biên giới Việt - Lào - Trung Quốc) đến điểm cực Đông 109027' (mũi Nạy), nơi rộng nhất ở Miền Bắc khoảng 600 km và nơi hẹp nhất ở Đồng Hới - Quảng Bình với hơn 40 km và trên 3.200 km đường bờ biển. Diện tích đất liền của cả nước là 325.360 km2, có 3/4 là đồi núi với nhiều dãy núi cao như: Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Si Păng 3.143m cao nhất Việt Nam và Đông Dương.
Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới Việt Lào về phía Nam mở rộng thành các cao nguyên, với một số núi cao là Ngọc Linh 2.598m, Chư Yang Sin 2.287m so với mực nước biển. Xen kẽ các vùng núi là hệ thống sông, suối chằng chịt tạo ra hai vùng châu thổ lớn ở Bắc bộ và Nam bộ. Sự kéo dài theo hướng Bắc Nam và chia cắt mạnh về địa hình góp phần chi phối khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm ở nước ta. Do đó, có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền, từ đó tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và ĐDSH.
Các hệ sinh thái rất đa dạng: từ rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắc cho tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, tới rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ngập nước ven biển. Đến nay đã thống kê được gần 13.000 loài thực vật (Lã Đình Mỡi, 1998, 2001-2002; Nguyễn Văn Thêm, 2002; Nguyễn Tiến Bân, 2003- 2005; Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan, 2005; Võ Văn Chi, 2003-2004; Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô, 2003). Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1995; Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002, 2004; Đỗ Tất Lợi, 2005. Ngoài những tác phẩm cổ điển của Loureiro (1790), của Pierre (1879 - 1907), từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một số công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do Lecomte H.
Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các 10 loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương. Trên cơ sở bộ “Thực vật chí Đông Dương”, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.850 chi và 289 họ (Thái Văn Trừng, 1978). Bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và biên soạn (1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác, đến nay đã công bố 32 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch (gần 20% tổng số họ) (Phan Kế Lộc, 2001). Trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được miền Bắc có 5.196 loài thực vật (xếp theo hệ thống Engler) và năm 1969, Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.660 chi và 140 họ.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại (Phan Kế Lộc, 2001).
Song song với các công trình đó, ở miền Bắc từ năm 1969 - 1976 đã xuất bản bộ sách "Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên (Lê Khả Kế et al, 1969-1976). Công trình "Cây cỏ miền Nam Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp, 20 loài Rêu và 5.246 loài thực vật có mạch (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn, 2004). Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971- 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh hoạ. Đến năm 1996, công trình này được dịch sang tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên.
Trần Đình Lý (1993) đã công bố “1.900 loài cây có ích ở Việt Nam”, Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999 - 2001) đã công bố cuốn sách “Cây cỏ có ích ở Việt Nam”. Trong thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được hệ thống lại bởi các nhà thực vật học Liên Xô (cũ) và Việt Nam được đăng trong Kỷ yếu cây có mạch của thực vật Việt Nam - Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora tập 1 - 2 (1996) (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, 2004). Một trong những công trình đáng chú ý nhất phải kể đến bộ "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong hai năm (1999 - 2000). Đây là bộ danh sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu về phân loại, sinh 11 thái hay ứng dụng các cây cỏ có ích trong đồng bào dân tộc đã được công bố như Orchidaceae in Indo-China, Opera Botanica 114, Copenhagen của Gunnar Seidenfaden (1992), Khóa định loại họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), Họ Na (Annonaceae) Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), Họ Cói (Cyperaceae) của Nguyễn Khắc Khôi (2002). Họ Lan Việt Nam của Leonid Averyanov (1994); Họ Apocynaceae Việt Nam của Trần Đình Lý (1986); Đa dạng thực vật ở vùng núi cao Fanxipang, Việt nam của Thin nguyen Nghia & D. Harder (1996); Điều tra sơ bộ về các cây làm thuốc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Lương Sơn, Hòa Bình của Nguyễn Nghĩa Thìn (1993); Cây cỏ ở VQG Cúc Phương của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997); Các kiểu vùng địa lý thực vật và các chi thực vật đã biết ở Việt nam, cũng của tác giả trên công bố năm 1999. Thêm vào đó, hàng loạt các kết quả nghiên cứu về khu hệ, thống kê và bổ sung loài thực vật mới cho Việt Nam, có thể tìm thấy trong các ấn phẩm của Nguyễn Tiến Bân (1997); Võ Văn Chi (2007); Nguyễn Duy Chuyên, Ngô Kế An (1995); Vũ Văn Chuyên (chủ biên, 1969-1978); Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995); Trần Đình Đại (2001); Trần Hợp (2002); Nguyễn Thị Thanh Hương (2010); Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995); Forest Inventory and Planing Institute (1996).Cùng với các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát triển rừng, khôi phục trạng thái rừng sau khai thác của Hoàng Kim Ngũ (1984); Lê Ngọc Công (1998); Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000); Đặng Kim Vui (2002); Phạm Xuân Hoàn, Trương Quang Bích (2009); Nguyễn Thế Hưng (2003).
Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng, bảo tồn và phát triển hệ thực vật Việt Nam. Theo Nguyễn Văn Thêm (2002), phân tích và đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt địa lý, trước tiên phải kể đến các công trình của Gagnepain: "Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương (1926) và "Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương" (1944), các công trình nghiên cứu của Pócs Tamás (1965) và đặc biệt là "Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam" của Thái Văn Trừng (1999). 12 Theo Trần Hợp (2000), hệ thực vật họ Phong lan nằm trong khu vực phân bố phong phú với 137 đến 140 chi và trên 800 loài. Averyanova, (2003) hệ thực vật họ Phong lan có 152 với 897 loài (Averyanov, Anna L.
Trên phạm vi cả nước, Nguyễn Tiến Bân đã thống kê và đi đến kết luận: Thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8.050 chi, trong đó lớp Hai lá mầm có 1.590 chi và trên 6.300 loài, lớp Một lá mầm có 460 chi với 2. Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ và 733 loài cây trồng. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao và 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loài chiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật.