Luận văn nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại vườn thực vật vườn quốc gia phong nha kẻ bàng

Tài liệu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Không có thông tin

Chuyên ngành

Nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Không có thông tin

Không có thông tin

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Mục tiêu nghiên cứu

0.2. Mục tiêu tổng quát

0.3. Mục tiêu cụ thể

0.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.4.1. Ý nghĩa khoa học

0.4.2. Ý nghĩa thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học

1.2. Tình hình nghiên cứu về hệ thực vật

1.2.1. Nghiên cứu tính đa dạng trên Thế giới

1.2.2. Những nghiên cứu về đa dạng ở Việt Nam

1.2.3. Nghiên cứu thực vật ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

1.3. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu

1.3.1. Điều kiện tự nhiên Vườn thực vật, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng

1.3.1.1. Vị trí địa lý
1.3.1.2. Địa hình địa thế

1.3.2. Hiện trạng tài nguyên rừng

1.3.3. Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội Vườn thực vật

1.3.4. Đánh giá chung đặc điểm điều kiện tự nhiên và các nguồn lực kinh tế xã hội tác động đến công tác quản lý tài nguyên thực vật

2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

2.1.3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.3.1. Thời gian nghiên cứu
2.1.3.2. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Điều tra tính đa dạng thành phần loài thực vật theo hệ thống các taxon khác nhau tại Vườn Thực vật

2.2.2. Đánh giá tính đa dạng về giá trị tài nguyên thực vật theo các nhóm sử dụng khác nhau tại khu vực nghiên cứu

2.2.3. Tổ thành và các chỉ số đa dạng sinh học của các loài thực vật bậc cao tại Vườn Thực vật

2.2.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Thực vật

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.3.2. Phương pháp chuyên gia

2.3.3. Phương pháp điều tra thực địa

2.3.4. Phương pháp định loại thực vật

2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đa dạng về thành phần các loài thực vật bậc cao tại Vườn thực vật

3.1.1. Đa dạng về thành phần loài

3.1.2. Đa dạng về số lượng loài trong các họ thực vật

3.1.3. Đa dạng về các loài trong chi

3.1.4. Đa dạng về các loài quý hiếm tại Vườn thực vật

3.2. Đánh giá tính đa dạng về giá trị tài nguyên thực vật theo các nhóm sử dụng khác nhau

3.2.1. Đa dạng về dạng sống

3.2.2. Đa dạng về công dụng của các loài thực vật bậc cao tại Vườn thực vật

3.3. Tổ thành rừng và mật độ lâm phần tại Vườn Thực vật

3.3.1. Tổ thành cây tầng cao và mật độ lâm phần tại Vườn Thực vật

3.3.2. Tổ thành và mật độ cây tái sinh tại Vườn Thực vật

3.4. Đánh giá các chỉ số đa dạng sinh học tại Vườn Thực vật

3.4.1. Các chỉ số đa dạng sinh học đối với các loài cây gỗ

3.4.2. Các chỉ số đa dạng sinh học đối với các loài cây tái sinh

3.4.3. Các chỉ số đa dạng sinh học đối với các loài cây LSNG

3.5. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn thực vật

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao

Nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ tài nguyên sinh học quý giá. Vườn Quốc gia này không chỉ nổi bật với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ mà còn là nơi cư trú của nhiều loài thực vật quý hiếm. Việc nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật không chỉ giúp duy trì hệ sinh thái mà còn góp phần vào phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

1.1. Ý nghĩa của việc bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao

Bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao có vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Các loài thực vật không chỉ cung cấp thực phẩm mà còn điều hòa khí hậu và bảo vệ đất đai. Việc bảo tồn giúp ngăn chặn sự tuyệt chủng của các loài quý hiếm và duy trì nguồn gen cho các thế hệ tương lai.

1.2. Tình hình đa dạng thực vật tại Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có sự đa dạng sinh học phong phú với nhiều loài thực vật bậc cao. Theo các nghiên cứu, khu vực này có khoảng 1.500 loài thực vật, trong đó nhiều loài được ghi nhận là quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, sự phát triển của con người và biến đổi khí hậu đang đe dọa đến sự tồn tại của chúng.

II. Các thách thức trong việc bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao

Việc bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự gia tăng dân số và hoạt động kinh tế đã dẫn đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách không bền vững. Điều này không chỉ làm giảm số lượng loài mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc sinh thái của khu vực.

2.1. Tác động của khai thác tài nguyên đến đa dạng thực vật

Khai thác gỗ, đất đai và các nguồn tài nguyên khác đã làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng thực vật. Nhiều loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do mất môi trường sống và áp lực từ con người.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến hệ sinh thái

Biến đổi khí hậu đang gây ra những thay đổi lớn trong điều kiện khí hậu và môi trường sống của các loài thực vật. Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa không ổn định đã làm thay đổi sự phân bố và sinh trưởng của nhiều loài thực vật bậc cao tại Vườn Quốc gia.

III. Phương pháp nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao

Để bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực tiễn hiệu quả. Việc điều tra, phân loại và đánh giá tình trạng các loài thực vật là rất cần thiết để đưa ra các giải pháp bảo tồn phù hợp.

3.1. Phương pháp điều tra thực địa và thu thập dữ liệu

Phương pháp điều tra thực địa giúp thu thập thông tin về sự phân bố và tình trạng của các loài thực vật. Các nhà nghiên cứu sẽ tiến hành khảo sát tại các khu vực khác nhau trong Vườn Quốc gia để đánh giá tính đa dạng và số lượng loài.

3.2. Phân tích và đánh giá chỉ số đa dạng sinh học

Việc phân tích các chỉ số đa dạng sinh học như chỉ số Shannon và Simpson sẽ giúp đánh giá mức độ phong phú và đồng đều của các loài thực vật. Điều này là cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao

Kết quả nghiên cứu về đa dạng thực vật bậc cao tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ứng dụng thực tiễn trong bảo tồn và phát triển bền vững. Các thông tin thu thập được sẽ hỗ trợ trong việc xây dựng các chính sách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

4.1. Đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học

Các giải pháp bảo tồn cần được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu. Việc tạo ra các khu bảo tồn, nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển du lịch sinh thái là những biện pháp quan trọng để bảo vệ đa dạng thực vật.

4.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo tồn

Hợp tác với các tổ chức quốc tế và các nước trong khu vực sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng thực vật. Việc chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực sẽ tạo ra những cơ hội mới cho công tác bảo tồn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu đa dạng thực vật

Nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật bậc cao tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết. Những nỗ lực trong việc bảo tồn không chỉ giúp duy trì hệ sinh thái mà còn góp phần vào phát triển bền vững cho khu vực. Tương lai của nghiên cứu này phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan.

5.1. Tầm quan trọng của việc duy trì đa dạng sinh học

Duy trì đa dạng sinh học là điều kiện tiên quyết để bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững. Các loài thực vật bậc cao đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm, thuốc men và các dịch vụ sinh thái khác.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và bảo tồn

Nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật cần được tiếp tục mở rộng và phát triển. Việc áp dụng công nghệ mới và các phương pháp nghiên cứu hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn.

23/07/2025
Luận văn nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại vườn thực vật vườn quốc gia phong nha kẻ bàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Vào thời gian này, Tomachev A. nghiên cứu hệ thực vật vùng Taimua nằm ở tọa độ địa lý 74o20’-25o độ vĩ bắc và 102o 30’ độ kinh đông và cho ra nhiều nhận định có giá trị. Từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H.

Lecomte chủ biên năm (1907 - 1952). Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương (Trích dẫn từ tài liệu Phan Thị Hiền, 2015). 8 Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có. Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài (Phạm Hồng Ban, 2010).

Sự phong phú và đa dạng của giới thực vật trên trái đất là nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại. Các nhà thực vật học đã dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500. Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật Hạt kín; 5.000 loài thực vật Hạt trần; 6.000 loài Quyết thực vật; 14.000 loài Nấm và các loài thực vật bậc thấp khác (Lê Trần Chấn, 1990). Bên cạnh đó, còn rất nhiều những công trình khoa học và các báo cáo khác lần lượt được xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phương pháp luận cũng như thông báo các kết quả đã đạt được trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới.

Các kết quả nghiên cứu được công bố trong các báo cáo và hội nghị, hội thảo đã cơ bản thiết lập nên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phần nâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái, hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia. Những nghiên cứu về đa dạng ở Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên bán đảo Đông Dương, kéo dài theo hướng Bắc Nam với 1.700 km từ 8030' (Rạch Tàu - Cà Mau) đến 23030' vĩ độ Bắc (Lũng Cú - Hà Giang), ngoài ra còn có các đảo lớn nhỏ ven bờ và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phần trên đất liền có điểm cực Tây ở 102010' (ngã ba biên giới Việt - Lào - Trung Quốc) đến điểm cực Đông 109027' (mũi Nạy), nơi rộng nhất ở Miền Bắc khoảng 600 km và nơi hẹp nhất ở Đồng Hới - Quảng Bình với hơn 40 km và trên 3.200 km đường bờ biển. Diện tích đất liền của cả nước là 325.360 km2, có 3/4 là đồi núi với nhiều dãy núi cao như: Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Si Păng 3.143m cao nhất Việt Nam và Đông Dương.

Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới Việt Lào về phía Nam mở rộng thành các cao nguyên, với một số núi cao là Ngọc Linh 2.598m, Chư Yang Sin 2.287m so với mực nước biển. Xen kẽ các vùng núi là hệ thống sông, suối chằng chịt tạo ra hai vùng châu thổ lớn ở Bắc bộ và Nam bộ. Sự kéo dài theo hướng Bắc Nam và chia cắt mạnh về địa hình góp phần chi phối khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm ở nước ta. Do đó, có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền, từ đó tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và ĐDSH.

Các hệ sinh thái rất đa dạng: từ rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắc cho tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, tới rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ngập nước ven biển. Đến nay đã thống kê được gần 13.000 loài thực vật (Lã Đình Mỡi, 1998, 2001-2002; Nguyễn Văn Thêm, 2002; Nguyễn Tiến Bân, 2003- 2005; Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan, 2005; Võ Văn Chi, 2003-2004; Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô, 2003). Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1995; Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002, 2004; Đỗ Tất Lợi, 2005. Ngoài những tác phẩm cổ điển của Loureiro (1790), của Pierre (1879 - 1907), từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một số công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do Lecomte H.

Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các 10 loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương. Trên cơ sở bộ “Thực vật chí Đông Dương”, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.850 chi và 289 họ (Thái Văn Trừng, 1978). Bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và biên soạn (1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác, đến nay đã công bố 32 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch (gần 20% tổng số họ) (Phan Kế Lộc, 2001). Trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được miền Bắc có 5.196 loài thực vật (xếp theo hệ thống Engler) và năm 1969, Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.660 chi và 140 họ.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại (Phan Kế Lộc, 2001).

Song song với các công trình đó, ở miền Bắc từ năm 1969 - 1976 đã xuất bản bộ sách "Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên (Lê Khả Kế et al, 1969-1976). Công trình "Cây cỏ miền Nam Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp, 20 loài Rêu và 5.246 loài thực vật có mạch (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn, 2004). Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971- 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh hoạ. Đến năm 1996, công trình này được dịch sang tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên.

Trần Đình Lý (1993) đã công bố “1.900 loài cây có ích ở Việt Nam”, Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999 - 2001) đã công bố cuốn sách “Cây cỏ có ích ở Việt Nam”. Trong thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được hệ thống lại bởi các nhà thực vật học Liên Xô (cũ) và Việt Nam được đăng trong Kỷ yếu cây có mạch của thực vật Việt Nam - Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora tập 1 - 2 (1996) (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, 2004). Một trong những công trình đáng chú ý nhất phải kể đến bộ "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong hai năm (1999 - 2000). Đây là bộ danh sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu về phân loại, sinh 11 thái hay ứng dụng các cây cỏ có ích trong đồng bào dân tộc đã được công bố như Orchidaceae in Indo-China, Opera Botanica 114, Copenhagen của Gunnar Seidenfaden (1992), Khóa định loại họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), Họ Na (Annonaceae) Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), Họ Cói (Cyperaceae) của Nguyễn Khắc Khôi (2002). Họ Lan Việt Nam của Leonid Averyanov (1994); Họ Apocynaceae Việt Nam của Trần Đình Lý (1986); Đa dạng thực vật ở vùng núi cao Fanxipang, Việt nam của Thin nguyen Nghia & D. Harder (1996); Điều tra sơ bộ về các cây làm thuốc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Lương Sơn, Hòa Bình của Nguyễn Nghĩa Thìn (1993); Cây cỏ ở VQG Cúc Phương của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997); Các kiểu vùng địa lý thực vật và các chi thực vật đã biết ở Việt nam, cũng của tác giả trên công bố năm 1999. Thêm vào đó, hàng loạt các kết quả nghiên cứu về khu hệ, thống kê và bổ sung loài thực vật mới cho Việt Nam, có thể tìm thấy trong các ấn phẩm của Nguyễn Tiến Bân (1997); Võ Văn Chi (2007); Nguyễn Duy Chuyên, Ngô Kế An (1995); Vũ Văn Chuyên (chủ biên, 1969-1978); Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995); Trần Đình Đại (2001); Trần Hợp (2002); Nguyễn Thị Thanh Hương (2010); Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995); Forest Inventory and Planing Institute (1996).Cùng với các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát triển rừng, khôi phục trạng thái rừng sau khai thác của Hoàng Kim Ngũ (1984); Lê Ngọc Công (1998); Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000); Đặng Kim Vui (2002); Phạm Xuân Hoàn, Trương Quang Bích (2009); Nguyễn Thế Hưng (2003).

Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng, bảo tồn và phát triển hệ thực vật Việt Nam. Theo Nguyễn Văn Thêm (2002), phân tích và đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt địa lý, trước tiên phải kể đến các công trình của Gagnepain: "Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương (1926) và "Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương" (1944), các công trình nghiên cứu của Pócs Tamás (1965) và đặc biệt là "Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam" của Thái Văn Trừng (1999). 12 Theo Trần Hợp (2000), hệ thực vật họ Phong lan nằm trong khu vực phân bố phong phú với 137 đến 140 chi và trên 800 loài. Averyanova, (2003) hệ thực vật họ Phong lan có 152 với 897 loài (Averyanov, Anna L.

Trên phạm vi cả nước, Nguyễn Tiến Bân đã thống kê và đi đến kết luận: Thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8.050 chi, trong đó lớp Hai lá mầm có 1.590 chi và trên 6.300 loài, lớp Một lá mầm có 460 chi với 2. Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ và 733 loài cây trồng. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao và 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loài chiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ