Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nghiên cứu ứng xử chịu uốn của dầm bẹt bê tông in 3d và bê tông cốt thép khi chịu tải trọng tập trung

Nghiên cứu ứng xử chịu uốn của dầm bẹt bê tông in 3D và bê tông cốt thép dưới tải trọng tập trung, phân tích hiệu quả kết cấu và ứng dụng thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại học Hải Phòng

Chuyên ngành

Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài NCKH

2023-2024

49
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Cơ sở lý do lựa chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học

0.6. Ý nghĩa thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về công nghệ in 3D

1.1.1. Công nghệ in 3D

1.1.2. Một số công nghệ in 3D trong xây dựng

1.2. Tổng quan về cấu kiện dầm bẹt

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CẤU KIỆN DẦM BẸT

2.1. Cấu kiện dầm bẹt trong kết cấu công trình

2.2. Lựa chọn kích thước dầm bẹt

2.3. Sự làm việc chịu uốn của cấu kiện dầm nói chung

2.4. Chi tiết cấu tạo dầm bẹt bằng bê tông in

2.5. Vật liệu, cấp phối dầm in và dầm bê tông cốt thép truyền thống

2.6. Dầm bê tông cốt thép truyền thống

2.7. Chế tạo dầm

2.7.1. Chế tạo dầm in

2.7.2. Chế tạo dầm BTCT đổ toàn khối

3. CHƯƠNG 3: CHƯƠNG TRÌNH THÍ NGHIỆM

3.1. Thí nghiệm uốn dầm

3.2. Thí nghiệm uốn và nén mẫu vữa bê tông

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM UỐN DẦM BẸT BẰNG BÊ TÔNG IN VÀ SO SÁNH VỚI DẦM BTCT TRUYỀN THỐNG

4.1. Dạng phá hoại các dầm bẹt

4.2. Khả năng chịu uốn của các dầm

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về công nghệ in 3D

Công nghệ in 3D đang cách mạng hóa ngành xây dựng với nhiều ưu điểm như giảm thời gian, chi phí và chất thải. Công nghệ in 3D cho phép tạo ra các cấu kiện phức tạp với độ chính xác cao. Các phương pháp in phổ biến bao gồm in đường biên, in đầy, và in hình khối. Mỗi phương pháp có đặc điểm riêng, phù hợp với các loại vật liệu và yêu cầu kỹ thuật khác nhau. Kỹ thuật in 3D không chỉ cải thiện chất lượng công trình mà còn bảo vệ sức khỏe công nhân.

1.1. In đường biên

In đường biên là kỹ thuật in từng lớp bê tông, bắt đầu từ đường viền ngoài. Phương pháp này cho phép in các cấu kiện với nhiều vật liệu khác nhau, tạo ra các cấu trúc phức tạp và chính xác. Tuy nhiên, việc bố trí nhiều đầu in với vật liệu khác nhau vẫn là thách thức kỹ thuật.

1.2. In đầy

In đầy là quá trình ép đùn vật liệu liên tục theo đường đi xác định. Phương pháp này có tốc độ in cao nhưng độ phân giải thấp hơn so với in đường biên. Nó phù hợp với các cấu kiện lớn và đơn giản.

1.3. In hình khối

In hình khối sử dụng vật liệu dạng bột và chất kết dính để tạo hình. Phương pháp này phù hợp với vật liệu polyme, kim loại và gốm, cho phép tạo ra các mô hình phức tạp với độ chi tiết cao.

II. Tổng quan về cấu kiện dầm bẹt

Dầm bẹt là cấu kiện quan trọng trong hệ kết cấu công trình, đặc biệt là nhà cao tầng. Dầm bẹt có chiều cao nhỏ hơn nhiều so với bề rộng, giúp tiết kiệm vật liệu và tăng không gian sử dụng. Tuy nhiên, việc thiết kế dầm bẹt đòi hỏi phải đảm bảo khả năng chịu lực và độ võng. Nghiên cứu kết cấu dầm bẹt tập trung vào việc tối ưu hóa kích thước và vật liệu để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và thẩm mỹ.

2.1. Ứng dụng dầm bẹt

Dầm bẹt được sử dụng rộng rãi trong các công trình dân dụng và công nghiệp, đặc biệt là nhà cao tầng. Chúng giúp giảm chiều cao tầng và tăng tính thẩm mỹ của không gian sử dụng. Tuy nhiên, việc thiết kế dầm bẹt cần xem xét ảnh hưởng của hệ sàn đến độ cứng ngang của công trình.

2.2. Thiết kế dầm bẹt

Thiết kế dầm bẹt đòi hỏi phải tính toán độ võng và khả năng chịu lực. Các tiêu chuẩn như ACI 318-2002 được áp dụng để đảm bảo dầm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật. Việc lựa chọn kích thước dầm bẹt cần cân nhắc giữa yêu cầu kiến trúc và khả năng chịu lực.

III. Nghiên cứu ứng xử chịu uốn của dầm bẹt

Nghiên cứu tập trung vào ứng xử chịu uốn của dầm bẹt bê tông in 3Dbê tông cốt thép dưới tải trọng tập trung. Phương pháp thí nghiệm được sử dụng để đánh giá khả năng chịu lực và độ võng của các loại dầm. Kết quả nghiên cứu cho thấy dầm bẹt bê tông in 3D có khả năng chịu uốn tương đương với dầm bê tông cốt thép truyền thống, đồng thời mang lại nhiều lợi ích về mặt kỹ thuật và kinh tế.

3.1. Thí nghiệm uốn dầm

Thí nghiệm uốn dầm được thực hiện để đánh giá khả năng chịu lực và độ võng của dầm bẹt bê tông in 3Ddầm bê tông cốt thép truyền thống. Kết quả thí nghiệm cho thấy cả hai loại dầm đều đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, nhưng dầm bê tông in 3D có ưu thế về tính linh hoạt và khả năng tạo hình phức tạp.

3.2. Phân tích kết quả

Phân tích kết quả thí nghiệm cho thấy dầm bẹt bê tông in 3D có khả năng chịu uốn tương đương với dầm bê tông cốt thép truyền thống. Điều này khẳng định tiềm năng ứng dụng của công nghệ in 3D trong lĩnh vực xây dựng, đặc biệt là trong các công trình dân dụng và công nghiệp.

IV. Ứng dụng và ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ in 3D vào lĩnh vực xây dựng. Dầm bẹt bê tông in 3D không chỉ đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật mà còn mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế và môi trường. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong các công trình dân dụng và công nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành xây dựng hiện đại.

4.1. Ứng dụng trong thực tiễn

Dầm bẹt bê tông in 3D có thể được ứng dụng trong các công trình dân dụng và công nghiệp, đặc biệt là nhà cao tầng. Chúng giúp giảm chi phí vật liệu và thời gian thi công, đồng thời tăng tính thẩm mỹ và độ bền của công trình.

4.2. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này góp phần vào việc phát triển công nghệ in 3D trong lĩnh vực xây dựng. Kết quả nghiên cứu không chỉ khẳng định tiềm năng của dầm bẹt bê tông in 3D mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc tối ưu hóa vật liệu và kỹ thuật in 3D.

21/02/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nghiên cứu ứng xử chịu uốn của dầm bẹt bê tông in 3d và bê tông cốt thép khi chịu tải trọng tập trung

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về công nghệ in 3D 1. Công nghệ in 3D Trong thời gian gần đây, thuật ngữ xây nhà bằng công nghệ in 3D hay “in nhà” đã được quan tâm và tìm hiểu nhiều hơn trong lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam. Công nghệ in 3D đã và đang mở ra một cuộc cách mạng cho nghành xây dựng trên khắp thế giới với nhiều công trình tiêu biểu [1-5].

Với sự áp dụng khoa học – kĩ thuật tiên tiến vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không ngoại lệ chúng ta đã và đang đón nhận kĩ thuật mới – công nghệ xây dựng bằng máy in 3D vào việc thi công các công trình dân dụng, công nghiệp đến các loại kiến trúc đòi hỏi sự tinh xảo và chuyên nghiệp hơn. So với công nghệ xây dựng bằng phương pháp truyền thống hiện nay, phương pháp xây dựng bằng công nghệ in 3D có rất nhiều lợi thế. Công nghệ in 3D trong xây dựng đang rút ngắn thời gian, giảm bớt chi phí, tạo nên chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và gần như không có chất thải của vật liệu xây dựng, hệ ván khuôn hay giàn giáo. Việc sử dụng công nghệ này cũng giúp công nhân bảo vệ được sức khỏe của mình, vì họ không phải tiếp xúc nhiều với môi trường làm việc bụi bặm và độc hại như các quy trình xây dựng thông thường.

Bằng các nghiên cứu lí thuyết về cấp phối vật liệu in, nghiên cứu nguyên lý chế tạo thiết bị in và đặc biệt là các chương trình thí nghiệm đã được tiến hành nhằm đánh giá tính in được của vữa in và các tính năng của vật liệu in đã cho thấy tính khoa học và ứng dụng của công nghệ in 3D. Từ đó đưa ra được các kết luận có ý nghĩa, định hướng và phát triển các sản phẩm, các cấu kiện cho lĩnh vực xây dựng dân dụng tại Việt Nam. Một số công nghệ in 3D trong xây dựng a) In đường biên (Contour Crafting) [6] Là kỹ thuật chế tạo trong đó bê tông được in thành từng lớp. Đầu tiên máy in sẽ in đường biên ngoài của cấu kiện để tạo thành một phần kín, sau đó tiếp tục in các lớp bên trong.

CC có thể in trên cùng một mặt cắt với các vật liệu khác nhau nhờ vào số lượng đầu in. Các nguyên liệu khác nhau được điều khiển bằng máy tính, được đưa vào hệ thống vòi phun CC và trộn trong thùng vòi phun. Đây là công nghệ in 3D hứa 12 hẹn nhất và cho phép chế tạo ngôi nhà hoàn chỉnh tại chỗ. Hai hoặc nhiều vòi phun di chuyển đồng thời dọc theo giàn và in đồng thời các thành phần vật liệu khác nhau của kết cấu.

Tuy nhiên, việc bố trí nhiều hơn 1 đầu in và với vật liệu in khác nhau vẫn còn là một bài toán công nghệ phức tạp.1: In đường biên 1. In đầy (Concrete printing) In bê tông là một quá trình vòi phun ép đùn vật liệu trong khi di chuyển theo một con đường xác định trước trong một quá trình liên tục. Máy in sẽ in toàn bộ hình học của một lớp thay vì in mép ngoài trước trong một chu trình di chuyển. Với một cấp phối nào đó, nguyên liệu được phối trộn trước và lưu trữ trong máy bơm bên ngoài máy in và được đưa vào máy in bằng ống bơm.

Phễu phía trên vòi phun chứa vật liệu in và được đẩy xuống đầu in. So với CC, CP có tốc độ in cao hơn nhưng độ phân giải thấp hơn. Việc thi công các cấu kiện hoặc công trình với máy in 3D có thể được di chuyển bằng hệ thống giàn, rô bốt hoặc hệ thống cần trục. In hình khối (D-Shape) Vật liệu in dạng bột được đặt và nén theo độ dày thiết kế.

Sau đó, chất kết dính được bơm vào những nơi cần thiết bằng vòi phun. Sau khi quá trình đông cứng hoàn tất, có thể loại bỏ bột rời và lấy riêng mô hình đã cứng. Phương pháp này phù hợp với vật liệu in là polyme, kim loại và gốm.3: In hình khối 1. Tổng quan về cấu kiện dầm bẹt Hình 1.4: Dầm bẹt BTCT trong công trình Cấu kiện dầm là một trong những bộ phận kết cấu quan trọng trong hệ kết cấu của các công trình, đặc biệt là loại kết cấu khung.

Cấu kiện dầm là bộ phận đỡ sàn, đỡ tường và liên kết các cột lại tạo thành hệ khung. Dạng tiết diện phổ biến nhất của các dầm là hình chữ nhật với các quy trình thiết kế và yêu cầu cấu tạo đơn giản, cũng như việc xây dựng các dầm này không yêu cầu phức tạp hoặc cần các công cụ đặc biệt. Thông thường căn cứ vào tỉ lệ giữa chiều rộng/chiều cao hoặc tỉ lệ giữa nhịp dầm và chiều cao dầm của dầm để phân loại thành dầm cao, dầm bẹt và dầm phổ thông. Dầm phổ thông thường có tỉ lệ bề rộng với chiều cao từ khoảng 0,5 đến 0,75.

Dầm bẹt và dầm phổ thông thường có tỉ lệ giữa nhịp dầm và chiều cao lớn hơn 5 còn lại được xem 14 là dầm cao. Dầm phổ thông và dầm bẹt được dùng rộng rãi trong tất cả các hệ kết cấu, và được thiết kế về khả năng chịu uốn, cắt và biến dạng để đảm bảo sự làm việc của công trình. Trong khi đó, các dầm cao thì ít được sử dụng hơn, được dùng như các dầm chuyển để đỡ các cột bổ sung. Loại dầm này đóng vai trò làm các dầm vành trong hệ thống nhà cao tầng giúp tăng độ cứng của hệ kết cấu và giảm tác động của các tải trọng ngang.

Sự có mặt của hệ các dầm trong hệ kết cấu của các công trình thường làm giảm chiều cao thông thủy của tầng. Đối với nhà nhiều tầng nếu chọn tiết diện dầm theo các phương pháp truyền thống để đảm bảo các điều kiện về độ bền và độ võng chúng ta sẽ có các dầm có chiều cao rất lớn để vượt các khẩu độ lớn, dẫn đến chiều cao nhà sẽ cao theo, và một số điều kiện về kinh tế, nhất là thẩm mỹ công trình sẽ không đạt yêu cầu. Do vậy người ta cần nghiên cứu các phương pháp tính toán để đi đến lựa chọn một cách hợp lý kích thước dầm sao cho chiều cao dầm giảm được đến mức tối thiểu mà vẫn thỏa mãn được tất cả các yêu cầu về độ võng và khả năng chịu lực. Từ đó khái niệm dầm bẹt ra đời.

Do vậy, xu hướng thiết kế chiều cao các dầm càng nhỏ thì sẽ càng có lợi về mặt sử dụng không gian nhưng lại bất lợi về khả năng chịu lực và biến dạng so với cấu kiện dầm thông thường có cùng diện tích tiết diện. Tuy nhiên, xu hướng lựa chọn dầm bẹt thay vì dầm thông thường ngày càng phổ biến bởi hai mục tiêu đồng thời đạt được đó là: giảm chiều cao tầng của các công trình và tăng tính thẩm mỹ của không gian sử dụng. 15 CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CẤU KIỆN DẦM BẸT 2. Cấu kiện dầm bẹt trong kết cấu công trình Để đáp ứng được yêu cầu về khả năng làm việc cũng như sự phát triển của xu hướng sử dụng dầm bẹt trong các công trình, việc nghiên cứu sự làm việc của loại dầm này là một yêu cầu tất yếu khách quan.

Đối với kết cấu bê tông cốt thép thông thường, dầm bẹt thường được nghiên cứu về khả năng chịu cắt bởi đây là dạng phá hoại phổ biến của kiểu dầm này. Tuy nhiên, đối với dầm bẹt được chế tạo bằng máy in bê tông thì dầm không có cốt thép nên được thiết kế các sườn bụng. Đối với cấu kiện dầm bẹt được chế tạo bằng máy in bê tông, các kiểu sườn bụng cũng được thiết kế phong phú tuỳ thuộc các yêu cầu khác nhau nhờ tính in được của vật liệu – điều hoàn toàn không thể làm được bằng phương pháp đổ bê tông dùng ván khuôn. Trong nghiên cứu này, bụng dầm được thiết kế theo kiểu các thanh xiên của dàn.

Do vậy, dạng phá hoại theo tiết dện nghiêng do lực cắt sẽ không xảy ra mà thay vào đó là sự phá hoại trên các tiết diện thẳng góc do bê tông đạt tới giới hạn chịu kéo do mô men gây ra bởi dầm không có cốt thép. Vì vậy, nghiên cứu dầm bẹt với ứng xử chịu uốn thay vì ứng xử chịu cắt như dầm bê tông có cốt thép thông thường. Lựa chọn kích thước dầm bẹt a) Cơ sở tính toán Hiện nay việc ứng dụng dầm bẹt trong các công trình nhà nhiều tầng đã dần được các kỹ sư xây dựng dân dụng và công nghiệp quan tâm, chú ý đến nhiều hơn. Một số công trình thực tế cũng đã sử dụng loại kết cấu sàn phẳng có dầm bẹt.

Dầm bẹt là dầm có chiều cao bé hơn nhiều so với bề rộng. Dầm được bố trí một phương hay hai phương tùy thuộc vào hệ lưới cột đỡ bản. Dầm bẹt có ưu điểm: tiết kiệm vật liệu, tăng được số tầng, tạo được không gian lớn với kết cấu thanh mảnh, trần phẳng, không cần làm thêm trần treo che kết cấu; giải quyết cơ bản vướng mắc giữa yêu cầu công năng sử dụng trong thiết kế kiến trúc và giải pháp kết cấu phù hợp. Tuy nhiên khi dùng hệ kết cấu này, điều quan trọng là tìm bề rộng phù hợp của dầm bẹt nhằm thỏa mãn sự làm việc đồng thời của dầm và sàn, nhằm hạn chế độ võng.

16 Cần xét ảnh hưởng của hệ sàn có dầm bẹt đến độ cứng ngang của công trình, đặc biệt là trong kết cấu nhà nhiều tầng. Thông thường loại dầm này thích hợp với nhịp sàn ≤ 9m, nhịp dầm ≤ 15m. Áp dụng lý thuyết tính toán độ võng của dầm BTCT theo tiêu chuẩn Mỹ ACI 318-2002, có xét đến độ võng ngắn hạn, dài hạn và sự hình thành vết nứt để đề xuất cách lựa chọn tiết diện hợp lý cho dầm bẹt thỏa mãn yêu cầu kiến trúc. Khi một dầm bê tông chịu tải trọng, nó bị võng ngay và xuất hiện độ võng tức thời ∆i.

Nếu tải trọng vẫn đặt trên dầm, độ võng do tải trọng duy trì phụ thêm sẽ xuất hiện do hiện tượng từ biến. Giá trị độ võng tính toán theo lý thuyết này là tổng các độ võng tức thời do các hoạt tải cộng với phần độ võng duy trì do tĩnh tải và phần hoạt tải duy trì nào đó: + λ (t0, ∞ ) +λ∞ (2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ứng xử chịu uốn của dầm bẹt bê tông in 3D và bê tông cốt thép dưới tải trọng tập trung là một tài liệu chuyên sâu về kỹ thuật xây dựng, tập trung vào việc phân tích hành vi chịu uốn của dầm bẹt được sản xuất bằng công nghệ in 3D so với dầm bê tông cốt thép truyền thống. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về hiệu suất cơ học, độ bền và khả năng ứng dụng của vật liệu bê tông in 3D trong các công trình xây dựng hiện đại. Điều này không chỉ giúp các kỹ sư và nhà nghiên cứu đánh giá được tiềm năng của công nghệ mới mà còn mở ra hướng phát triển bền vững trong ngành xây dựng.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp kỹ thuật trong xây dựng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu lựa chọn thông số thiết kế cọc đất xi măng xử lý nền đường ở sóc trăng trà vinh, hoặc tìm hiểu về ứng dụng cọc xi măng đất trong Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng công trình thủy nghiên cứu ứng dụng cọc xi măng đất gia cố nền công trình xây dựng trên địa bàn thành phố hội an quảng nam. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu giải pháp gia cố nền cho các công trình dân dụng khu vực thành phố sóc trăng cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các phương pháp gia cố nền trong xây dựng.