Luận văn thạc sĩ về ứng dụng UPFC trong điều khiển công suất và thiết bị mạng trong hệ thống điện

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thiết bị mạng và nhà máy điện ứng dụng upfc điều khiển công suất trong hệ thống điện, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Bách Khoa - ĐHQG - HCM

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

94
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về UPFC và vai trò của nó trong hệ thống điện

UPFC (Unified Power Flow Controller) là một thiết bị trong hệ thống FACTS (Flexible AC Transmission Systems) nhằm điều khiển công suất trong hệ thống điện. Thiết bị này có khả năng điều chỉnh điện áp, công suất thực và công suất phản kháng một cách đồng thời, giúp cải thiện hiệu suất và độ ổn định của hệ thống điện. Theo nghiên cứu, UPFC có thể tối ưu hóa việc truyền tải công suất, giảm thiểu tổn thất và nâng cao độ tin cậy cho các mạng lưới điện phức tạp. "UPFC là giải pháp tối ưu cho việc điều khiển công suất trong hệ thống điện hiện đại, giúp đảm bảo cung cấp điện liên tục và ổn định".

1.1 Nguyên lý hoạt động của UPFC

UPFC hoạt động dựa trên nguyên lý điều khiển dòng điện xoay chiều, cho phép điều chỉnh điện áp và công suất trong các điều kiện hoạt động khác nhau. Thiết bị này bao gồm hai bộ chuyển đổi điện tử và một máy biến áp, giúp điều chỉnh và tối ưu hóa dòng công suất trong hệ thống truyền tải. "Nguyên lý hoạt động của UPFC cho phép điều chỉnh linh hoạt các thông số điện năng, từ đó nâng cao hiệu suất hoạt động của hệ thống điện".

II. Ứng dụng của UPFC trong điều khiển công suất hệ thống điện

Việc ứng dụng UPFC trong hệ thống điện đã chứng minh được hiệu quả trong việc điều khiển công suất, đặc biệt trong các trường hợp có tải thay đổi và nhu cầu điện năng cao. Nghiên cứu cho thấy rằng UPFC có thể cải thiện khả năng truyền tải công suất lên đến 30% so với các hệ thống truyền tải truyền thống. "Sự xuất hiện của UPFC đã mở ra những cơ hội mới trong việc quản lý và điều khiển năng lượng, đặc biệt là trong các mạng điện thông minh".

2.1 Tính toán và mô phỏng công suất với UPFC

Trong nghiên cứu, hai mô hình mạng điện đã được xây dựng để tính toán hiệu quả của UPFC. Mô hình 1 với 5 nút và mô hình 2 với 6 nút cho thấy sự cải thiện rõ rệt về dòng công suất và giảm thiểu tổn thất điện năng sau khi lắp đặt UPFC. "Kết quả cho thấy rằng việc tích hợp UPFC vào mạng lưới điện không chỉ cải thiện công suất mà còn nâng cao độ ổn định của hệ thống".

III. Kết luận và hướng phát triển

Nghiên cứu về UPFC cho thấy đây là một giải pháp hiệu quả cho việc điều khiển công suất trong hệ thống điện. Việc áp dụng UPFC không chỉ giúp tối ưu hóa công suất truyền tải mà còn hỗ trợ quản lý năng lượng bền vững. Hướng phát triển tiếp theo cần tập trung vào việc nâng cao khả năng tích hợp UPFC với các công nghệ mới như mạng điện thông minh và năng lượng tái tạo. "UPFC sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống điện hiện đại, đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng cao".

3.1 Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện thêm các nghiên cứu về khả năng kết hợp UPFC với các nguồn năng lượng tái tạo, nhằm tối ưu hóa hiệu suất và giảm thiểu tác động đến môi trường. Ngoài ra, việc phát triển các công nghệ điều khiển thông minh cho UPFC sẽ là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của hệ thống điện. "Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển UPFC sẽ tạo ra những giải pháp bền vững cho tương lai của ngành điện".

07/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hệ thống điện là sự kết nối của các máy phát đến các trung tâm tải thông qua đường dây truyền tải cao áp. Nó được chia thành 3 hệ thống con: hệ thống phát, hệ thống truyền tải và hệ thống phân phối. Tuy nhiên cả 3 hệ thống này đều có đặc điểm và vị trí địa lý khác nhau. Với đặc điểm địa lý tự nhiên, có thể chia hệ thống điện nước ta thành 3 hệ thống điện miền: - Hệ thống Điện miền Bắc: bao gồm các tỉnh miền Bắc từ Hà Tĩnh trở ra; - Hệ thống điện miền Trung: bao gồm các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Bình đến Khánh Hoà và bốn tỉnh Tây Nguyên Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông; - Hệ Thống Điện miền Nam: bao gồm các tỉnh Nam Bộ và các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng.

Nguồn phát chủ yếu của là nước ta là thủy điện, tập trung ở những khu vực nhất định. Do đó, sẽ dẫn đến các khu vực này thừa công suất vào mùa mưa và thiếu hụt công suất vào mùa nắng, để đảm bảo cung cấp công suất cho các vùng phụ tải lớn ta cần xây dựng hệ thống truyền tải công suất cao, ổn định và tin cậy. Thiết bị điều khiển FACTS ra đời vào cuối những năm 1980 với chức năng chính là: tăng khả năng truyền tải và giữ dòng công suất trong giới hạn quy định trên đường dây truyền tải [13]. Nên việc nghiên cứu lựa chọn thiết FACTS ứng dụng vào hệ thống điện Việt Nam là rất cần thiết và cũng là mục tiêu đề tài hướng tới.2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI Nghiên cứu và tìm hiểu vai trò của các thiệt bị UPFC trong việc điều khiển hệ thống điện, xây dựng mô hình tính toán của thiết bị sử dụng cho bài toán giải tích mạng điện.

Xây dựng chương trình Matlab và thực hiện tính toán, mô phỏng hệ thống điện trước và sau khi lắp đặt thiết bị để đánh giá tác động của thiết bị đến dòng công suất trên đường dây truyền tải.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu các thiết bị FACTS, đi sâu vào tìm hiểu nguyên lý hoạt động và mô hình toán của thiết bị UPFC. Tính toán hệ thống điện ở chế độ xác lập khi sử dụng UPFC, xem xét ảnh hưởng của UPFC đền việc điều khiển dòng công suất trong hệ thống điện.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI Các kết quả thu được từ đề tài nhầm tìm hiểu sâu về nguyên lý hoạt động và khả năng điều khiển của UPFC trong hệ thống điện. Nghiên cứu sử dụng UPFC nâng cao khả nâng truyền tải công suất trên đường dây, tăng độ tin cậy, ổn định và cân bằng dòng công suất trong hệ thống điện. 3 Chương 2 GIỚI THIỆU THIẾT BỊ FACTS 2.1 TỔNG QUAN Việc sử dụng lợi ích của điện được bắt đầu cuối năm 1890 [18] khi đèn hồ quang được sử dụng làm đèn hải đăng và đèn đường.

Hệ thống điện hoàn chỉnh đầu tiên được Thomas Edison xây dựng tại New York vào năm 1882 [18]. Hệ thống DC này bao gồm máy phát điện DC chạy bằng hơi nước, cấp điện cho 59 tải trong bán kính 1,5km chủ yếu thắp sáng, điện áp 110V. Vài năm sau đó thì các hệ thống tương tự đưa vào vận hành ở hầu hết các thành phồ lớn trên thế giới. Nhưng do hệ thống DC bị giới hạn khoảng cách truyền tải và để giữa cho tổn thất công suất (I2R) và sụt áp trong mức cho phép đối đòi hỏi cấp điện áp phải cao đối với những hệ thống truyền tải dài.

Đến năm 1980 có cuộc cạnh đấu tranh lợi ít khi tiêu chuẩn hóa hệ thống điện công nghiệp theo AC hay DC. Sau gần thế kỉ thì hệ thống AC đã được lựa chọn. FACTS hệ thống truyền tải dòng điện xoay chiều linh hoạt. Khái niệm FACTS được đề xuất bởi Viện Nghiên cứu Năng lượng Mỹ (EPRI) năm 1980 [11], [16] với hai chức năng chính là: tăng khả năng truyền tải của hệ thống và giữ dòng công suất trong mức quy định.

Hiện nay, để nâng cao khả năng truyền tải trên đường dây một số biện pháp thường sử dụng là bù ngang và bù dọc bằng điện kháng hoặc điện dung cố định hoặc điều khiển theo cấp. Công nghệ FACTS ra đời cuối thập niên 80 đã giúp quá trình điều khiển dòng công suất linh hoạt hơn. Các thiết bị thường được sử dụng như: SVC, TSC, TSR, TCR, TCSC, STATCOM và UPFC… Các thiết bị FACTS ngày càng được phổ biến như: Thiết bị FACTS đầu tiên được lắp đặt tại Mỹ là bộ STATCOM công suất  100MVAR của Công ty điện lực Mỹ (TVA) [3], tiếp theo bộ UPFC đầu tiên công suất 160MVA được lắp đặt tại 4 trạm Inez bang Kentucky của Mỹ vào năm 1997 [1]-[2], và UPFC công suất 80MVA được lắp ở trạm Kangjin Hàn Quốc năm 2003 [7], ngoài ra còn có SSSC công suất 100MVA được lắp được lắp ở trạm Marcy trung tâm New York [14]… Qua những dự án trên cho thấy thiết bị FACTS các thiết bị đã được sử dụng điều khiển dòng công suất trên hệ thống điện từ lâu, đồng thời với sự phát triển của ngành điện tử công suất chế tạo thiết bị điện tử công suất lớn 4500V6000V, 4000A6000A [3] đáp ứng cho đường dây công suất lớn.2 LỢI ÍCH KHI SỬ DỤNG THIẾT BỊ FACTS Công nghệ FACTS ra đời đã thực sự thu hút đối với nhừng nhà hoạch định truyền tải, mở ra cơ hội mới trong việc điều khiển dòng công suất và nâng cao khả năng vốn có của đường dây hiện tại, cũng như đường dây cải tạo và đường dây mới. Các thiết bị FACTS có thể điều khiển các thông số có ảnh hưởng đến đường dây truyền tải bao gồm: trở kháng nối tiếp, trở kháng song song, dòng điện, điện áp, góc pha và giảm dao động ở tần số thấp dưới tần số định mức [8],[12],[16].

Thiết bị FACTS làm cho đường dây truyền tải mang công suất gần giới hạn phát nóng của nó. Các thiết bị điều khiển FACTS có thể áp dụng riêng lẻ hay kết hợp với nhau để điều khiển một hay nhiều thông số ảnh hưởng đến hệ thống như đã trình bày ở trên bởi vì chúng áp dụng kỹ thuật cơ bản như nhau.3 PHÂN LOẠI THIẾT BỊ FACTS Cùng với sự phát triển kỹ thuật điện tử công suất lớn ngày càng có nhiều thiết bị FACTS được thiết kế và áp dụng. Các thiết bị FACTS khác nhau có mô hình vật lý và thông số điều khiển khác nhau, và điều khiển công suất khác nhau [11]. Nhìn chung các mô hình trạng thái xác lập của FACTS có thể phân thành 2 loại [11]: Mô hình tách rời và mô hình kết hợp.

Mô hình tách rời những thiết bị FACTS thường được thay thế bằng nút ảo PV hoặc nút PQ, thường làm thay đổi cấu trúc ma trận J. 5 Mô hình kết hợp bao gồm 2 mô hình chính [11]: mô hình nguồn áp/dòng (VSM) và mô hình bơm công suất (PIM). Mô hình VSM được xây dựng như nguồn áp/dòng bơm vào nối tiếp hoặc song song theo nguyên tắc hoạt động của thiết bị; do đó nó có thể đại diện cho thiết bị tương ứng cách trực quan. Tuy nhiên mô hình SVM làm mất đặc tính đối xứng ma trận nạp.

Mô hình PIM được phát triển từ mô hình SVM bởi Han năm 1982 [11]. Với việc chuyển đổi nguồn áp/dòng bơm vào thành công suất bờm vào thanh cái liên quan, PIM giữ được đặc tính đối xứng ma trận nạp với ưu thế này nên mô hình PIM được mở rộng đến tất cả các thiết bị FACTS. Dựa vào đặc tính trạng thái xác lập có thể chia FACTS thành 3 loại như trong Bảng 2. Phân loại thiết bị FACTS Chức Công suất bơm vào Mục tiêu Biến năng Thiết bị Nhóm điều điều trạng thái Biến Bơm công FACTS khiển khiển xác lập kiểm suất không soát kiểm soát Bộ điều SVC Điều khiển chỉnh điện VI QII(inj) IS song áp STATCOM song TCPS  Điều Bộ điều khiển QIL(inj), TCSC xc khiển nối PL PI(inj) dòng công QJ(inj) tiếp suất thực SSSC VC Điều khiển Bộ điều PI(inj), công suất VT,T, khiển kết PL, QL, VI QIL(inj), QJ(inj) UPFC thực, Iq hợp QII(inj) kháng và điện áp 6 Để phát triển phương pháp điều khiển linh hoạt dòng công suất cho các thiết bị FACTS, đầu tiên dựa vào mô hình PIM, mô hình thiết bị FACTS dùng trong việc điều khiển dòng công suất xây dựng dựa trên phân loại của chúng.4 MỘT SỐ THIẾT BỊ FACTS 2.1 Thiết bị bù VAR tĩnh (SVC) 2.1 Giới thiệu Thiết bị SVC lần đầu tiên được dùng bù cho những tải thay đổi nhanh như các nhà máy luyện thép, hồ hồ quang.

Ở đây SVC được dùng cải thiện hệ số công suất và cân bằng dòng điện phía nguồn bắt cứ khi có yêu cầu. Việc ứng dụng bù trên đường dây truyền trải được thực hiện vào cuối những năm 70 [14]. Với mục tiêu chính là: - Tăng công suất truyền tải trên đường dây dài; - Tăng ổn định bằng cách điều chỉnh điện áp tác dụng nhanh; - Giảm dao động tần số thấp do chế độ quay (rotor); - Giảm dao động tần số không đồng bộ do chế độ xoắn; - Điều khiển qua điện áp động. SVC là thiết bị điều khiển điện áp đường dây truyền tải nhanh chóng và đáng tin cậy.

Với thời gian đáp ứng trung bình nhanh hơn rất nhiều so với thiết bị dùng cơ. Ngoài ra, nó cũng có thể được dùng để giảm dao động công suất trong hệ thống. Khi điện áp hệ thống giảm xuống thấp, SVC phát công suất kháng bù vào. Khi điện áp lên cao, SVC lại hút bớt phần công suất kháng này.

Công suất kháng được điều chỉnh thay đổi bằng cách đóng cắt các tụ điện và điện kháng kết nối vào thứ cấp máy biến áp. Mỗi tụ điện được đóng/cắt bằng van Thyristor (TSC). Các điện kháng cũng có thể được đóng/cắt hoặc điều khiển bằng thyristor (TSR). Các thành phần chính của SVC được thể hiện trong Hình 2.2 Cấu tạo Một SVC được tổ hợp từ hai thành phần cơ bản: Thành phần cảm kháng có thể phát hay tiêu thụ công suất phản kháng tuỳ theo chế độ vận hành.

Thành phần điều khiển bao gồm các thiết bị điện tử như thyristor, các cửa đóng mở (GTO). Mô hình SVC có 2 hoại: - Tụ cố định – Bộ kháng điều khiển Thyristor (FC-TCR); - Tụ đóng mở bằng Thyristor – Bộ kháng điều khiển Thyristor (TSC- TCR). Loại thứ hai linh hoạt hơn loại đầu và yêu cầu phạm vi hoạt động bộ kháng nhỏ hơn, phát sinh hồ quang ít. Sơ đồ SVC Các thành phần chính của SVC:  Bộ kháng điều chỉnh bằng thyristor (TCR): Có chức năng điều chỉnh liên tục công suất phản kháng tiêu thụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Luận văn thạc sĩ về ứng dụng UPFC trong điều khiển công suất và thiết bị mạng trong hệ thống điện" của tác giả Nguyễn Thị Thu Anh, dưới sự hướng dẫn của Tiến Sĩ Hồ Văn Hiến, trình bày về việc ứng dụng công nghệ UPFC (Unified Power Flow Controller) để tối ưu hóa việc điều khiển công suất và các thiết bị mạng trong hệ thống điện. Bài viết này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguyên lý hoạt động của UPFC mà còn phân tích những lợi ích mà nó mang lại cho việc cải thiện hiệu suất của hệ thống điện, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của công nghệ này trong ngành điện lực hiện đại.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến thiết bị và mạng trong hệ thống điện, bạn có thể tham khảo thêm những tài liệu sau đây: Tối ưu hóa công suất phản kháng sử dụng thuật toán Pseudogradient Particle Swarm Optimization, nơi trình bày về các phương pháp tối ưu hóa trong hệ thống điện, hoặc Tối ưu phân bố công suất trong nhà máy điện với phương pháp particle swarm optimization, một nghiên cứu liên quan đến việc phân bổ công suất hiệu quả. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Điều khiển bộ nghịch lưu đa bậc bằng PWM trong thiết bị mạng và nhà máy điện, giúp mở rộng kiến thức về các kỹ thuật điều khiển trong hệ thống điện. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các ứng dụng và công nghệ trong ngành điện.