Mở đầu Chương 2. Ổn định hệ thống điện Chương 3. Các bộ phân lớp Chương 4. Giải thuật xử lý dữ liệu trong bài toán phân lớp ổn định HTĐ.
Xây dựng mô hình bộ phân lớp đánh giá ổn định HTĐ. Kết luận 4 Luan van T2020-26TĐ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG ĐIỆN 2.1 Ổn định động hệ thống điện 2.1 Các chế độ làm việc hệ thống Các chế độ làm việc của hệ thống điện được chia làm 2 loại chính: chế độ xác lập và chế độ quá độ [10]. Chế độ xác lập: là chế độ trong đó các thông số của hệ thống không thay đổi hoặc thay đổi trong những khoảng thời gian tương đối ngắn, chỉ biến thiên nhỏ xung quanh các trị số định mức, là chế độ bình thường và lâu dài của hệ thống điện, còn được gọi là chế độ xác lập bình thường. Chế độ sau sự cố hệ thống được phục hồi và làm việc tạm thời cũng thuộc về chế độ xác lập, mà còn được gọi là chế độ xác lập sau sự cố.
Chế độ quá độ: là chế độ trung gian chuyển từ chế độ xác lập này sang chế độ xác lập khác. Chế độ quá độ thường diễn ra sau những sự cố hoặc thao tác đóng cắt các phần tử đang mang công suất mà thường được gọi là các kích động lớn. Chế độ quá độ được gọi là chế độ quá độ bình thường nếu nó tiến đến chế độ xác lập mới. Trong trường hợp này các thông số hệ thống bị biến thiên nhưng sau một thời gian lại trở về trị số gần định mức và tiếp theo ít thay đổi.
Ngược lại, có thể diễn ra chế độ quá độ với thông số hệ thống biến thiên mạnh, sau đó tăng trưởng vô hạn hoặc giảm đến 0. Chế độ quá độ đó được gọi là chế độ quá độ sự cố.2 Ổn định hệ thống điện Ổn định HTĐ đề cập đến khả năng của các máy phát điện dịch chuyển từ một trạng thái vận hành xác lập này đến trạng thái vận hành xác lập khác sau khi bị kích động mà không mất đồng bộ, có hai loại ổn định hệ thống điện : ổn định tĩnh và ổn định động [10], [11]. Ổn định tĩnh là khả năng của hệ thống sau những kích động nhỏ phục hồi được chế độ ban đầu hoặc rất gần với chế độ ban đầu. Ổn định động là khả năng của hệ thống sau những kích động lớn phục hồi được trạng thái vận hành cho phép ban đầu hoặc gần trạng thái vận hành cho phép ban đầu.
5 Luan van T2020-26TĐ Trong [12] ổn định hệ thống điện được phân loại theo IEEE/CIGRE gồm: ổn định góc rotor, ổn định tần số và ổn định điện áp. Phân loại ổn định hệ thống điện được trình bày như Hình 2. Ổn định động là ổn định góc rotor hay không ổn định góc rotor sau dao động lớn hay sự cố nghiêm trọng chẳng hạn như ngắn mạch ba pha. Ổn định hệ thống điện Ổn định góc rotor Ổn định tần số Ổn định điện áp Ổn định góc Ổn định Ổn định điện Ổn định điện rotor sự cố nhỏ quá độ áp sự cố nhỏ áp sự cố lớn Ngắn hạn Ngắn hạn Dài hạn Ngắn hạn Dài hạn Hình 2.1 Phân loại ổn định hệ thống điện theo IEEE/CIGRE 2.2 Các phương pháp phân tích đánh giá ổn định động hệ thống điện Phân tích ổn định động hệ thống điện là xem xét khả năng hệ thống điện chuyển sang làm việc ổn định ở trạng thái xác lập mới sau dao động lớn.
Ổn định quá độ do dao động lớn gây ra như sa thải máy phát, sa thải phụ tải, mở đường dây hoặc do sự cố ngắn mạch, nghiêm trọng nhất là ngắn mạch ba pha. Các dao động lớn gây ra mất cân bằng công suất cơ đầu vào và công suất điện ra của máy phát. Khi đó, làm cho rô-to các máy phát dao động với máy phát khác và gây phá vỡ ổn định hệ thống điện. Có nhiều phương pháp phân tích ổn định hệ thống điện.
Trong phần này trình bày bốn phương pháp áp dụng khảo sát ổn định động hệ thống điện: phương pháp tích phân số, phương pháp diện tích, phương pháp trực tiếp, và phương pháp mô phỏng theo miền thời gian.1 Mô hình toán học hệ thống điện nhiều máy Hành vi động của máy điện phát điện được mô tả theo phương trình vi phân sau [10]–[12]: d 2 i Mi Pmi Pei (2.3): d i Mi Pmi Pei (2.3) dt Trong đó: i là góc của rotor của máy phát thứ i; i: là tốc độ góc của rô-to mày phát thứ i; Pmi: công suất cơ của máy phát thứ i; Pei: công suất điện của máy phát thứ i; Mi: mô-men quán tính của máy phát thứ i.2 Phương pháp tích phân số Trong phần này giới thiệu hai phương pháp tích phân số là phương pháp Euler và Phương pháp Runge-Kutta [10]–[12]. Phương pháp Euler: Cho phương trình vi phân: dx/dt=f(x,t) Ở bước tích phân thứ n+1: xn+1 = xn+(dx/dt)n.4) Phương pháp Runge-Kutta: Phương pháp Runge-Kutta bậc 4 sử dụng biểu thức phức tạp hơn: xn+1 = xn+1/6 (k1+ 2k2+2k3+ k4) (2.t; k2 = f(xn+ k1/2, tn+t/2) t; k3 = f(xn+ k2/2, tn+t/2) t; k4 = f(xn+ k3, tn+t/2) t 7 Luan van T2020-26TĐ Phương pháp tích phân số cho kết quả khá chính xác. Tuy nhiên, trong phương pháp tích phân số cần chú ý vấn đề sai số tích luỹ trong các bước giải. Kết quả nhận được từ phương pháp tích phân số sẽ là trị số các góc lệch (t) ở những thời điểm khác nhau.
Nếu kết quả tính toán đủ dài thì ở mọi thời điểm có (t) <1800 thì quá trình quá độ ổn định, nếu (t) 1800 thì quá trình quá độ không ổn định [8], [13], [14]. Cũng có thể bằng quan sát trực quan dạng đường cong (t) dao động tắt dần hay tăng trưởng vô hạn để kết luận đặc trưng ổn định của hệ thống [10]. Trạng thái ổn định của hệ thống điện đánh giá theo luật như sau: Nếu ij < 1800 thì ‘Ổn định’ (2.6) Nếu ij 180 thì ‘Không ổn định’ 0 2.3 Phương pháp diện tích Phương trình chuyển động rô-to của hệ thống điện đơn giản [10], [11]: d 2 Pm Pe Pa dt 2 TJ TJ (2.7) Pa là công suất tăng tốc.8) dt dt TJ dt δ d d 2 d 2 dδ 2 ( ) ( Pa d ) ( Pa dδ) C (2.9) dt dt dt TJ 0 dt TJ δ0 Với C là hằng số tích phân, C = 0 khi d/dt=0 và = o, trong đó o là góc rô-to trước khi có nhiễu. Do đó điều kiện cần thiết để hệ ổn định là tồn tại một góc sao cho: 2 δ ( Pa dδ) 0 TJ δ0 (2.10) 8 Luan van T2020-26TĐ Hệ thống sẽ ổn định nếu diện tích dưới Pa giảm tới không tại một giá trị nào đó của (hay diện tích tăng tốc bằng diện tích hãm tốc) nghĩa là phần diện dương bằng diện tích âm.
Giới hạn của phương pháp: Đối với HTĐ lớn do có nhiều máy phát tương tác phức tạp trên hệ thống thì tiêu chuẩn diện tích sẽ không còn phù hợp.4 Phương pháp trực tiếp Phương pháp trực tiếp bỏ qua khâu giải hệ phương trình vi phân được trình bày trong tài liệu [12]. Đối với một HTĐ quan hệ giữa vector dòng điện và vector điện áp của máy phát được được mô tả phương trình sau: IG YR EG (2.11) Trong đó: YR là ma trận tổng dẫn nút rút gọn; EG, IG lần lượt là vectơ điện áp và dòng điện của các máy phát. Với một hệ thống có n máy phát, công suất tác dụng cung cấp bởi máy phát thứ i được cho bởi: E Ei i (2.12) Và tổng dẫn: yij Gij j.13) Với hệ thống n máy phát, công suất tác dụng được cung cấp bởi máy phát thứ i được cho bởi: n Pi Re( Ei I i* ) Re Ei yij * .E j Bij sin(i j ) Gij cos(i j ) j 1 j i Vị trí tâm của quán tính góc (Centre of Inertia-COI) COI được xác định theo phường trình: 9 Luan van T2020-26TĐ 1 n COI H i i H T i 1 (2.15) Trong đó: HT là tổng các hằng số quán tính của tất cả các máy phát trong hệ thống, i là góc lệch roto của máy phát thứ i. Chuyển động của COI được xác định bởi: n 2 HT p(COI ) PCOI ( P 'mi Pei ) (2.16) i 1 Trong đó: Pm Ei 2 Gii Pmi n Pei Cij sin(i j ) Dij (i j ) j i 1 j i (2.17) Ci j =E i E j Bij Di j =E i E j G ij Với: Pmi là công suất cơ của máy phát thứ i; 0 là tốc độ đồng bộ tính bằng rad/s; COI là sự thay đổi tốc độ của COI quanh tốc độ đồng bộ.
Sự chuyển động của máy phát thứ i theo COI có thể được biểu diễn như sau: i i COI (rad) (2.19) 0 0 Hàm năng lượng V biểu diễn tổng năng lượng quá độ của hệ thống sau khi xảy ra sự cố được xác định: 1 n n V 2 i 1 J i i2 Pmi i is i 1 n 1 i j (2.20) Cij cos ij cos ij Dij cos ij d i j n s i 1 j i 1 is sj Trong đó: is là góc ở nút thứ i tại điểm cân bằng ổn định và tại thời điểm sự cố; Ji = 2Hi0 là mômen quán tính của máy phát thứ i (đơn vị tương đối). Hàm năng lượng bao gồm 4 thành phần sau: 1 a) 2 J i i2 : biểu diễn sự biến đổi động năng rô-to của tất cả các máy phát trong hệ quy chiếu của COI. 10 Luan van T2020-26TĐ b) Pmi i is : biểu diễn sự biến đổi thế năng rô-to của tất cả các máy phát trong cơ sở COI, c) Cij cos ij cos ijs : biểu diễn sự thay đổi năng lượng từ tích trữ trong tất cả các nhánh của hệ thống. d) Dij cos ij d i j : biểu diễn sự thay đổi của năng lượng tiêu tán trong tất cả các nhánh của hệ thống.
Thành phần trong mục (a) được gọi là động năng (Vke) và là hàm duy nhất theo tốc độ của các máy phát.