MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Điện năng là một loại sản phẩm có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vị trí quan trọng đó thể hiện ở chỗ: điện năng là năng lượng đầu vào của hầu hết các ngành kinh tế quốc dân, điện năng là năng lượng được sử dụng nhiều nhất so với các dạng năng lượng khác trong lĩnh vực sản xuất, là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu trong quá trình sản xuất để thực hiện nhiều phương pháp công nghệ khác nhau trong quá trình chế tạo sản phẩm và các hoạt động dịch vụ khác. Tổn thất điện năng đang là mối quan tâm hàng đầu, nỗi trăn trở của Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC) nói chung, Công ty Điện lực An Giang (PCAG) và Điện lực Châu Thành nói riêng. Đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh điện năng như Điện lực Châu Thành thì việc tiết kiệm điện năng và giảm tổng chi phí sản xuất thông qua việc giảm tỷ lệ tổn thất là một nhiệm vụ quan trọng.
Hiện nay các Điện lực đang áp dụng các giải pháp để giảm tổn thất công suất như là: tăng tiết diện dây dẫn, giảm bán kính cấp điện, điều hòa công suất các trạm biến áp phân phối, sử dụng các máy biến áp hiệu suất cao, kết vòng vận hành tối ưu lưới điện và đặc biệt giải pháp hiệu quả được áp dụng hiện nay là bù công suất phản kháng cho lưới điện nhằm đảm bảo lưới điện vận hành ổn định có hệ số cos từ 0,95 trở lên, từ đó mới không làm ảnh hưởng đến việc cung cấp điện năng và giảm tổn thất công suất trên lưới điện Theo lộ trình giảm tổn thất điện năng trên lưới điện từ năm 2016 đến năm 2020: Tập đoàn Điện lực Việt Nam là dưới 6,5%, đối với Tổng Công ty Điện lực miền Nam là dưới 4,0%, đối với Công ty Điện lực An Giang là dưới 3,30% và riêng đối với Điện lực Châu Thành .thì đến năm 2020 phải giảm tổn thất điện năng xuống dưới 2,73%. Với lý do đó, đề tài “Nghiên cứu phương pháp tính toán tổn thất công suất và đề xuất các phương án giảm tổn thất công suất lưới trung áp huyện Châu Thành” được lựa chọn nhằm hướng đến vấn đề giảm tổn thất điện năng và giải pháp giảm tốn thất điện năng của Điện lực Châu Thành [4], [5]. HVTH: Biện Công Bằng Trang 1/95 Luan van Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm 1.2 Mục đích nghiên cứu Đề tài: “Nghiên cứu phương pháp tính toán tổn thất công suất và đề xuất các phương án giảm tổn thất công suất lưới trung áp huyện Châu Thành” hướng đến việc đề xuất các giải pháp để giảm tổn thất tại Điện lực Châu Thành, góp phần thực hiện đạt mục tiêu giảm TTĐN của Công ty Điện lực An Giang giao đến năm 2020 còn 2,73%.
Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giải pháp bù công suất phản kháng cho lưới điện phân phối qua việc xác định dụng lượng và vị trí bù tối ưu thông qua chương trình PSS/ADEPT.3 Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu các tính toán về tổn thất điện năng trong lưới điện phân phối; - Nghiên cứu giải thuật bài toán TOPO trong phần phềm PSS/ADEPT để xác định điểm dừng (điểm tách lưới) tối ưu sao cho TTĐN của lưới điện đang quản lý vận hành là thấp nhất. - Nghiên cứu giải thuật bài toán CAPO trong phần phềm PSS/ADEPT để xác định vị trí dung lượng bù tối ưu trong lưới phân phối thực tế đang quản lý vận hành.4 Kết quả đạt được của đề tài Với sự trợ giúp của phần mềm PSS/ADEPT, dựa trên kết quả tính toán đã xác định được dung lượng bù và vị trí đặt tụ bù một cách tối ưu trên lưới điện phân phối và xác định điểm dừng tối ưu trên lưới điện, góp phần giảm tổn thất điện năng trên lưới điện.5 Giới hạn của đề tài Chỉ nghiên cứu giải pháp giảm tổn thất điện năng lưới điện phân phối của huyện Châu Thành thông qua ứng dụng PSS/ADEPT .6 Giá trị thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ kỹ thuật của Điện lực Châu Thành và các học viên cao học ngành Kỹ thuật điện khi nghiên cứu bài toán giảm tổn thất điện năng trong lưới điện phân phối. HVTH: Biện Công Bằng Trang 2/95 Luan van Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm lưới điện 2.1 Lưới hệ thống: Lưới hệ thống bao gồm các đường dây tải điện và trạm biến áp khu vực, nối liền các nhà máy điện tạo thành hệ thống điện, có các đặc điểm sau: - Lưới có nhiều mạch vòng kín để khi ngắt điện bảo quản đường dây hoặc sự cố 1 đến 2 đường dây vẫn đảm bảo liên lạc hệ thống.
Vận hành kín để đảm bảo liên lạc thường xuyên và chắc chắn giữa các nhà máy điện với nhau và với phụ tải. - Điện áp lưới hệ thống từ 110kV đến 500kV.2 Lưới truyền tải: Lưới truyền tải làm nhiệm vụ tải điện từ các trạm khu vực đến các trạm trung gian. Đặc điểm của lưới truyền tải: - Sơ đồ kín có dự phòng: 2 lộ song song, có dự phòng ở lưới phân phối. Vận hành hở vì lý do hạn chế dòng ngắn mạch, có thiết bị tự đóng nguồn dự trữ khi sự cố.
- Điện áp lưới truyền tải: 35kV, 110kV.3 Lưới phân phối [1]: Lưới phân phối làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian cho các phụ tải: - Đặc điểm chính của hệ thống lưới phân phối là cung cấp điện trực tiếp đến người sử dụng. Trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay, cung cấp điện năng là một trong những ngành quan tâm hàng đầu của Chính Phủ nói chung và của các tỉnh nói riêng. Vì vậy để đảm bảo chất lượng điện năng thì việc nghiên cứu, thiết kế hệ thống lưới điện phân phối là hết sức quan trọng. - Hệ thống phân phối điện năng được xây dựng và lắp đặt phải đảm bảo nhận điện năng từ một hay nhiều nguồn cung cấp và phân phối đến các hộ tiêu thụ.
- Lưới phân phối trung áp có điện áp 6, 10,15,22, 35KV phân phối điện cho các trạm phân phối trung hạ áp, lưới hạ áp 220/380V cấp điện cho các phụ tải hạ áp. HVTH: Biện Công Bằng Trang 3/95 Luan van Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm - Đảm bảo cung cấp điện tiêu thụ ít gây ra mất điện nhất. Bằng các biện pháp cụ thể như có thể có nhiều nguồn cung cấp, có đường dây dự phòng, có nguồn thay thế như máy phát … - Lưới điện phân phối vận hành dễ dàng linh hoạt và phù hợp với việc phát triển lưới điện trong tương lai.
- Đảm bảo chất lượng điện năng cao nhất về ổn định tần số và ổn định điện áp. Độ biến thiên điện áp cho phép là ± 5% Uđm - Đảm bảo chi phí duy tu, bảo dưỡng là nhỏ nhất.1 Mô hình lưới điện HVTH: Biện Công Bằng Trang 4/95 Luan van Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm 2.2 Khái niệm về tổn thất điện năng [2] Tổn thất theo nghĩa đơn giản là sự hao hụt về trị số của một quá trình. Tổn thất điện được tính bằng hiệu số của điện sản xuất ra và điện tiêu thụ (điện thương phẩm).
Tỷ lệ tổn thất là số % của điện tổn thất so với điện sản xuất. Tổn thất điện năng trên lưới điện là lượng điện năng tiêu hao cho quá trình truyền tải và phân phối điện khi tải điện từ ranh giới giao nhận với các nhà máy phát điện qua các lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối tới các hộ tiêu thụ điện. Tổn thất điện năng còn được gọi là điện năng dùng để truyền tải và phân phối điện. Trong hệ thống điện, tổn thất điện năng phụ thuộc vào mạch điện, lượng điện truyền tải, khả năng phân phối và vai trò của công tác quản lý 2.1 Các nguyên nhân gây ra TTĐN trên lưới phân phối.
Sơ đồ nguyên nhân gây TTĐN: Tổn thất điện năng Tổn thất điện năng Tổn thất điện năng Tổn thất điện năng trong quá trình trong quá trình sản trong quá trình tiêu truyền tài và phân xuất thụ phối Tổn thất kỹ thuật Tổn thất thương mại Hình 2.2: Nguyên nhân gây tổn thất điện năng Theo phạm vi quản lý có TTĐN trên lưới điện truyền tải và TTĐN trên lưới điện phân phối. Tỉ lệ TTĐN trong HTĐ chủ yếu ở lưới điện phân phối. Theo quan điểm kinh doanh điện, TTĐN trên HTĐ được phân thành hai loại là TTĐN kỹ thuật và TTĐN phi kỹ thuật HVTH: Biện Công Bằng Trang 5/95 Luan van Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm 2.1 Tổn thất kỹ thuật: Điện năng được sản xuất ra từ các nhà máy điện, muốn tải đến các hộ tiêu thụ điện phải qua hệ thống lưới điện cao áp, trung áp, xuống hạ áp (hệ thống bao gồm các máy biến áp, đường dây và các thiết bị điện khác).
Trong quá trình truyền tải, dòng điện tiêu hao một lượng nhất định khi qua máy biến áp, qua điện trở dâydẫn và mối nối tiếp xúc làm phát nóng dây, qua các thiết bị điện, thiết bị đo lường, công tơ điện. gây tổn thất điện năng. Chưa kể đường dây dẫn điện mang điện áp cao từ 110 kV trở lên còn có tổn thất vầng quang; dòng điện qua cáp ngầm và tụ điện còn tổn thất do điện môi. Vì thế mà tổn thất điện năng còn được định nghĩa là điện năng dùng để truyền tải và phân phối điện.
Đó chính là tổn thất điện năng kỹ thuật và xảy ra tất yếu trong quá trình truyền tải điện từ nhà máy phát qua hệ thống lưới điện cao hạ áp đến các hộ sử dụng điện. Tổn thất kỹ thuật trong mạng lưới điện đặc biệt quan trọng bởi vì nó dẫn tới tăng vốn đầu tư để sản xuất và truyền tải điện năng cũng như chi phí về nhiên liệu. Tổn thất kỹ thuật được xác định theo các thông số chế độ và các thông số trong phần tử mạng lưới điện. Tổn thất kỹ thuật bao gồm: tổn thất công suất tác dụng và tổn thất công suất phản kháng.
Tổn thất công suất phản kháng do từ thông rò, gây từ trong các máy biến áp và cảm kháng trên đường dây. Tổn thất công suất phản kháng chỉ làm lệch góc và ít ảnh hưởng đến tổn thất điện năng. Tổn thất công suất tác dụng có ảnh hưởng đáng kể đến tổn thất điện năng. Việc tính toán tổn thất điện năng thông thường thực hiện theo phương pháp dòng điện đẳng trị phụ thuộc vào đồ thị phụ tải hoặc theo thời gian sử dụng công suất lớn nhất.