Chương 1 - Chế độ xác lập sự cố là chế độ sự cố duy trì sau thời gian quá độ. Ví dụ chế độ ngắn mạch duy trì,… ■ Chế độ quá độ: là chế độ trung gian chuyển từ chế độ xác lập này sang chế độ xác lập khác. Chế độ quá độ thường diễn ra sau những sự cố hoặc thao tác đóng cắt các phần tử mang công suất mà thường được gọi là kích động lớn. Chế độ quá độ gồm có: - Chế độ quá độ bình thường là bước chuyển từ chế độ xác lập bình thường này sang chế độ xác lập bình thường khác.
Trong trường hợp này các thông số hệ thống bị biến thiên nhưng sau một thời gian lại trở về trị số gần định mức và tiếp theo ít thay đổi. - Chế độ quá độ sự cố: Các thông số hệ thống biến thiên mạnh, sau đó tăng trưởng vô hạn hoặc giảm đến 0.2 Phân loại ổn định hệ thống. Từ khái niện về các chế độ làm việc của hệ thống điện có thể thấy rằng điều kiện tồn tại chế độ xác lập gắn liền với sự tồn tại điểm cân bằng công suất. Bởi chỉ khi đó thông số hệ thống giữ được không đổi.
Tuy nhiên, trạng thái cân bằng chỉ là điều kiện cần của chế độ xác lập. Thực tế, luôn tồn tại các kích động ngẫu nhiên làm lệch thông số khỏi điểm cân bằng tuy rất nhỏ. Chẳng hạn như những thay đổi thường xuyên công suất tải. Chính trong trường hợp này hệ thống phải duy trì được độ lệch nhỏ của các thông số, nghĩa là đảm bảo tồn tại chế độ xác lập.
Khả năng này phụ thuộc vào các tính chất của hệ thống, đó là tính chất ổn định tĩnh. Nhưng nếu các kích động ngẫu nhiên làm độ lệch lớn các thông số hệ thống khỏi điểm cân bằng, để có thể duy trì được trạng thái ổn định thì đòi hỏi hệ thống phải phụ thuộc vào một tính chất khác nữa của hệ thống, đó là tính chất ổn định động. 6 Luan van Chương 1 1. Cân bằng công suất.
Điều kiện cần để chế độ xác lập có thể tồn tại là sự cân bằng công suất tác dụng và công suất phản kháng. Công suất do các nguồn sinh ra phải bằng công suất do các phụ tải tiêu thụ cộng với tổn thất công suất trong các phần tử của HTĐ.2) Giữa công suất tác dụng và công suất phản kháng có mối quan hệ: S 2 P2 Q2 (1.3) Cho nên các điều kiện cân bằng công suất (2.2) không thể xét một cách độc lập mà lúc nào cũng phải xét đến mối quan hệ giữa chúng. Tuy vậy trong thực tế tính toán và vận hành HTĐ một cách gần đúng có thể xem sự biến đổi của công suất tác dụng và công suất phản kháng tuân theo các quy luật riêng biệt ít ảnh hưởng đến nhau. Sự biến đổi công suất tác dụng chỉ có ảnh hưởng đến tần số của hệ thống điện, ảnh hưởng của nó đến điện áp không đáng kể.
Như vậy tần số có thể xem là chỉ tiêu để đánh giá sự cân bằng công suất tác dụng. Sự biến đổi công suất phản kháng ảnh hưởng chủ yếu đến điện áp của HTĐ. Như vậy có thể xem điện áp là chỉ tiêu để đánh giá sự cân bằng công suất phản kháng. Trong khi vận hành HTĐ các điều kiện cân bằng công suất (1.2) được đảm bảo một cách tự nhiên.
Các thông số của chế độ luôn giữ các giá trị sao cho các điều kiện cân bằng công suất được thõa mãn. Để đảm bảo sự làm việc đúng đắn cho phụ tải và HTĐ, quy định các giá trị cân bằng cho công suất tác dụng và công suất phản kháng như sau: Công suất tác dụng là cân bằng khi tần số của hệ thống bằng tần số đồng bộ (50 hoặc 60 Hz) hoặc nằm trong giới hạn cho phép: f cp f f cp max (1.4) Công suất phản kháng là cân bằng khi điện áp tại các nút của HTĐ nằm trong giới hạn cho phép: 7 Luan van Chương 1 U cp U U cp max (1.5) Khi điện áp và tần số lệch khỏi các giá trị cho phép thì xem như sự cân bằng công suất không đảm bảo và cần có biện pháp để bảo đảm chúng. Sự cân bằng công suất tác dụng có tính chất toàn hệ thống. Vì ở tất cả các điểm trên toàn hệ thống luôn có giá trị chung.
Việc đảm bảo tần số do đó dễ thực hiện, chỉ cần điều chỉnh công suất tại một nhà máy nào đó. Trái lại, sự cân bằng công suất phản kháng mang tính chất cục bộ thừa chỗ này thiếu chỗ khác. Việc điều chỉnh công suất phản kháng phức tạp không thể thực hiện chung cho toàn bộ hệ thống được. Trong HTĐ, máy phát điện là phần tử quyết định sự làm việc của toàn hệ thống điện, vì vậy sự cân bằng công suất tác dụng trên trục rotor của các máy phát điện đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại của chế độ xác lập.
Đây là sự cân bằng cơ điện, nghĩa là sự cân bằng giữa công suất cơ học của tuabin PTB và công suất điện PMF do máy phát điện phát ra.6) Sự cân bằng công suất tác dụng có tính chất toàn hệ thống cho nên bất cứ sự mất cân bằng nào xảy ra ở bất cứ đâu cũng đều tức khắc tác động lên máy phát điện và gây ra sự mất cân bằng cơ điện. Đối với công suất phản kháng sự cân bằng ở các nút phụ tải lớn có ý nghĩa quan trọng hơn cả. còn đối với các phụ tải quay cũng có sự cân bằng cơ điện công suất điện Ppt của lưới và công suất cơ Pc của các máy công cụ. Ổn định tĩnh Ổn định tĩnh là khả năng của hệ thống điện trở lại vận hành ở trạng thái ban đầu sau khi hệ thống bị những nhiễu nhỏ tác động.
Nếu cho rằng chế độ xác lập của hệ thống điện tương ứng với vị trí cân bằng thì có thể xét đoán ổn định tĩnh theo một trong những điều kiện sau: 8 Luan van Chương 1 - Khi hệ thống chịu tác động đủ bé thì các thông số của hệ thống cũng biến đổi đủ bé. - Khi độ lệch của các thông số chế độ của hệ so với vị trí cân bằng đủ bé thì những biến đổi tiếp theo của các thông số cũng sẽ đủ bé. Trong hệ thống điện hai điều kiện này tương đương nhau. Khi hệ thống đang ở vị trí cân bằng, nếu đặt vào những lực tác động bé thì hệ sẽ chuyển sang một vị trí cân bằng mới bên cạnh (lực tác động càng bé, vị trí cân bằng mới sẽ càng gần vị trí cũ).
Đặc điểm của điều kiện làm việc của hệ thống điện là sự xuất hiện thường xuyên những tác động nhỏ không chu kỳ, và chính những tác động này làm cho các thông số của hệ biến đổi nhưng rất chậm và không có chu kỳ nên có thể coi như hệ thống ổn định. Đó là định nghĩa ổn định tĩnh của hệ thống điện. Vì vậy, khi xét ổn định của hệ thống điện sẽ dùng hai phương pháp tương đương nhau: khảo sát dao động bé hoặc các độ lệch thông số bé ở trạng thái ban đầu và sau đó với cả hai trường hợp. ■ Nguyên nhân mất ổn định tĩnh.
Khi thay đổi chế độ làm việc của hệ thống, có thể tiến đến giới hạn của điều kiện ổn định tĩnh và được gọi là sự tiến dần đến mất ổn định của hệ thống. Trong nhiều trường hợp, quá trình tiến dần là quá trình tăng công suất tác dụng và công suất phản kháng của các phụ tải hệ thống. Lúc này góc lệch rotor của một số máy phát đối với bộ phận còn lại của hệ thống sẽ tăng lên. Nếu nguồn dự trữ công suất phản kháng trong hệ thống chưa sử dụng hết thì có thể duy trì được mức điện áp bình thường.
Ngược lại, khi không còn dự trữ công suất phản kháng thì trong quá trình tiến dần này, điện áp sẽ giảm xuống làm tăng khả năng mất ổn định tĩnh. Như vậy trị số dự trữ ổn định tĩnh có thể được kiểm tra bằng trị số các góc lệch rotor máy phát điện. Trong thực tế khả năng mất ổn định xảy ra khi phụ tải trong hệ thống tăng lên lúc sự cố xảy ra hoặc do đóng cắt các động cơ đã cắt ra vì ngắn mạch. 9 Luan van Chương 1 Để tránh mất ổn định tĩnh, ở chế độ làm việc bình thường, góc lệch rotor của các máy phát phải được hạn chế trong giới hạn nhất định và điện áp ở các nút chủ yếu trong hệ thống không được giảm thấp hơn mức độ quy định.
Do đó lúc điều chỉnh chế độ làm việc của hệ thống xuất hiện những vấn đề sau: - Quy định góc lệch giới hạn rotor máy phát chính là giới hạn công suất truyền tải. - Quy định điện áp giới hạn theo điều kiện ổn định tĩnh ở các nút chủ yếu. ■ Hậu quả: Khi hệ thống rơi vào trạng thái mất ổn định sẽ kéo theo những sự cố nghiêm trọng có tính chất hệ thống: - Các máy phát làm việc ở trạng thái không đồng bộ, cần phải cắt ra, mất lượng công suất lớn; - Tần số hệ thống bị thay đổi lớn ảnh hưởng tới các hộ tiêu thụ; - Điện áp giảm thấp, có thể gây ra hiện tượng sụp đổ điện áp tại các nút phụ tải. - Hiện tương sụp đổ điện áp có thể khiến cho tan rã hệ thống nếu không có.
- Các hành động can thiệp kịp thời hoặc phải tính toán các kịch bản đối phó trước. ■ Các biện pháp ổn định tĩnh của hệ thống điện: - Dùng tự động điều khiển kích từ - Hạn chế giảm điện áp ở các nút chủ yếu của hệ thống - Hạn chế góc lệch rotor các máy phát điện - Sa thải phụ tải theo tần số - Dự trữ đủ công suất tác dụng và công suất phản kháng 1. Ổn định động. Các kích động lớn xảy ra ích hơn so với các kích động nhỏ nhưng có biên độ khá lớn.
Các kích động này xảy ra do các biến đổi đột ngột sơ đồ nối điện, biến đổi của phụ tải điện và các sự cố ngắn mạch. Các kích động lớn tác động làm cho cân 10 Luan van Chương 1 bằng công suất cơ điện bị phá vỡ đột ngột. Chế độ xác lập tương ứng bị dao động rất mạnh. Khả năng của HTĐ chịu được các kích động này mà chế độ xác lập không bị phá hoại gọi là khả năng ổn định động của HTĐ.