Đặt vấn đề Hệ thống điện xoay chiều (HTĐXC) là một hệ thống điện phức tạp gồm các máy phát đồng bộ, đường dây truyền tải và các phụ tải. Hệ thống này được chia thành 3 phần: sản xuất, truyền tải và phân phối. Hoạt động cơ bản của HTĐXC phải thỏa mãn các yêu cầu: máy phát đồng bộ hoạt động ở chế độ đồng bộ, điện áp vận hành ở giá trị cho phép, các phụ tải được cung cấp điện đầy đủ và các đường dây được vận hành trong điều kiện bình thường không quá tải. Công suất truyền tải trên các đường dây phụ thuộc vào điện kháng đường dây, điện áp và góc truyền tải giữa điểm đầu và điểm cuối đường dây, hay nói cách khác có sự giới hạn công suất trên đường dây truyền tải.
Khả năng truyền tải công suất của đường dây được cải thiện đáng kể bằng việc tăng công suất phản kháng. Điện áp dọc đường dây có thể được điều khiển bằng việc lắp cuộn kháng bù (ngang) song song, tụ điện bù (dọc) nối tiếp vào đường dây. Góc truyền tải của đường dây có thể điều khiển bằng việc thay đổi góc pha. Do nhu cầu phụ tải ngày càng tăng, thường đặt đường dây truyền tải cao áp vào những giới hạn vật lý của chúng (như: quá nhiệt, ngắn mạch đường dây, máy phát và đường dây bị cắt ra khỏi hệ thống,…) và những nhiễu động trên hệ thống có thể làm mất ổn định điện áp… Sự phục hồi trạng thái làm việc sau những nhiễu động này hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng dự trữ của hệ thống, nếu hệ thống có độ dự trữ yếu thì dễ dẫn đến mất ổn định hệ thống, gây ra tan giã hệ thống.
Nhu cầu về quản lý các hệ thống điện hiệu quả hơn đã thúc đảy sự đổi mới công nghệ trong sản xuất và truyền tải điện năng. Nhà máy điện kết hợp với các thiết bị bù công suất phản kháng là một trong -1- Luan van các công nghệ phát triển mới trong lĩnh vực sản xuất điện. Các thiết bị bù công suất phản kháng này là thiết bị truyền tải điện xoay chiều linh hoạt FACTS (Flexible Alternating Current Transmission Systems). FACTS là những thiết bị mới nhằm cải thiện điện áp khu vực và hệ thống lưới điện truyền tải.
FACTS là thiết bị điều khiển điện áp, trở kháng và góc pha của đường dây xoay chiều cao áp. FACST cung cấp những lợi ích cho việc nâng cao quản lý hệ thống truyền tải thông qua việc sử dụng tốt hơn các lưới điện truyền tải hiện có; tăng độ tin cậy và khả năng sẵn sàng đáp ứng nhanh hệ thống truyền tải; tăng độ ổn định động và ổn định quá độ của lưới; tăng chất lượng cung cấp cho các ngành công nghiệp có yêu cầu chất lượng điện năng cao và các lợi ích về môi trường. Qua phân tích từ những nguyên nhân trên, hệ thống điện rất rễ mất ổn định. Để tăng cường độ ổn định điện áp, ổn định quá độ cho hệ thống đòi hỏi hệ thống lưới điện phải hoạt động linh hoạt hơn, đáp ứng nhanh ngay cả trong những trường hợp bất ngờ và sự cố nghiêm trọng nhất.
Theo phương thức truyền thống thì tình trạng này được giải quyết theo hai cách. - Xây dựng thêm các nhà máy hay đường dây nhằm tăng thêm khả năng dự trữ của đương dây. - Nâng cấp phương tiện, thiết bị truyền tải trên đường dây nhằm tận dụng hết khả năng truyền tải của những đường dây hiện có. Ở cách thứ 1: việc xây dựng mới các nhà máy hay đường dây sẽ gặp khó khăn nhiều hơn vì các lý do về tài chính, sự hạn chế về môi trường, luật pháp và các yếu tố xã hội.
Ở cách thứ 2: sẽ dễ ràng thực hiện hơn bởi cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ cho ra đời các linh kiện bán dẫn hay các linh kiện điện tử công suất lớn, cung cấp các phương tiện điều khiển nhanh hơn, mềm hơn các thông số của hệ thống -2- Luan van điện, từ đó có thể điều khiển trực tiếp đến các dòng công suất truyền tải trên hệ thống một cách nhanh chóng và đồng thời [1]. Bộ bù công suất phản kháng là một phần thiết yếu trong một hệ thống điện để giảm thiểu tổn thất truyền tải điện năng, tối đa hóa khả năng truyền tải điện năng, duy trì điện áp ở phạm vi chấp nhận được. Nếu điện áp dọc theo các đường dây truyền tải giảm có thể gây ra nhiều tác hại cho người tiêu dùng. Nếu quá điện áp duy trì hoặc áp thấp có thể gây ra hư hỏng hoặc thiết bị sử dụng không hiệu quả [13].
Mặt khác, sự quá áp hoặc thấp áp so với điện áp vận hành cho phép, dẫn đến hệ số công suất không đạt yêu cầu, mạch không cân bằng. Vì vậy, để tránh những vấn đề này, việc kiểm soát điện áp là rất quan trọng để đảm bảo rằng điện áp đầu nhận nằm trong phạm vi chấp nhận được [1]. Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện: “Nghiên cứu bộ điều khiển bù công suất phản kháng STATCOM ổn định hệ thống điện” trong hệ thống thiết bị FACTS là cần thiết, có tính thực tiễn cao, làm cơ sở tham khảo cho việc hoạch định, xây dựng các bộ điều khiển bù công suất phản kháng kết hợp. Mục tiêu và yêu cầu 1.
Mục tiêu - Nghiên cứu tổng quan về quá trình thu và phát công suất phản khán của STATCOM nâng cao ổn định điện áp trên lưới điện truyền tải. - Xây dựng mô hình lưới điện truyền tải Bạc Liêu có sự tham gia nhà máy điện gió Bạc Liêu và thiết bị bù công suất phản kháng STATCOM bằng phần mềm PowerWorld. Phân tích, tính toán các chế độ vận hành khi không sử dụng và khi sử dụng thiết bị bù STATCOM để nâng cao độ ổn định điện áp lưới điện khu vực Bạc Liêu có kết hợp với nhà máy điện giớ Bạc Liêu. Yêu cầu - Giới thiệu các thiết bị FACTS nâng cao ổn định điện áp.
- Xây dựng mô hình STATCOM nối vào lưới điện khu vực Bạc Liêu có kết hợp với nhà máy điện gió Bạc Liêu trên phần mềm PowerWorld tăng đô dự trữ công suất. - Phân tích, xây dựng và so sánh lưu đồ mô phỏng khi có và không STATCOM. - Dùng phần mềm PowerWorld để mô phỏng, tính toán và phân tích đường cong Q-V, ổn định quá độ ở chế độ vận hành bình thường, chế độ sự cố khi có và không có sử dụng thiết bị bù công suất phản kháng STATCOM. - Đưa ra lưu đồ phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động sử dụng STATCOM khi nối vào lưới điện khu vực Bạc Liêu có kết hợp với nhà máy điện gió Bạc Liệu.
-4- Luan van Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Sơ lược tình hình nghiên cứu liên quan đến FACTS Các công trình nghiên cứu ứng dụng thiết bị FACTS, đặc biệt sử dụng thiết bị phát nguồn công suất phản kháng cho hệ thống lưới điện nhằm gia tăng độ ổn định điện áp, ổn định quá độ để đưa hệ thống vận hành trở lại bình thường. Thiết bị FACTS lắp đặt đầu tiên đi vào hoạt động hơn 20 năm. Đến tháng 1 năm 2000, tổng dung lượng các thiết bị FACTS được lắp đặt trên toàn thế giới là hơn 40.000 (MWAr) với hàng trăm công trình.
Mặc dù các thiết bị FACTS chủ yếu được sử dụng trong ngành điện, song chúng cũng được sử dụng trong các ngành sản xuất phần cứng máy tính và thép (SVC để giảm những hiện tượng nhấp nháy) cũng như cho điều khiển điện áp trong các hệ thống truyền tải ở ngành đường sắc và các trung tâm nghiên cứu [1]. Ngày nay với sự phát triển của các thiết bị điện tử công suất lớn, điện áp cao, công nghệ FACTS đã giúp cho quá trình điều khiển dòng công suất trên các đường dây truyền tải một cánh linh hoạt và nhanh chóng. Mỹ, Canada, Brazil… là những nước tiên phong sử dụng công nghệ FACTS trong lưới điện truyền tải. Ở Việt Nam, việc sử dụng thiết bị FACTS đã được lắp vận hành trên đường dây 220kV.
Tuy nhiên công suất còn hạn chế. Sự phát triển trong tương lai bao gồm việc phối hợp các thiết bị đã có sẵn hiện nay, ví dụ như phối hợp một STATCOM với một TSC (tụ chuyển mạch bằng Thyristor) để mở rộng dãy hoạt động. Ngoài ra, các hệ thống điều khiển tinh vi hơn sẽ cải thiện đáng kể tầm hoạt động của các thiết bị FACTS. Những phát triển trong công nghệ bán dẫn (khả năng mang dòng cao hơn, các điện áp cản cao hơn) có thể làm giảm chi phí của các thiết bị FACTS và mở rộng dãy -5- Luan van hoạt động của chúng.
Phát triển công nghệ bán dẫn sẽ mở cửa để phát triển cho các thiết bị mới như: bộ hạn chế dòng siêu dẫn và lưu điện từ siêu dẫn. Nguyên lý vận hành điều khiển hệ thống điện Mô hình đơn giản của hệ thống truyền tải điện. Hai lưới điện được kết nối bằng một đường dây truyền tải được thể hiện như hình 2. Giã sử rằng có tổn thất và được thể hiện bằng điện kháng XL.
Điện áp của hai bus V1 và V2. Góc lệch pha giữa hai bus là: δ = δ1 – δ2 Giản đồ tương ứng được trình bày trong hình 2.1b Bus 1 Bus 2 fx1 (a) V1< δ1 V1 I V1< δ2 (b) P VV P1 P2 1 2 sin Pmax x2 δ π/2 π (c) Hình 2.1: Hệ thống truyền tải điện: (a) mô hình đơn giản; (b) giản đồ pha (c) đường công suất – góc [4]. -6- Luan van Biên độ của dòng điện chạy trong đường dây truyền tải (công thức 2.1): VL V 1 V2 2 I 1 XL XL Thành phần tác dụng và thành phần của dòng điện chạy trong bus 1 (công thức 2.1): V1 sin V1 V2 cos I d1 I q1 XL XL Công suất tác dụng và công suất phản kháng tại bus 1 (công thức 2.3): 1 2 sin VV V1 V1 V2 cos P1 Q1 XL XL Tương tự, thành phần tác dụng và thành phần của dòng điện chạy trong bus 2 (công thức 2.4): V2 sin V2 V1 cos Id 2 Iq2 XL XL Công suất tác dụng và công suất phản kháng tại bus 2 (công thức 2.5): 1 2 sin VV V2 V2 V1 cos P2 Q1 XL XL Từ các phường trình phân tích trên ta thấy rằng công suất tác dụng và công suất phản kháng, dòng điện có thể được điều chỉnh bằng cách điều khiển điện áp, góc pha và tổng trở của hệ thống truyền tải [12].