Luận văn thạc sĩ: Giải pháp tiết kiệm năng lượng nhà máy thủy sản

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu toàn diện các giải pháp tiết kiệm năng lượng, tối ưu chi phí vận hành và nâng cao hiệu quả cho nhà máy chế biến thủy sản.

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Kỹ thuật điện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận văn tiết kiệm năng lượng nhà máy chế biến thủy sản

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho nhà máy chế biến thủy sản tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu lãng phí điện năng trong các giai đoạn chế biến, bảo quản và xử lý nước thải. Chủ đề này đặc biệt quan trọng do ngành chế biến thủy sản tiêu thụ lượng điện năng lớn từ hệ thống lạnh, thiết bị chế biến và hệ thống cấp thoát nước. Theo thống kê, ngành thủy sản chiếm khoảng 15% tổng sản lượng điện công nghiệp tại Việt Nam, với mức tiêu thụ trung bình 0,8-1,2 kWh/kg sản phẩm. Việc áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

1.1. Vai trò của tiết kiệm năng lượng trong ngành chế biến thủy sản

Tiết kiệm năng lượng trong ngành chế biến thủy sản đóng vai trò then chốt trong việc giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, chi phí năng lượng chiếm 12-18% tổng chi phí sản xuất trong ngành thủy sản. Việc tối ưu hóa sử dụng năng lượng giúp doanh nghiệp giảm thiểu tổn thất do hao hụt nhiệt, điện và lạnh, đặc biệt trong các công đoạn như đông lạnh, sấy khô và chế biến. Ngoài lợi ích kinh tế, tiết kiệm năng lượng còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, phù hợp với cam kết của Việt Nam trong Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Các giải pháp như sử dụng thiết bị hiệu suất cao, tái sử dụng nhiệt thải và tối ưu hóa vận hành hệ thống có thể giảm 20-30% mức tiêu thụ năng lượng.

1.2. Thực trạng tiêu thụ năng lượng tại nhà máy chế biến thủy sản

Hiện nay, hầu hết các nhà máy chế biến thủy sản tại Việt Nam vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, dẫn đến tình trạng tiêu thụ năng lượng không hiệu quả. Theo khảo sát tại 15 nhà máy chế biến thủy sản khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, mức tiêu thụ điện năng trung bình đạt 1,1 kWh/kg sản phẩm, cao hơn 30% so với tiêu chuẩn quốc tế. Nguyên nhân chính bao gồm sử dụng thiết bị có hiệu suất thấp, hệ thống quản lý năng lượng kém, và thiếu các biện pháp giám sát tiêu thụ năng lượng theo thời gian thực. Đặc biệt, các hệ thống lạnh trong kho đông thường hoạt động ở nhiệt độ không cần thiết thấp, gây lãng phí điện năng đáng kể. Ngoài ra, hệ thống xử lý nước thải tiêu tốn 6-8% tổng điện năng do vận hành liên tục các máy sục khí.

II. Phân tích các vấn đề lãng phí năng lượng trong quy trình chế biến thủy sản

Nghiên cứu thực tế tại các nhà máy chế biến thủy sản cho thấy ba nhóm vấn đề chính gây lãng phí năng lượng: hệ thống lạnh, thiết bị chế biến và hệ thống cấp thoát nước. Hệ thống lạnh chiếm 60-70% tổng tiêu thụ điện năng do yêu cầu duy trì nhiệt độ thấp liên tục. Các kho đông lạnh thường hoạt động ở nhiệt độ -22°C đến -18°C, trong khi nhiệt độ tối ưu chỉ cần -15°C để bảo quản sản phẩm. Thiết bị chế biến như máy sấy, nồi hơi và máy cắt cũng tiêu tốn lượng lớn điện năng do sử dụng công nghệ cũ. Hệ thống cấp thoát nước, đặc biệt là bơm sục khí trong xử lý nước thải, hoạt động liên tục gây lãng phí. Ngoài ra, tình trạng rò rỉ nhiệt qua cửa kho, đường ống và thiết bị cũng góp phần tăng mức tiêu thụ năng lượng.

2.1. Hệ thống lạnh tiêu thụ năng lượng không hiệu quả

Hệ thống lạnh trong nhà máy chế biến thủy sản bao gồm kho đông lạnh, máy sản xuất đá vảy và dàn lạnh. Theo khảo sát, 85% kho đông lạnh vận hành ở nhiệt độ thấp hơn mức cần thiết, gây lãng phí 15-20% điện năng. Máy nén lạnh thường hoạt động ở công suất tối đa ngay cả khi nhu cầu bảo quản thấp, dẫn đến tiêu thụ năng lượng không cần thiết. Dàn ngưng và quạt dàn lạnh cũng hoạt động kém hiệu quả do bám bẩn hoặc thiết kế không tối ưu. Việc sử dụng biến tần cho máy nén lạnh có thể giảm 25-30% mức tiêu thụ điện bằng cách điều chỉnh công suất theo nhu cầu thực tế.

2.2. Thiết bị chế biến và hệ thống cấp thoát nước kém hiệu suất

Các thiết bị chế biến như máy sấy, nồi hơi và máy cắt thường sử dụng công nghệ cũ, hiệu suất chuyển đổi năng lượng thấp. Máy sấy tĩnh tiêu thụ 0,5-0,7 kWh/kg sản phẩm, cao gấp đôi so với máy sấy quay hiện đại. Hệ thống cấp nước sử dụng bơm có hiệu suất thấp, tiêu tốn 0,05-0,1 kWh/m³ nước. Đặc biệt, hệ thống xử lý nước thải tiêu tốn 6-8% tổng điện năng do máy sục khí hoạt động liên tục ở công suất cố định. Việc lắp đặt biến tần cho bơm cấp nước và tối ưu hóa vận hành máy sục khí có thể giảm 15-20% mức tiêu thụ năng lượng trong hệ thống này.

III. Giải pháp tối ưu hóa tiết kiệm năng lượng cho nhà máy chế biến thủy sản

Để giải quyết các vấn đề lãng phí năng lượng, luận văn đề xuất áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001 kết hợp với công nghệ tiên tiến. Giải pháp chính bao gồm: nâng cấp hệ thống lạnh bằng cách lắp đặt biến tần cho máy nén, sử dụng dàn ngưng hiệu suất cao và tối ưu hóa nhiệt độ bảo quản; thay thế thiết bị chế biến cũ bằng công nghệ tiết kiệm năng lượng như máy sấy quay, nồi hơi hiệu suất cao; tối ưu hóa hệ thống cấp thoát nước bằng cách lắp đặt biến tần cho bơm và hệ thống giám sát tiêu thụ năng lượng theo thời gian thực. Ngoài ra, việc đào tạo nhân viên vận hành và áp dụng chính sách khuyến khích tiết kiệm năng lượng cũng đóng vai trò quan trọng.

3.1. Nâng cấp hệ thống lạnh và thiết bị chế biến

Nâng cấp hệ thống lạnh bao gồm lắp đặt biến tần cho máy nén lạnh, sử dụng dàn ngưng hiệu suất cao và tối ưu hóa nhiệt độ bảo quản. Biến tần giúp điều chỉnh công suất máy nén theo nhu cầu thực tế, giảm 25-30% mức tiêu thụ điện. Sử dụng dàn ngưng hiệu suất cao có thể tăng hệ số truyền nhiệt lên 20%, giảm thời gian làm lạnh và tiêu thụ năng lượng. Đối với thiết bị chế biến, thay thế máy sấy tĩnh bằng máy sấy quay có thể giảm 40% mức tiêu thụ điện. Nồi hơi hiệu suất cao với công nghệ đốt tầng sôi giúp tăng hiệu suất lên 90%, giảm 15% lượng nhiên liệu tiêu thụ.

3.2. Tối ưu hóa hệ thống cấp thoát nước và quản lý năng lượng

Hệ thống cấp thoát nước được tối ưu bằng cách lắp đặt biến tần cho bơm cấp nước, giúp điều chỉnh lưu lượng theo nhu cầu thực tế, giảm 15-20% mức tiêu thụ điện. Hệ thống giám sát tiêu thụ năng lượng theo thời gian thực giúp phát hiện kịp thời các điểm lãng phí. Đối với hệ thống xử lý nước thải, việc lắp đặt biến tần cho máy sục khí và tối ưu hóa vận hành có thể giảm 20% điện năng tiêu thụ. Ngoài ra, đào tạo nhân viên vận hành về các biện pháp tiết kiệm năng lượng và áp dụng chính sách khuyến khích cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng giải pháp tiết kiệm năng lượng

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong nhà máy chế biến thủy sản mang lại lợi ích kép về kinh tế và môi trường. Theo tính toán, các giải pháp đề xuất có thể giảm 25-30% mức tiêu thụ điện năng, tương đương tiết kiệm 1,5-2 tỷ đồng/năm cho một nhà máy quy mô trung bình. Ngoài ra, việc giảm phát thải CO₂ lên đến 500 tấn/năm góp phần bảo vệ môi trường. Để triển khai thành công, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001, đầu tư nâng cấp thiết bị và đào tạo nhân viên. Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho doanh nghiệp áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng, đồng thời tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng.

4.1. Hiệu quả kinh tế và môi trường từ giải pháp đề xuất

Theo đánh giá kinh tế, các giải pháp tiết kiệm năng lượng đề xuất có thời gian hoàn vốn từ 2-3 năm nhờ tiết kiệm chi phí điện năng. Đối với một nhà máy chế biến thủy sản công suất 10.000 tấn/năm, mức tiết kiệm ước tính đạt 1,8 tỷ đồng/năm. Về môi trường, việc giảm tiêu thụ điện năng tương đương giảm phát thải 450-500 tấn CO₂/năm. Ngoài ra, nâng cấp thiết bị còn cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm chi phí bảo trì. Các giải pháp này phù hợp với xu hướng phát triển bền vững của ngành thủy sản, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

4.2. Khuyến nghị triển khai và chính sách hỗ trợ

Để triển khai thành công, doanh nghiệp nên xây dựng kế hoạch hành động cụ thể với mục tiêu giảm 20% mức tiêu thụ năng lượng trong vòng 3 năm. Chính phủ cần có chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư nâng cấp thiết bị tiết kiệm năng lượng. Ngoài ra, việc đào tạo chuyên gia năng lượng và thiết lập hệ thống giám sát tiêu thụ năng lượng theo thời gian thực cũng rất quan trọng. Doanh nghiệp nên hợp tác với các viện nghiên cứu để thử nghiệm và tối ưu hóa các giải pháp trước khi triển khai đại trà. Việc áp dụng các giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn đóng góp vào mục tiêu quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho nhà máy chế biến thủy sản

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG 1. Thực trạng tiêu thụ năng lượng trên thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng tiêu thụ năng lượng trên thế giới Tiêu thụ năng lượng thế giới tăng mạnh trong năm 2018 (2,9%), cao gần gấp đôi so với mức trung bình mười năm từ năm 2007 đến 2017 (1,5%) và là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2010 đến nay. Tiêu thụ khí thiên nhiên chiếm hơn 40% mức tăng.

Việc tiêu thụ các loại năng lượng khác trừ năng lượng tái tạo, đều có mức tăng cao hơn trung bình mười năm. Mức tăng tiêu thụ năng lượng tại Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ chiếm hơn 2/3 tổng mức tăng, trong đó tiêu thụ năng lượng tại Mỹ tăng với tốc độ cao nhất trong 30 năm qua (3,5%)[2]. Tổng trữ lượng đã xác minh vào cuối năm 2018 của dầu tăng thêm 2 tỷ thùng và đạt mức 1. Trữ lượng đã xác minh của dầu chủ yếu nằm ở Trung Đông (48,3%), sau đó là ở Trung và Nam Mỹ (18,8%) rồi đến Bắc Mỹ, châu Âu và khu vực Âu - Á, châu Phi và cuối cùng là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Trữ lượng đã xác minh của khí tăng 0,7 nghìn tỷ m3 lên đến 196,9 nghìn tỷ m3. Tương tự như dầu, khu vực Trung Đông có trữ lượng đã xác minh của khí lớn nhất (38,4% thế giới). Trữ lượng đã xác minh của than phần lớn nằm ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương (42,2%), trong đó Trung Quốc chiếm 13% trữ lượng của thế giới. Mỹ là nước có trữ lượng than đã xác minh lớn nhất (24%)[2].

Tổng trữ lượng đã xác minh của dầu vào cuối năm 2018 đủ để khai thác trong 50 năm với sản lượng như năm 2018. Tương tự như dầu, trữ lượng khí đã xác minh cũng đủ để khai khác hơn 50 năm nữa. Trữ lượng than đã xác minh trên toàn thế giới đủ để khai thác trong 132 năm. 4 HVTH: NGUYỄN VĂN HOÀNG GVHD: PGS.TS Võ Viết Cường An ninh năng lượng trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khối APEC, mặc dù đối với mỗi nước quan niệm về an ninh năng lượng có sự khác nhau.

Vào năm 2001, các nhà lãnh đạo của APEC đã thiết lập Chương trình sáng kiến an ninh năng lượng (ESI) để củng cố an ninh năng lượng khu vực và nhấn mạnh vào chính sách và hành động thực tế. Đối với an ninh năng lượng thế giới có thể kể đến các thách thức sau: Đầu tiên là sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng truyền thống. Một mỏ năng lượng truyền thống phải trải qua từ hàng chục đến hàng trăm triệu năm kiến tạo địa chất mới được hình thành, vì vậy nguy cơ cạn kiệt các nguồn năng lượng truyền thống này là không tránh khỏi, nhất là khi tốc độ khai thác của các quốc gia đang ngày một tăng lên. Hai nguyên nhân chính dẫn đến sự cạn kiệt nhanh chóng của nguồn năng lượng truyền thống là khả năng tìm kiếm thăm dò các nguồn năng lượng mới còn hạn chế do trình độ công nghệ còn thấp; hoạt động khai thác năng lượng không được quy hoạch, quản lý tốt về quy mô và tổ chức dẫn đến hiệu quả khai thác thấp, không triệt để, nhiều hoạt động khai thác ở quy mô nhỏ, nhất là khai thác than, trình độ công nghệ khai thác thấp.

Thứ hai, gia tăng mức tiêu thụ năng lượng của các quốc gia. Nhu cầu tiêu thụ năng lượng lớn và tốc độ gia tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng nhanh của khu vực đe dọa nghiêm trọng đến tình hình an ninh năng lượng ở khu vực do cung không đáp ứng đủ cầu, đồng thời dẫn đến những vấn đề về môi trường. Tốc độ tăng tiêu thụ dầu, khí và than của khu vực châu Á - Thái Bình Dương là cao nhất và dự báo sẽ tiếp tục gia tăng, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ. Thứ ba, nguy cơ gián đoạn nguồn cung ngày càng tăng do tình hình bất ổn chính trị ở các quốc gia Trung Đông - nơi có nguồn cung cấp dầu mỏ và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) lớn.

Do đó, các bất ổn ở các quốc gia Trung Đông sẽ là thách thức lớn đối với việc bảo đảm nguồn cung năng lượng cho khu vực. 5 HVTH: NGUYỄN VĂN HOÀNG GVHD: PGS.TS Võ Viết Cường Thứ tư, an toàn vận chuyển trên biển. Phần lớn việc nhập khẩu dầu mỏ và khí LNG từ Trung Đông, châu Phi, Mỹ và trong nội bộ khu vực đến thông qua đường biển. Do đó, an toàn vận chuyển trên biển đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng của khu vực.

Hiện nay có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn vận chuyển trên biển, bao gồm: bão tố thường xuyên do biến đổi khí hậu; hoạt động cướp biển gia tăng; bất ổn chính trị tại các quốc gia dọc đường biển, như các nước Trung Đông, châu Phi, Indonesia; tranh chấp lãnh thổ trên biển ngày càng quyết liệt cả trong và ngoài khu vực.2 Thực trạng tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam Theo dự thảo báo cáo “Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, định hướng đến năm 2035”, tổng tiêu thụ năng lượng quốc gia đạt 54,1 triệu TOE (tấn quy dầu) vào năm 2015, trong đó ngành công nghiệp chiếm 47%, giao thông vận tải chiếm 30%, dân dụng 15%, phi năng lượng 3%, thương mại dịch vụ 3% và nông nghiệp 2%. Năng lượng từ sản phẩm dầu mỏ chiếm tỷ trọng lớn nhất (41%), thủy điện (30%), than (27%) và khí (2%)[2]. Trong khi đó, theo phương án cơ sở tăng trưởng kinh tế, kịch bản tăng trưởng cho thấy tổng nhu cầu về tiêu thụ năng lượng cuối cùng sẽ tăng ở mức 5,66%/năm trong giai đoạn 2015 - 2035 và đạt 137,8 triệu TOE vào năm 2035 (gấp 2,5 lần so với năm 2015). Tốc độ tăng theo từng giai đoạn lần lượt là 5,65%/năm giai đoạn 2015 - 2020; 5,03%/năm giai đoạn 2020 - 2025; 4,78%/năm giai đoạn 2025 - 2030 và 3,69%/năm giai đoạn 2030 - 2035.

Ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 45%, giao thông vận tải chiếm 28%, dân dụng: 19%, phi năng lượng: 3%, thương mại dịch vụ: 4% và nông, lâm, thủy sản: 1%. Trong đó, điện năng trở thành nguồn năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất (42%)[2]. 6 HVTH: NGUYỄN VĂN HOÀNG GVHD: PGS.TS Võ Viết Cường Tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với gia tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là điện năng. Tỷ lệ giữa nhu cầu tiêu thụ năng lượng so với tăng trưởng GDP của Việt Nam hơn hai lần, trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này là dưới một.

Trước thực tiễn về tình hình an ninh năng lượng đang diễn ra trên thế giới, Việt Nam cần tập trung làm tốt những yêu cầu sau: Một là, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng. Tiết kiệm năng lượng là giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng luôn được ưu tiên vì đầu tư cho giải pháp này thấp hơn nhiều so với các giải pháp khác. Theo Cơ quan năng lượng Đan Mạch, Việt Nam có thể tiết kiệm đến 17% lượng điện tiêu thụ vào năm 2030. Hai là, lập kho dự trữ năng lượng.

Đây là giải pháp để đối phó với tình trạng khẩn cấp khi có gián đoạn về nguồn cung bên ngoài cho khu vực hoặc bất ổn trong nội bộ khu vực. Hiện nay trong khu vực, có Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là những nước đã thiết lập hệ thống dự trữ dầu mỏ và sản phẩm. Các nước khác, như Singapore, Thái Lan cũng đang bắt đầu xúc tiến các Chương trình xây dựng các kho dự trữ dầu thô và sản phẩm. Việt Nam cũng đã có dự trữ sản phẩm dầu mỏ và ban hành quy hoạch dự trữ dầu mỏ và sản phẩm.

Ba là, đẩy mạnh tìm kiếm thăm dò các nguồn tài nguyên năng lượng. Đây là giải pháp thường xuyên nhằm tăng cường khả năng khai thác sản xuất các nguồn năng lượng sơ cấp, giảm bớt sự phụ thuộc bên ngoài. Bốn là, tăng cường sử dụng nguồn năng lượng thay thế, tái tạo, như thủy điện, năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, sinh khối, địa nhiệt giúp giảm tiêu thụ năng lượng truyền thống và giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Năm là, xây dựng cơ chế hợp tác an ninh năng lượng toàn khu vực.

Cơ chế hợp tác an ninh năng lượng toàn khu vực giúp các quốc gia trong khu vực trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong việc phòng ngừa và ứng phó với các nguy cơ làm giảm 7 HVTH: NGUYỄN VĂN HOÀNG GVHD: PGS.TS Võ Viết Cường an ninh năng lượng khu vực. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế an ninh năng lượng sẽ góp phần: 1- Bảo đảm an ninh năng lượng cho các quốc gia trong khu vực. Nếu quốc gia nào gặp nguy cơ về an ninh năng lượng thì các quốc gia khác có trách nhiệm hỗ trợ bằng các giải pháp tài chính hay kỹ thuật; 2- Thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia về năng lượng. Tiêu biểu là việc thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia giàu năng lượng nhưng thiếu tiền và công nghệ (một số nước ASEAN) để khai thác với các quốc gia thiếu năng lượng nhưng có khả năng đáp ứng về tiền và công nghệ hiện đại (Hàn Quốc, Nhật Bản, Xin-ga-po).

Sự hợp tác này sẽ giúp cả hai bên cùng bảo đảm được an ninh năng lượng của quốc gia, giảm thiểu sự phụ thuộc vào bên ngoài; 3- Tạo điều kiện phát triển những dự án chung về cung cấp năng lượng cho toàn khu vực, như đường ống khí xuyên Á; 4-Giảm thiểu những bất đồng giữa các quốc gia có thể ảnh hưởng đến an ninh năng lượng khu vực, xây dựng lòng tin giữa các nước trong khu vực, tăng cường đối thoại giữa các nước tranh chấp về các khu vực trên đường vận chuyển dầu[2]. Những vấn đề về năng lượng 1. Nguy cơ thiếu hụt năng lượng Trong thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, nguồn năng lượng từ thủy điện đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng và sản xuất nhưng đến năm 2030, Việt Nam sẽ không còn tiềm năng thủy điện lớn vì đã khai thác hết. Trữ lượng than đá cũng đang cạn dần.

Năm 2015, khả năng khai thác than đá đáp ứng từ 96%-100% nhu cầu sử dụng. Năm 2020, khả năng khai thác chỉ đáp ứng 60% và đến năm 2035, tỷ lệ này chỉ còn 34%[3]. Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến 2030 thì vào năm 2020, Việt Nam nhập khẩu hơn 2.300 MW điện ( chiếm 3,1% tổng cơ cấu năng lượng điện), năm 2030 sẽ nhập 7.9% tổng cơ cấu năng lượng điện) [3]. 8 HVTH: NGUYỄN VĂN HOÀNG GVHD: PGS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ