Mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan về bê tông xi măng sử dụng tro bay và các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng xây dựng mặt đƣờng bê tông xi măng - Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng mặt đƣờng và nguồn vật liệu trong xây dựng mặt đƣờng BTXM tại Trà Vinh - Chƣơng 3: Nghiên cứu thực nghiệm sử dụng tro bay để chế tạo bê tông xi măng làm mặt đƣờng ô tô - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG XI MĂNG TRO BAY VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG MẶT ĐƢỜNG BÊ TÔNG XI MĂNG 1. Tổng quan về bê tông xi măng. Bê tông xi măng là một loại đá nhân tạo, đƣợc hình thành bởi việc trộn các thành phần: Cốt liệu thô, cốt liệu mịn, chất kết dính,. theo một tỷ lệ nhất định (đƣợc gọi là cấp phối bê tông).
Trong bê tông, chất kết dính (xi măng + nƣớc, phụ gia.) làm vai trò liên kết các cốt liệu thô (đá, sỏi,.đôi khi sử dụng vật liệu tổng hợp trong bê tông nhẹ) và cốt liệu mịn (thƣờng là cát, đá mạt, đá xay,.) và khi đóng rắn, làm cho tất cả thành một khối cứng nhƣ đá. Hỗn hợp các nguyên kiệu kể trên (Xi măng, nƣớc, cốt liệu, phụ gia) mới nhào trộn để đồng nhất nhƣng chƣa rắn chắc gọi là hỗn hợp bê tông hay bê tông tƣơi. Trong bê tông, cốt liệu đóng vai trò là bộ khung chịu lực, hồ xi măng (xi măng và nƣớc) bao bọc xung quanh các hạt cốt liệu đóng vai trò là chất bôi trơn đồng thời lấp đầy các khoảng trống giữa các hạt cốt liệu. Trong quá trình đông kết và phát triển cƣờng độ của hồ xi măng, nó sẽ gắn kết các hạt cốt liệu thành một khối tƣơng đối đồng nhất gọi là bê tông xi măng.
Những chất phụ gia đƣa vào hỗn hợp BTXM nhằm mục đích cải thiện một số tính chất của hỗn hợp BTXM nhƣ tăng tính lƣu động của hỗn hợp BTXM, điều chỉnh thời gian ninh kết, tăng cƣờng độ, nâng cao tính chống thấm…. Về sức bền vật lý, BTXM chịu lực nén khá tốt nhƣng khả năng chịu lực kéo không tốt lắm. Vì vậy, trong xây dựng các công trình, các vật liệu chịu lực kéo tốt (ví dụ thép) đƣợc sắp xếp để đƣa vào trong lòng khối BTXM, đóng vai trò là bộ khung chịu lực nhằm cải thiện khả năng chịu kéo của BTXM. Loại BTXM có phần lõi thép này đƣợc gọi là BTXM cốt thép.
Các tác động khác nhƣ đóng băng hay nƣớc ngấm vào trong BTXM cũng có thể gây ra hƣ hại cho loại vật liệu này. BTXM đƣợc sử dụng rộng rãi trong xây dựng các công trình kiến trúc, móng, gạch không nung hay gạch block, mặt lát của vỉa hè, cầu và cầu vƣợt, đƣờng lộ, đƣờng băng, các cấu trúc trong bãi đỗ xe, đập, hồ chứa/bể chứa nƣớc, ống cống, chân cột cho các cổng, hàng rào, cột điện và thậm chí là thuyền. Một số công trình kiến trúc làm bằng bê tông nổi tiếng có thể kể đến nhƣ Burj Khalifa (tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới), đập 2 Hoover, kênh đào Panama và Đền Pantheon. Kỹ thuật chế tạo và sử dụng BTXM xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và đƣợc sử dụng rộng rãi trong suốt giai đoạn tồn tại của Đế quốc La Mã.
Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, kỹ thuật sử dụng BTXM cũng bị mai một cho đến khi đƣợc tái khám phá vào giữa thế kỷ 18. Việc sản xuất và sử dụng BTXM có nhiều tác động khác nhau đến môi trƣờng và nhìn chung cũng không hoàn toàn là tiêu cực nhƣ nhiều ngƣời nghĩ. Mặc dù sản xuất BTXM đóng góp đáng kể vào việc sản sinh khí nhà kính, việc tái sử dụng bê tông lại rất phổ biến đối với các công trình quá cũ và quá giới hạn tuổi thọ. Những kết cấu BTXM rất bền và có tuổi thọ rất cao.
Đồng thời, do khối lƣợng tác dụng nhiệt cao và độ thẩm rất kém, BTXM cũng là một vật liệu dùng cho nhà ở tiết kiệm năng lƣợng. Các lý thuyết về cấp phối BTXM 1. Lý thuyết cấp phối cốt liệu lý tƣởng Fuller Cấp phối cốt liệu đƣợc định nghĩa là mối quan hệ giữa kích cỡ sàng tiêu chuẩn Xi và tổng lƣợng lọt qua sàng này Yi. Mối quan hệ này tính toán công thức hay biểu đồ.
Tối ƣu hóa cấp phối cốt liệu có nghĩa là dùng đƣờng cong cấp phối lý tƣờng thì cho một hỗn hợp cốt liệu có độ đặc tốt. Đƣờng cong Fuller đƣợc biểu thị bằng công thức toán học sau: Y = 100.1) Trong đó: Y : lƣợng lọt sàng lý tƣởng (lý thuyết) : kích cỡ lớn nhất cốt liệu, mm (điểm kết thúc đƣờng cong lý tƣởng). Đƣờng cong lý tƣởng đƣợc tính toán bất đầu từ điểm ( vì các loại hạt nhỏ hơn = 0.075mm đƣợc gọi là bột. Do đó để tính toán giá trị này đƣờng cong lý tƣởng Fuller có dạng: Y =T (1.2) Trong đó: T là hệ số phụ thuộc vào kích cỡ lớn nhất của cốt liệu và phải quan tâm rằng độ cong đƣờng cong Fuller có thể thay đổi phụ thuộc vào loại cốt liệu.
Hay nói cách khác đƣờng cong Fuller cho kết quả tốt thì hỗn hợp bê tông có tính cứng tốt. Độ cong của đƣờng cong lý tƣởng Fuller phụ thuộc vào thành phần của bê tông và loại cốt liệu Y = (1.3) 3 Trong đó: Y : độ cong của đƣờng cong lý tƣởng : hệ số, phụ thuộc kích cỡ N: Hệ số thực nghiệm lấy: 0.3 Về lý thuyết ta có thể đạt đƣợc cấp phối lý tƣởng khi lựa chọn một tỷ lệ hợp lý hỗn hợp cốt liệu, tuy nhiên cách này thì khó khăn và không kinh tế. Thực nghiệm ta chuẩn bị sẵn các loại cốt liệu mịn và cốt liệu thô với các cấp phối tỷ lệ khác nhau để pha trộn cho một độ đặc hợp lý và có hiệu quả kinh tế cao. Lý thuyết cấp phối hạt của B.
Ivanov Dựa trên cơ sở thực nghiệm, B.Okhotina đã xác định đƣợc những đặc điểm cơ bản sau: a) Độ rỗng của các cấp phối làm bằng một thành phần hạt (ví dụ cát và đá dăm), trong đó các hạt có kích cỡ gần nhau và chênh lệch nhau 2 lần, sẽ nhƣ nhau khi tỷ lệ khối lƣợng của các loại hạt trong cấp phối bằng nhau. Nói một cách khác, khi cùng tăng hoặc cùng giảm kích thƣớc của tất cả các loại hạt với số lần nhƣ nhau, thì độ rỗng sẽ không thay đổi. b) Độ rỗng của cấp phối sẽ nhỏ nhất, nếu kích thƣớc các loại hạt trên chèn vào lỗ rỗng của các loại hạt to hơn lần lƣợt giảm đi 16 lẩn và khối lƣợng của các hạt sau (nhỏ hơn) bằng 43% khối lƣợng của các loại hạt trƣớc (lớn hơn). Nhƣ vậy có nghĩa là: Nếu hạt to có kích thƣớc 16÷32mm, thì các loại hạt sau có kích thƣớc lần lƣợt là 1÷2; 0.008mm và khối lƣợng của hạt 1÷2mm bằng 43% khối lƣợng của hạt 16÷32mm, khối lƣợng của hạt 0.12mm bằng 43% khối lƣợng hạt 1÷2mm, và cứ tiếp tục thế, … c) Khi chọn một cấp phối có các loại hạt có kích thƣớc chênh nhau 1/8, 1/4 và 1/2 lần, thì độ rỗng của cấp phối sẽ lớn hơn và khối lƣợng của vật liệu hạt nhỏ chèn vào sẽ tăng lên.
Nhƣ vậy, khi chèn vào lỗ rỗng bằng những loại hạt lần lƣợt nhỏ đi 8 lần, 4 lần và 2 lần, thì để cấp phối có độ chặt lớn nhất khối lƣợng của các loại hạt sau (nhỏ hơn) lần lƣợt phải bằng 55%, 66% và 81% khối lƣợng của loại hạt trƣớc (to hơn). d) Nếu ta trộn thêm vào cấp phối trên (theo b,c) bất kỳ loại hạt trung gian nào, thì độ rỗng sẽ tăng lên. Nhƣng nếu trộn thêm vào cấp phối loại vật liệu mà thành phần và tỉ lệ khối lƣợng các loại hạt giống nhau nhƣ cấp phối đó, thì độ rỗng của nó sẽ không thay đổi. e) Từ mục b, c có thể dễ dàng thấy rằng: Các loại hạt có kích thƣớc chênh nhau 16 4 lần và 4 lần, thì tỉ lệ khối lƣợng là 0.
Nhƣ vậy, nếu các loại hạt chênh nhau 2 lần, thì tỉ lệ khối lƣợng của chúng sẽ là √ = 0. Gọi k là trị số % này, k biểu thị tỷ lệ khối lƣợng giảm dần của các loại hạt, nên gọi là hệ số khối lƣợng giảm dần. Nếu cấp phối mà các loại hạt có kích thƣớc chênh nhau 16 lần và k=0.5, thì cấp phối mà các loại hạt có kích thƣớc chênh nhau 2 lần: k= √ ;√ ;√ 7;0.84 Tác giả Ivanov đã áp dụng phạm vi của hệ số k trên vào việc chọn thành phần cấp phối hạt của bê tông asphalt, thấy rằng độ rỗng chỉ thay đổi tối đa 1. Nếu mở rộng thêm k = 0.9, thì độ rỗng chỉ thay đổi khoảng tối đa 2%.
Dựa vào nguyên tắc đó và dựa vào thí nghiệm, giáo sƣ Ivanov đã định ra đƣờng cong nằm trong phạm vi giới hạn của cấp phối. Bất kỳ một cấp phối nào có đƣờng cong nằm trong phạm vi giới hạn đó có độ chặt tƣơng đối lớn. Qua nhiều lần thí nghiệm, đã xác nhận rằng: Nói chung, tất cả các đƣờng cong của cấp phối đất, đá hay cấp phối bê tông asphalt hay BTXM nằm trong phạm vi của đƣờng cong giới hạn đều cho kết quả tốt. Lý thuyết cấp phối hạt của Bolomey Bolomey đã nhận thấy rằng các hỗn hợp đạt đƣợc bằng phƣơng pháp Fuller cho hỗn hợp bê tông có tính công tác tƣơng đối thấp, ông đề nghị một sự thay đổi đối với parabol của Fuller nhƣ sau: P = f +(1 - f) (1.4) Trong đó: f là một hằng số kinh nghiệm Các kí hiệu khác có cùng ý nghĩa nhƣ trên.
Giá trị f đƣợc chọn phụ thuộc tính dễ đổ và hàm lƣợng các hạt nhỏ. Phƣơng trình trên có thể áp dụng bình thƣờng cho tất cả các vật liệu rắn tạo nên hỗn hợp. Nhƣng trên thực tế, đƣờng cong thành phần hạt của xi măng là không biến đổi. Bolomey cũng chỉ áp dụng quan hệ này cho các hạt lớn hơn 0.
Lý thuyết cấp phối hạt của Talbot Theo sự nghiên cứu của Talbot, nếu cấp phối phù hợp với công thức sau thì đạt đƣợc độ chặt lớn nhất: P= x 100 (1.5) 5 Trong đó: P - Lƣợng lọt qua lỗ sàng, % d - Kích thƣớc lỗ sàng. D - Kích thƣớc của hạt lớn nhất. n – Hệ số, thông thƣờng n = 0. Lý thuyết cấp phối lý tƣởng của Fuller- Thompson Bằng nghiên cứu thực nghiệm, Fuller-Thompson đã đi đến kết luận tồn tại một số đƣờng cong thành phần hạt lý tƣởng.