Mở đầu. ✓ Chương 2: Cơ sở lý thuyết về vận hành lưới phân phối. ✓ Chương 3: Giới thiệu phần mềm PSS/ADEPT 5. ✓ Chương 4: Nghiên cứu và đề xuất phương thức vận hành lưới điện phân phối quận Thủ Đức.
✓ Chương 5: Kết luận và hướng nghiên cứu phát triển. Tài liệu tham khảo HVTH: Trần Ngọc Sơn Trang 3/110 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 2. Đặc điểm của lưới điện phân phối Lưới điện phân phối có đặc điểm về thiết kế và vận hành khác với lưới điện truyền tải.
Mạng phân phối phân bố trên diện rộng, thường vận hành không đối xứng, có tổn thất khá lớn và có cấu trúc hình tia hoặc dạng mạch vòng nhưng vận hành trong trạng thái hở. Hệ thống điện phân phối là hệ thống điện bao gồm lưới điện phân phối và các nhà máy điện đấu nối vào lưới điện phân phối. Đường dây phân phối là đường dây cấp trung áp có cấp điện áp từ 35kV trở xuống (6kV, 10kV, 15kV, 22kV). Đường dây phân phối gồm phát tuyến chính được cung cấp từ phía hạ áp của trạm biến áp phân phối 110/22kV hay 110/15kV (gọi là lộ ra) và các đường dây nhánh lấy điện từ phát tuyến chính.
Các đường dây và trạm biến áp có điện áp 110kV, 22kV, 15kV, 10kV, 6kV có chức năng phân phối điện. Phụ tải được cung cấp qua máy biến áp phân phối hạ áp để cung cấp cho mạng phân phối thứ cấp có điện áp từ 110 – 660V để cung cấp cho khách hàng sử dụng điện. Máy biến áp phân phối hạ áp thường có dạng trạm treo, trạm giàn, trạm nền, trạm đơn thân, trạm ngồi hay phòng biến điện. Điện áp máy biến áp phân phối hạ thế là 15 kV hay 22/0,4kV.
Mạng điện phân phối thứ cấp và sơ cấp phải phân phối đến tận nơi tiêu thụ nên có tổng chiều dài lớn hơn mạng truyền tải. Đường dây phân phối được bảo vệ bằng máy cắt đầu nguồn, thiết bị tự đóng lại (Recsoler), cầu chì tự rơi (FCO) hoặc dao cắt có tải (LBFCO) và được phân đoạn HVTH: Trần Ngọc Sơn Trang 4/110 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh bằng cầu dao phân đoạn (DS) để thuận tiện cho việc sửa chữa, bảo trì hay chuyển tải, đóng kết mạch vòng. Trong mạng lưới phân phối vấn đề chất lượng điện năng phải được đặt lên hàng đầu, đặc biệt khi cung cấp điện cho các phụ tải có yêu cầu về độ ổn định, liên tục cao.
Vì thế khi thiết kế đường dây phân phối yêu cầu phải tính toán độ sụt áp cho phép, khả năng kết nối mạch vòng,… 2. Tổn thất điện năng trong lưới điện phân phối 2. Định nghĩa Tổn thất điện năng (TTĐN) trong lưới điện phân phối (LĐPP) là giá trị chênh lệch giữa lượng điện năng sản xuất từ nguồn điện và lượng điện năng tiêu thụ phụ tải trong khoảng thời gian khảo sát. Khoảng thời gian khảo sát thường là một ngày, một tháng hoặc một năm tùy thuộc mục đích hoặc công cụ xác định TTĐN.
TTĐN xác định bằng cách đo lường sử dụng điện năng kế hoặc tính toán theo biểu thức (2.1) Ở đây: ∆A là TTĐN trong khoảng thời gian khảo sát; T là khoảng thời gian khảo sát; ∆P(t) là hàm tổn thất công suất theo t. TTĐN trong lưới điện phân phối nhỏ hơn 10% được coi là chấp nhận được. Phân loại TTĐN trên lưới điện phân phối được phân thành hai loại là TTĐN kỹ thuật và TTĐN phi kỹ thuật. TTĐN kỹ thuật (TTĐNKT) - TTĐNKT phụ thuộc vào dòng điện: là tổn thất do phát nóng trong các phần tử có tải dòng điện, phụ thuộc vào cường độ dòng điện và điện trở tác dụng của phần tử; HVTH: Trần Ngọc Sơn Trang 5/110 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.
Quyền Huy Ánh - TTĐNKT phụ thuộc vào điện áp: bao gồm tổn thất không tải của máy biến áp (MBA), tổn thất vầng quang điện, tổn thất do rò điện (cách điện không tốt), tổn thất trong mạch từ của các thiết bị đo lường; - TTĐNKT do chất lượng điện năng không đạt yêu cầu; - TTĐNKT do thiết kế và vận hành lưới điện phân phối không hợp lý. TTĐN phi kỹ thuật (TTĐNPKT) TTĐNPKT xuất phát từ vấn đề quản lý lưới điện phân phối và quản lý kinh doanh như: TTĐN do không được đo, điện năng không được vào hóa đơn, không được trả tiền hoặc chậm trả tiền. Nguyên nhân của tổn thất điện năng 1. Tổn thất điện năng phụ thuộc dòng điện TTĐN phụ thuộc dòng điện do phát nhiệt trên điện trở của dây/cáp, của MBA lực, thanh góp,.
trong lưới điện phân phối. Tổn thất điện năng phụ thuộc điện áp Tổn thất điện năng phụ thuộc điện áp bao gồm: Tổn thất do vầng quang điện, Tổn thất trong lõi thép máy biến áp,. Tổn thất điện năng do chất lượng điện năng Tổn thất điện năng do chất lượng điện năng bao gồm: Tổn thất do tải không đối xứng, tổn thất do méo dạng sóng điện áp và sóng dòng điện gây ra bởi sóng hài,. Tổn thất điện năng do thiết kế vận hành hệ thống điện Tổn thất điện năng do thiết kế vận hành hệ thống điện như: Dự báo thiếu chính xác nhu cầu phụ tải dẫn đến thiết kế lưới điện không hợp lý (tiết diện dây dẫn, số lượng và công suất MBA), phân bố nguồn không hợp lý dẫn đến tăng khoảng cách truyền tải, lựa chọn cấp điện áp vận hành không hợp lý, thiếu các biện pháp quản lý hộ tiêu thụ điện (DSM-Demand System Management); lựa chọn cấu hình lưới không phù hợp; phân bố công suất tác dụng và công suất phản kháng không hợp lý trên lưới điện phân phối, không sử dụng các giải pháp điều chỉnh điện áp hiệu quả ,.
HVTH: Trần Ngọc Sơn Trang 6/110 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh 2. Các biện pháp giảm tổn thất điện năng TTĐN là vấn đề kinh tế. Việc quyết định thực hiện một giải pháp giảm TTĐN dựa trên việc cân nhắc giữa lợi ích thu được nhờ giảm TTĐN và chi phí cho giải pháp đó.
Tối ưu hóa tái cấu trúc lưới điện Phụ tải liên tục thay đổi là động lực chính của các bài toán kinh tế - kỹ thuật trong vận hành HTĐ. Khi phụ tải thay đổi, trào lưu công suất trên lưới điện cũng sẽ thay đổi. Do đó, ngoài những điều kiện về kỹ thuật phải đảm bảo như cân bằng công suất, đảm bảo khả năng tải và ổn định điện áp, một yêu cầu đặt ra là phải lựa chọn một phương thức vận hành lưới điện (tương ứng một dạng sơ đồ lưới điện) sao cho cực tiểu hóa tổn thất công suất trên hệ thống. Mô hình toán của bài toán tái cấu trúc tối ưu lưới phân phối điện có dạng [13] trong đó biến là các dòng điện nhánh.2) 𝐿=1 Các ràng buộc: k l |Il | ≤ Ilmax, (I ∈ NL) Giới hạn khả năng tải của nhánh Uimin ≤ Ui ≤ Uimax (I ∈ N) Mô tả yêu cầu giới hạn điện áp nút g i (l, k) = 0 Mô tả cân bằng dòng điện theo ĐL Kirchhoff 1 g i (V, k) = 0 Mô tả cân bằng điện áp theo ĐL Kirchhoff 2 φ(k) = 0 Mô tả yêu cầu hình dạng lưới điện phải là hình tia Ở đây: Il là dòng điện trên nhánh l; R l− Là điện trở nhánh l; Ui− Là điện áp nút l; K l là biến trạng thái của nhánh l; 𝑘𝑙1 𝑛ℎá𝑛ℎ 𝑐ó 𝑛ố𝑖, 𝑘0 𝑛ℎá𝑛ℎ ℎở, N là số nút; NL là số nhánh; Điều kiện: - Không có nút bị tách rời (mọi nút phải nối vào một vài nhánh nào đó) - Quan hệ giữa số nhánh và số nút: K l NL = N − 1 2.
Bù công suất phản kháng trong vận hành HTĐ HVTH: Trần Ngọc Sơn Trang 7/110 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh Nhu cầu CSPK trong HTĐ rất lớn mặc dù nó không sinh công. Đó là do tác dụng của việc tải tiêu thụ điện năng xoay chiều. Các phụ tải chính trong HTĐ gồm động cơ điện (70-75%), MBA (20-25%) và các đường dây (khoảng 5%).
Trong đó nhu cầu CSPK chủ yếu (động cơ điện và các MBA của phụ tải) nẳm ở phụ tải của HTĐ như các phụ tải công nghiệp, phụ tải nông nghiệp, phụ tải thương mại dịch vụ. Nhu cầu CSPK liên tục thay đổi theo thời gian. Để đáp ứng nhu cầu này, có thể cấp CSPK từ phía phụ tải hoặc từ phía HTĐ. + Bù CSPK do phía phụ tải thực hiện là bù cưỡng bức theo yêu cầu của bên cung cấp điện thông qua quản lý hệ số công suất cosφ phụ tải.
Phụ tải được yêu cầu tăng hệ số cosφ đến một mức nhất định bằng cách đặt bù CSPK Q b phía phụ tải.3) √𝑃𝑡2 +(𝑄𝑡 −𝑄𝑏 )2 Thì lượng CSPK từ HTĐ cấp điện phụ tải sẽ giảm. Điều này không những giảm áp lực cấp CSPK từ HTĐ, tăng khả năng tải CSTD cho HTĐ, mà còn làm giảm tổn thất công suất trên lưới điện. Pt2 + (Q t − Q b )2 Pt2 ∆PL =. (cosφt )2 L + CSPK cấp từ phía HTĐ có thể từ các nguồn điện (thường rất hạn chế vì lý do vận hành kinh tế hệ thống điện), từ đường dây từ việc đặt bù CSPK.
Có hai loại bù CSPK trên HTĐ. Bù kỹ thuật nhằm đảm bảo cân bằng công suất phản kháng trong HTĐ: Bù kỹ thuật thường đặt tập trung trên lưới truyền tải, tại các nút thiếu CSPK (điện áp thấp) hoặc nơi dễ điều chỉnh điện áp. Bù kinh tế là sự bổ sung cho bù kỹ thuật, thường áp dụng ở lưới phân phối khi lợi ích mang lại lớm hơn chi phí cho thiết bị bù. Đối với lưới phân phối, lợi ích chính là giảm TTĐN trên lưới điện.
- Bài toán bù kinh tế để giảm TTĐN trong lưới phân phối điện nhằm xác định vị trí, dung lượng và chế độ làm việc của tụ bù CSPK sao cho hàm mục tiêu nhỏ nhất. Hàm mục tiêu là tổng đại số các lợi ích và các chi phí khi đặt thiết bị bù: HVTH: Trần Ngọc Sơn Trang 8/110 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh f = B∆A + B∆P + BBATG + BHT − Cb − C∆Ab = f(Q b ) => Min (2.