Mở đầu. Chƣơng 1: Tổng quan về mạng lƣới phân phối và thiết bị bù công suất phản kháng. Chƣơng 2: Các phƣơng pháp xác định dung lƣợng vị trí thiết bị bù công suất phản kháng trong lƣới phân phối. Chƣơng 3: Xây dựng mô hình tính toán bù công suất phản kháng trong lƣới phân phối.
Chƣơng 4: Xác định vị trí bù tối ƣu trên tuyến 480LX lƣới phân phối 22kV thuộc Điện lực Thoại Sơn - Công ty Điện lực An Giang bằng phần mềm PSS/ADEPT 5. Chƣơng 5: Khảo sát ảnh hƣởng của thiết bị bù đến vận hành lƣới điện phân phối. Chƣơng 6: Kết luận và hƣớng nghiên cứu phát triển. Tài liệu tham khảo HVTH: Nguyễn Phước Lộc 3 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.
Quyền Huy Ánh CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MẠNG LƢỚI PHÂN PHỐI VÀ THIẾT BỊ BÙ CÔNG SUẤT PHẢN KHÁNG 1. Lƣới phân phối 1. Vai trò của lƣới phân phối Lƣới phân phối thực hiện nhiệm vụ phân phối điện cho một địa phƣơng (thành phố, quận, huyện …v.v), có bán kính cung cấp điện nhỏ (thƣờng dƣới 50 km). Lƣới phân phối nhận điện từ các trạm phân phối khu vực (trạm trung gian), gồm: - Lƣới điện có các cấp điện áp 110/35 kV; 110/22 kV; 110/10kV; 110/6 kV.
- Lƣới điện có các cấp điện áp 35/22 kV; 35/10 kV; 35/6 kV Phƣơng thức cung cấp điện của lƣới phân phối thƣờng có hai dạng: phân phối theo một cấp điện áp trung áp và phân phối theo hai cấp điện áp trung áp.1 Phân phối theo một cấp điện áp trung áp (Hình 1-1) Trạm nguồn có thể là trạm tăng áp của các nhà máy địa phƣơng hoặc trạm phân phối khu vực có các dạng CA/TA (110/35-22-10-6 kV) Trạm phân phối nhận điện từ trạm nguồn qua lƣới trung áp, sau đó điện năng đƣợc phân phối tới các hộ phụ tải qua mạng điện hạ áp, có dạng TA/HA (35- 22-10-6/0.4 kV) Mạng trung áp Mạng hạ áp Mạng trung áp Trạm phân phối Mạng hạ áp (Trạm nguồn) (Hộ phụ tải) Hình 1-1. Phân phối theo một cấp điện áp trung áp HVTH: Nguyễn Phước Lộc 4 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh 1.2 Phân phối theo hai cấp điện áp trung áp (Hình 1-2) Mạng phân phối 1 và phân phối 2 Trạm Trạm phân Hộ phụ tải nguồn phối hạ áp Trạm phân phối trung Mạng phân phối 1 gian Mạng phân phối 2 Mạng hạ áp Hình 1-2. Phân phối theo hai cấp điện áp trung áp Trạm nguồn là trạm tăng áp của các nhà máy điện địa phƣơng hoặc trạm phân phối khu vực, thƣờng có các dạng CA/TA (110/35 kV) hoặc TA1/TA2 (35/22- 10-6 kV).
Trạm phân phối trung gian có dạng TA1/TA2 (35/22-10-6 kV). Trạm phân phối hạ áp có dạng TA/HA (22-10-6/0. Kết cấu lƣới phân phối có ảnh hƣởng rất lớn tới các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của toàn hệ thống điện nhƣ: Độ tin cậy cung cấp điện. Độ dao động điện áp tại các hộ phụ tải.
Tổn thất điện năng: ở lƣới phân phối thƣờng gấp 3 tới 4 lần ở lƣới truyền tải. Chi phí đầu tƣ xây dựng: chi phí đầu tƣ xây dựng ở lƣới phân phối thƣờng từ 1.5 lần so với lƣới truyền tải. Xác suất ngừng cung cấp điện: xác suất ngừng cung cấp điện ở lƣới phân phối thƣờng lớn hơn nhiều lần ở lƣới truyền tải do kết cấu lƣới phân phối rất phức tạp. Đặc điểm chung của lƣới phân phối Lƣới phân phối có một số đặc điểm chung nhƣ sau: Phụ tải của lƣới phân phối đa dạng và phức tạp.
HVTH: Nguyễn Phước Lộc 5 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh Lƣới phân phối thƣờng có dạng hình tia. Chế độ vận hành bình thƣờng của lƣới phân phối là vận hành hở. Để tăng cƣờng độ tin cậy cung cấp điện ngƣời ta có thể sử dụng cấu trúc mạch vòng nhƣng thƣờng vận hành ở chế độ hở.
Trong mạch vòng các đƣờng dây thƣờng đƣợc liên kết với nhau bằng dao cách ly, hoặc máy cắt điện. Các thiết bị này vận hành ở vị trí mở. Khi cần sửa chữa hoặc sự cố thì việc cung cấp điện không bị gián đoạn lâu dài nhờ việc chuyển đổi phƣơng thức cung cấp điện. So với mạng hình tia, mạng mạch vòng có chất lƣợng điện tốt hơn.
Tuy nhiên, mạch vòng lại tồn tại nhiều vấn đề phức tạp về bảo vệ rơle và hiệu quả khai thác mạch vòng kín so với mạch hình tia thấp hơn với cùng lƣợng vốn đầu tƣ. Trong những năm gần đây, do sự phát triển nhanh chóng các thiết bị có công nghệ cao và các thiết bị tự động, việc giảm bán kính cung cấp điện – tăng tiết diện dẫn và bù công suất phản kháng nên chất lƣợng điện năng trong mạng hình tia đã đƣợc cải thiện đáng kể. Kết quả của các công trình nghiên cứu và thống kê từ thực tế vận hành cho thấy rằng hiện nay lƣới phân phối hình tia vẫn còn đƣợc sử dụng phổ biến. Hiện trạng bù công suất phản kháng trong lƣới phân phối 1.
Tình hình bù công suất phản kháng ở nƣớc ta Sơ đồ mạng điện ở các địa phƣơng có dạng nhƣ trên Hình 1-3. Nguồn cấp là từ thanh cái trạm 110 kV, 220 kV hay thanh cái phía cao áp của nhà máy điện bằng đƣờng dây tải điện theo cơ cấu mạch vòng hay hình tia dẫn điện đến khu vực phụ tải điện áp đƣợc hạ xuống 35 kV, 22 kV hay 10 kV, 6 kV. Nếu là 35 kV thì tồn tại các đƣờng dây 35 kV đi sâu tới phụ tải hơn và tại đó hạ xuống 22kV, 10 kV hay 6 kV. Từ thanh cái 22 kV, 10 kV, 6 kV hình thành các đƣờng dây phân phối hình tia, cũng có thể là mạch vòng nhƣng khi vận hành vẫn để ở chế độ hình tia.
Từ các đƣờng dây này theo điểm phụ tải đấu đến các máy biến áp hạ xuống điện áp hạ thế 400/240V để cấp điện cho các phụ tải hạ thế. Sau trạm hạ áp hình thành các đƣờng dây hạ thế có cấu trúc hình tia dẫn điện đến từng hộ tiêu thụ. HVTH: Nguyễn Phước Lộc 6 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh Hình 1-3 Sơ đồ lƣới điện phân phối hiện nay Trong sơ đồ cấp điện nêu trên, hệ số công suất cosφ và bù công suất phản kháng đƣợc đề cập đến ở từng cấp điện áp.
Qua khảo sát thực tế tại một số Điện lực tỉnh phía nam thuộc Tổng công ty Điện lực Miền Nam, các giá trị cosφ ở các cấp điện áp thể hiện khá rõ nét nhƣ sau: Hiện nay công tác lắp đặt tụ bù của các Đơn vị trong TCT đã thực hiện tƣơng đối tốt, hầu hết hệ số cosφ đầu tuyến trung áp đạt trên 0,95. Tuy nhiên, vẫn còn một số trạm có mức tiêu thụ công suất phản kháng lớn: các trạm thuộc trong khu công nghiệp (Bàu Bèo, Bến Cát, Bình An, Gò Đậu, Mộc Hóa, Đức Hòa, Tân An, Mỹ Xuân A, Tân Uyên). Song song đó, vẫn có những thời điểm bù dƣ lên lƣới 110kV thông qua ngăn lộ tổng 22kV vào các thời điểm thấp điểm, điều này thể hiện việc vận hành không hợp lý về thời gian của các tụ bù 22kV của các TBA 110kV. Việc này gây tổn thất điện năng cho MBA 110kV và các đƣờng dây 110kV liên quan.
Tại các điểm giao nhận điện 110kV với các nhà máy điện, Công ty Truyền tải điện 4 và HCM PC: hiện tại hệ số cosφ tại ngăn lộ 110kV ranh giới với các nhà máy điện, Công ty TTĐ4 đều dao động từ 0,9 ÷ 1; công suất phản kháng nhận từ các TBA 220kV và NMĐ thấp. Riêng NMĐ Thác Mơ nhận Q từ lƣới 110kV qua tuyến đƣờng dây Phƣớc Long- Thác Mơ cao (7 ÷ 10MVAR); công suất Q trên các đƣờng dây cấp điện cho các TBA 110kV nằm trong khu công nghiệp thƣờng rất cao (10 ÷ 20MVAR). HVTH: Nguyễn Phước Lộc 7 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh Tại cuối các nhánh đƣờng dây cấp 22kV giá trị cosφ không còn cao nữa.
Các máy biến áp hạ áp 22kV xuống 0,4 kV trong nhiều trƣờng hợp vận hành non tải nên giá trị cosφ đầu ra đƣờng dây điện hạ thế bị tụt xuống. Và xa hơn nữa tại đầu vào của các hộ phụ tải điện áp hạ thế 0,4 kV giá trị cosφ khá thấp do chính các phụ tải điện (đồ điện) nhƣ quạt, điều hoà nhiệt độ, đèn huỳnh quang, tủ lạnh,. có giá trị cosφ thấp, tiêu thụ nhiều công suất phản kháng. Từ cuối các nhánh đƣờng dây cấp 22kV và toàn bộ phía hạ thế do Điện lực quản lý, họ chủ yếu quan tâm đến cung cấp điện liên tục và thu tiền điện, ít quan tâm đến chất lƣợng điện áp.
Thực tế là do các giá trị cosφ từ cuối các nhánh đƣờng dây cấp 22kV và toàn bộ phía hạ thế thấp dẫn đến phải tải công suất phản kháng để đáp ứng cho nhu cầu phụ tải. Điều đó dẫn đến tổn thất công suất trên các đƣờng dây lớn, tổn thất điện áp lớn, làm giảm điện áp tại hộ tiêu thụ, không đảm bảo chất lƣợng điện năng. Các vấn đề trình bày về chất lƣợng điện năng nêu trên nói chung ít đƣợc quán triệt ở các Công ty Điện lực, nên vấn đề bù công suất phản kháng rất ít đƣợc quan tâm. Chỉ một vài Công ty Điện lực các lãnh đạo quan tâm tới vấn đề này thì công việc bù công suất phản kháng có đƣợc thực thi tốt hơn, tuy nhiên chƣa triệt để; còn đại bộ phận các Điện lực tỉnh việc quan tâm đến vấn đề bù công suất phản kháng là rất ít, và không quan tâm việc chất lƣợng điện năng khi có hiện tƣợng bù thừa trên lƣới phân phối.
Các xí nghiệp sử dụng điện công suất lớn, điện áp trung-cao thế có hệ số công suất cosφ thấp dƣới 0,85 thƣờng tiến hành lắp đặt tụ bù để tránh việc mua công suất phản kháng theo Thông tƣ 07/2006/TT-BCN ngày 27/6/2006. Các khu cơ quan hành chính, khu dân cƣ hầu nhƣ không hề đề cập đến bù công suất phản kháng vì ý thức và quan trọng hơn cả là họ không phải đóng tiền tiêu thụ công suất phản kháng mà chỉ đóng tiền điện qua công tơ điện, tức là chỉ đóng tiền điện tiêu thụ công suất tác dụng. Các nhận xét chung nêu trên về cosφ và bù công suất phản kháng nêu trên đƣợc thể hiện cụ thể qua điều tra thực tế. Đề tài tiến hành khảo sát tình hình cosφ và bù công suất phản kháng trên lƣới phân phối tại Công ty Điện Lực An Giang.
HVTH: Nguyễn Phước Lộc 8 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh 1.